Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #80 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2011, 10:03:15 pm » |
|
Lê Đức Thọ (trái) và H. Kissinger bắt tay sau khi ký Hiệp định Paris “ HIỆP ĐỊNH PA-RI LÀ MỘT THẤT BẠI LỚN ĐỐI VỚI MỸ “ Lê Đức Thọ
Nguyên Ủy viên Bộ chính trị,Trung ương đảng, nguyên trưởng ban tổ chức trung ương. Nguyên cố vấn đặc biệt đoàn đàm phán chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam. Mất ngày 13 tháng 10 năm 1990.
Nhân dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam, tháng 4 năm 1985, đồng chí Lê Đức Thọ đã trả lời phỏng vấn nàh báo I-ca-oa, đặc phái viên báo A-sha-hi Chim-bun ( Nhật Bản ). Đưới đây là trích đăng phần liên quan đến ngoại giao thời kỳ chống Mỹ và đám phán Pa-ri.
Câu hỏi : Thời kỳ nào là khó khăn nhất và nguyên nhân vượt được khó khăn?
Trả lời : Khó khăn nhất là biết mở đầu cuộc chiến tranh và biết kết thúc nó một cách đúng nhất. Khi chúng tôi vừa thắng Pháp xong, thì Mỹ đặt chân can thiệp vào Việt Nam. Bấy giờ mở đầu cuộc chiến tranh vào lúc nào là đúng nhất, và kết thúc nó thì chúng tôi lại qua hai giai đoạn. Hiệp định Pa-ri là một bước kết thúc để đuổi quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Giai đoạn sau là đánh đổ toàn bộ ngụy quyền ở Sài Gòn. Bởi vì chúng tôi biết mở đầu đúng và kết thúc đúng, cho nên chúng tôi mới giành được thắng lợi.
Câu hỏi : Xin ngài cho biết cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 có nhằm mục đích cụ thể là đánh đổ chính quyền Sài Gòn không?
Trả lời : Tết Mậu Thân năm 1968, chúng tôi đánh cả ba vùng chiến lược bằng ba thứ quân. Mở cuộc tấn công vào thành phố , chúng tôi thấy có hai khả năng. Một là có thể địch bị suy sụp rồi tiến hành đàm phán. Hai là, nếu địch chưa suy sụp hẳn, mà bị thiệt hại nặng, thì cũng đi vào đàm phán. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã làm địch thiệt hại rất lớn, làm cho chúng giảm sút ý chí chiến đấu. Và lúc đó chúng tôi chủ động đề xuất vấn đề ngồi vào đàm phán. Đàm phán kéo dài năm năm. Trong quá trình đó chúng tôi tiếp tục đánh và kéo địch xuống thang chiến tranh. Kết cục là giải quyết được vấn đề một cách thắng lợi.
Câu hỏi : Xin ngài cho biết khó khăn nhất trong cuộc đàm phán Pa-ri phản ánh tình hình rất quyết liệt, gay gắt ở chiến trường, cho nên nó kéo dài và rất căng thẳng. Và cái khó khăn nhất ở đó là vấn đề gì?
Trả lời : Có hai vấn đề : Quân sự và chính trị. Về quân sự Mỹ đòi quân đội chúng tôi rút ra khỏi miền Nam Vịêt Nam. Chúng tôi thì đòi Mỹ phải rút quân đội Mỹ và quân đội chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, còn quân đội chúng tôi thì ở lại miền Nam Việt Nam. Về chính trị, chúng tôi đòi Thiệu phải từ chức và tiến hành tổng tuyển cử tự do ở miền Nam Việt Nam. Mỹ thì muốn duy trì Thiệu. Đó là hai vấn đề chính, căng thẳng nhất, còn các điểm khác chỉ là phụ mà thôi. Cuối cùng, chúng tôi Mỹ và các chư hầu của Mỹ phải tôn trọng độc lập, chủ quyền và thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, quân đội Mỹ và các nước chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Đó là Mỹ phỉa nhược bộ và quân đội chúng tôi thì vẫn đóng ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi cho rằng chúng tôi là một dân tộc thống nhất thì quân đội chúng tôi đóng ở nước chúng tôi chứ biết rút đi đâu. Mỹ phải nhược bộ chúng tôi về điểm này là rất căn bản. Vì khi quân đội Mỹ và quân đội chư hầu Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam thì quân đội ngụy không còn chỗ dựa nữa. Đó là một sự thay đổi về căn bản so với lực lượng. Thấy quân đội Mỹ của Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, còn quân đội miền Bắc vẫn còn ở lại, Nguyễn Văn Thiệu rất bực. Thiệu nói là quân đội Ngụy mất phần lớn chỗ dựa của nó rồi! Do Mỹ đã nhượng bộ về quân sự rồi thì về chính trị chúng tôi mềm dẻo. Lúc đó, chúng tôi không đòi Thiệu phải từ chức ngay, mà chúng tôi đòi thực hiện các quyền tự do, dân chủ ở miền Nam Việt Nam và đòi tổng tuyển củ tự do. Chúng tôi cho rằng, dù Thiệu có từ chức và đưa người khác lên thay thì cũng là tay sai của Mỹ. Và nếu so sánh lực lượng quân sự đã thay đổi về căn bản, thì chính quyền của ngụy cũng không thể đứng vững được. Cái khó ở cuộc đàm phán kéo dài như vậy. Cuối cúng chúng tôi đã thắng lợi, tức là đuổi quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh đổ chính quyền ngụy sau này.
Câu hỏi : Người ta nói rằng do có những ngăn trở của Mỹ và Trung Quốc nên có những điều khoản bị ép phải nhược bộ về vấn đề Lào và Campuchia, vậy, thưa ngài có đúng không?
Trả lời: Ông Kít-xinh-giơ đã nói với tôi nhiều lần là giải quyết vấn đề ở Việt Nam thì giải quyết cả vấn đề Lào và Campuchia. Nhưng tôi nói với ông ta rằng cái tên gọi của nó là “ Hiệp định Pa-ri về Việt Nam “ và các bên đều đồng ý ngay từ lúc đầu cuộc đàm phán là hội nghị Pa-ri về Việt Nam chứ không giải quyết vấn đề về Lào và Cam-pu-chia. Cho nên ký hiệp định Pa-ri hoàn toàn về Việt Nam. Còn về Lào thì sau này các bên ở Lào ngồi nói chuyện với nhau để giải quyết. Chúng tôi không giải quyết thay cho Lào được. Và vấn đề Cam-pu-chia cũng vậy...Có thể nói trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ chưa bao giờ Mỹ phải ký một hiệp định như hiệp định Pa-ri. Đó là một thất bại lớn đối với Mỹ.
Câu hỏi : Xin ngài cho biết về chiến dịch Hồ Chí Minh. Do tình hình nào, vào thời điểm nào ban lãnh đạo Việt Nam quyết định đánh đổ chính quyền Sài Gòn bằng biện pháp quân sự?
Trả lời: Trước hết, tôi nói với ông về một vấn đề mà ông Kit-xinh-giơ đã viết trong hồi ký. Chắc ông đã đọc. Trong đàm phán, tôi phân tích tình hình quân sự của Mỹ và của ngụy ở miền Nam Việt Nam. Sau khi tôi phân tích rồi, ông ta đã phải thừa nhận như ông ta viết trong hồi ký, thấy đúng là quân đội Mỹ tiến thoái lưỡng nan. Tôi nói với ông ấy thế này: Mỹ có rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam để thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh thì các ông cũng thất bại mà thôi. Bởi vì Mỹ có một triệu quân ngụy và Mỹ cũng đưa vào gần nửa triệu triệu quân Mỹ, chưa kể phần hải quân và không quân Mỹ mà vẫn không thắng được chúng tôi. Bây giờ quân đội Mỹ và chư hầu của Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, thì một mình quân đội ngụy thực hiện cái các ông bảo là Việt Nam hóa chiến tranh làm sao mà thắng được. Trong hổi ký ông Kít-xing-giơ đã thừa nhận là sự phân tích nói trên của tôi là sâu sắc, đã đâm chúng tim ông ta, làm cho ông ta phải đau đầu. Chúng tôi biết rằng Mỹ - ngụy không bao giờ thi hành hiệp định Pa-ri và chúng tôi có kinh nhiệm về hiệp đinh Giơ-ne-vơ rồi. Quả đúng như vậy, Mỹ tiếp tục giúp ngụy đánh chiếm vùng giải phóng. Cho nên, sau khi ký hiệp định Pa-ri, chúng tôi bắt tay vào chuẩn bị, bởi vì thấy Mỹ và ngụy không thi hành hiệp định Pa-ri. Chúng tôi đã đánh giá đúng tình hình và chúng tôi đã tiến hành một cuộc tổng tấn công một cách táo bạo và thần tốc giải phóng miền Nam Việt Nam trong 55 ngày đêm.
Câu hỏi : Khi đó ngài có tính đến sự can thiệp trở lại của Mỹ không?
Trả lời : Sau khi quân đội Mỹ và quân chư hầu rút khỏi miền Nam Việt Nam rồi, chúng tôi cho rằng Mỹ không thể trở lại được nữa. Vì sự thất bại của Mỹ lớn quá, nhân dân Mỹ không cho phép chính quyền Mỹ đưa quân trở lại bằng bất cứ cách nào, chỉ trừ giúp cho ngụy phần nào về kinh tế và vũ khí. Đã đến lúc Mỹ phải bỏ miền Nam Việt Nam rồi, đã thua phải ra đi thì không thể trở lại. Ông kít-xinh-giơ đã vào Hà Nội và có đi thăm Viện bảo tàng lịch sử của chúng tôi. Tôi chỉ lên bốn câu thơ của Lý Thường Kiệt. Bốn câu thơ đại ý là nước Việt Nam của người Việt Nam, đã phân định rõ ràng, bất cứ một cứ kẻ nào đếm xâm lược cũng sẽ bị đánh bại. Ông Kít-xinh-giơ nói với tôi: “ Đúng như vậy?”. Điều đó chứng tỏ chính ông Kit-xinh-giơ thừa nhận sự thất bại của Mỹ.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Giêng, 2011, 11:03:35 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #81 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2011, 10:29:11 pm » |
|
ĐÂY LÀ MỘT HÀN THỬ BIỂU BÁO THỜI TIẾT CHÍNH TRỊ - QUÂN SỰ LÚC NÀY, ĐẶT NGAY TRONG LÒNG ĐỊCH
...” Gặp anh Trần Văn Trà - Trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự bốn bên vừa ra Hà Nội, tôi được biết thêm về âm mưu, thái độ, thủ đoạn của đối phương ở chiến trường và trên bàn đàm phán ở trại Đa-vít trong sân bay Tân Sơn Nhất.
Anh còn cho biết ngay sau ngày kí hiệp định Pa-ri chúng đã tráo trở ném bom vào sân bay Thiện Ngôn đúng vào giờ và địa điểm chúng hẹn đưa trực thăng đến đón Đoàn đại biểu quân sự của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào Sài Gòn làm việc. Nhờ khôn ngoan và cảnh giác, đoàn ta vẫn an toàn.
Có thể coi đây là trận thắng đầu tiên của ta trước sự phản trắc đê hèn của Mỹ- ngụy. Mặt giáp mặt với kẻ thù, anh đã có những nhận định sâu sắc về so sánh lực lượng giữa ta và địch. Không thể chỉ thấy một số triệu trứng bề ngoài cùng với những hành động quân sự hung hăng, những âm mưu đen tối của Mỹ-ngụy mà cho là chúng mạnh hơn trước khi quân Mỹ rút đi....”
...” Các thành viên hai phái đoàn quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở trại Đa-vít trong sân bay Tân Sơn Nhất cũng cung cấp nhiều tình hình đáng chú ý.
Thái độ ngoan cố ngang ngược của địch giảm dần, tỷ lệ nghịch với đà tiến công và nổi dậy của quân và dân ta.
Không còn những lời nói cục cằn, thô lỗ, những hành động tắt điện, cắt nước. Thay vào đó, đối phương đã hạ giọng...tỏ ra biết điều trong giao tiếp, tìm cách thăm dò thái độ ta, thậm chí ngỏ ý muốn có cuộc nói chuyện để hoãn binh, cố tránh một cuộc tấn công lớn vào Sài Gòn, cứu ngụy quyền khỏi nguy cơ sụp đổ.
Cũng có thể coi đây là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị - quân sự lúc này, đặt ngay trong lòng địch...”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2011, 10:33:41 pm » |
|
THẾ ĐỨNG CÔNG KHAI HIÊN NGANG GIỮA LÒNG ĐỊCH
...” Và ngay tại Tân Sơn Nhất trong những ngày sôi động trên toàn miền Nam. Có một bộ phận các bộ chiến sĩ ta vẫn ở trong đó. Đấy là phái đoàn quân sự của ta trong ban liên hợp quân sự hai bên do thiếu tướng Hồ Xuân Anh ( Tức Hoàng Anh Tuấn ) làm trưởng đoàn. Thông báo tin tức hàng ngày vẫn giữ được đều đặn và trong những ngày đó các đồng chí cũng đoán chắc là ta sắp đánh vào Sài Gòn rồi, mặc dù chúng tôi không điện cho các đồng chí đó biết kế hoạch. Các đồng chí sống giữa vòng vây địch đã gần ba năm, giữ vững lập trường đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù, chấp hành nghiêm túc và nhanh chóng các chỉ thị của cấp trên và cũng kịp thời báo cáo cho chúng tôi những tin tức, dư luận các giới đồng bào, tin tức về địch mà các đồng chí ở đó nắm được bằng nhiều cách, kể cả quan sát bằng mắt thường.
Thấy máy bay địch dồn về Tân Sơn Nhất nhiều quá, đậu gần ngay khu nhà của phái đoàn ở, các đồng chí điện ra đề nghị bắn pháo vào sân bay...”
...” Khu nhà các đồng chí ở do ngụy quyền bố chí, mái tôn, nền đất, tường ván, và chung quanh “ trang trí “ toàn bằng rào kẽm gai. Nhưng gặp tình huống như hiện nay thì gặp khó khăn trong việc đào công sự cá nhân, phát triển thành hào giao thông, hào chiến đấu. Các đồng chí cần đào hầm về đêm, không có xẻng quốc, phải dùng cọc dây thép gai và dao găm để đào, đất đào đem ép xuống nền nhà hoặc cho vào bao tải, gói vào quần áo, cất vào kho. Nhân dịp có việc trao đổi một số nhân viên Ban liên hợp quân sự bị mắc kẹt hôm ta đánh ở Buôn Mê Thuật, chúng tôi chủ trương đưa ra mấy đồng chí thật cần thiết cho chiến dịch, còn anh em ta vẫn ở lại, trong đó có cả đồng chí trưởng đoàn. Và khi làm kế hoạch cho pháo bắn vào Tân Sân Nhất, chúng tôi đã nhiều lần dặn các đồng chí phụ trách pháo binh biết khu vực phái đoàn ta đang ở để đảm bảo an toàn cho các đồng chí đó.
Trong thế trận chung to lớn ta đã hình thành bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, các đồng chí của ta ở Tân Sơn Nhất cũng có thế đứng riêng của mình, thế đứng công khai hiên ngang giữa lòng địch. Thế đứng đó không những tiêu biểu cho cách mạng cho đại nghĩa về mặt chính trị mà còn giúp cho Đảng hiểu được thêm lòng dân đối với sự nghiệp giải phóng và hiểu kẻ thù trước những ngày chúng giãy chết. Chắc là trong những ngày đêm sôi sục này, các đồng chí mong đợi quân ta vào hơn ai hết..”
...” Vào lúc 2 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, phái đoàn quân sự của ta ở trại Đa-vít “ trong Tân Sơn Nhất điện về bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo: “ Có ba người do chính quyền Sài Gòn cử đến gặp chúng tôi để thăm dò việc ngừng bắn. Đồng chí Võ Đông Giang tiếp họ và nói rõ lập trường, quan điểm của ta trong tuyên bố của chính phủ ngày 26 tháng 4. Sau đó họ xin ra về. Ta nói pháo của quân ta đang bắn mạnh vào sân bay, rất nguy hiểm, không nên ra về. Cuối cùng cả ba người đồng ý ở lại. Hiện giờ họ đang ở hầm với chúng tôi”. Lúc này những người cầm đầu ngụy quyền nóng ruột ngồi chờ ba “ sứ giả “ của họ mãi không thấy về, gọi hỏi nhau rất bối rối, lúng túng. Vài giờ trước khi cho ba người nói trên đến gặp ta ở Tân Sơn Nhất, họ đã cử bốn “ sứ giả “ khác đến thăm dò phái đoàn ta về chuyện “ ngừng bắn “. Cán bộ ta mời họ ăn chuối của anh em ta tự trồng và giới thiệu cho họ biết tuyên bố của chính phủ ta ngày 26 tháng 4.
Phái đoàn quân sự ta những ngày cuối tháng 4 này chứng kiến sự tất tưởi, bối rối cùng đường của Mỹ - ngụy. Trước đây, trụ sở phái đoàn ta nhiều lần bị chúng vây hãm, khiêu khích, gây nhiều khó khăn như cắt điện, cắt nước, không cho tiếp xúc với người ngoài... Vào những ngày này, đây lại là nơi chúng đến cầu cạnh nhiều nhất. Ma - tin “ Đại sứ“ Mỹ, xin được gặp đại diện phái đoàn ta. Ta từ chối. Ngụy quyền còn xin phái đoàn ta cho phép chúng cử người đáp máy bay ra Hà Nội để “ thương lượng “ ngừng bắn. Ta cũng bác “.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Giêng, 2011, 10:34:06 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #83 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2011, 10:33:09 am » |
|
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆP ĐỊNH PA-RI
XUÂN THUỶ Nguyên Bộ trưởng - Trưởng đoàn đàm Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam; nguyên Bí thư Trung ưng Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam dân chủ Cộng hoà Thấm thoắt đã mười năm kể từ ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết buộc Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Từ ngày ấy, chúng ta đã nhận định: đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, đồng thời là thắng lợi của nhân dân Đông Dương, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của phong trào độc lập dân tộc và hoà bình trên thế giới. Mặc dù Mỹ không thi hành đầy đủ Hiệp định Pa-ri mà còn ra sức phá hoại, song Hiệp định đó đã tạo điều kiện cho nhân dân ta thực hiện ý thơ của Bác Hồ. "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào, ... Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!" BẮT BUỘC MỸ ĐÀM PHÁN Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam lần thứ hai (sau Cách mạng tháng 8 năm 1945) bị quân và dân ta đánh cho đại bại, phi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7 năm 1945. Theo hiệp định đó, quân Pháp phải tập kết ở phía Nam vĩ tuyến 17 để rút ra khỏi Việt Nam; tháng 7 năm 1956, nước Việt Nam tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà. Nhưng đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp, lập nên ở miền Nam nước ta một chính quyền tay sai, biến miền Nam thành một căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Tất nhiên, Mỹ bị nhân dân ta từ Nam đến Bắc chống trả một cách quyết liệt. Mỹ trắng trợn đưa quân viễn chinh vào miền Nam, gây chiến tranh cục bộ, rồi ném bom miền Bắc, gây chiến tranh phá hoại. Một câu hỏi được đặt ra hồi bấy giờ là: Hoa Kỳ là trùm đế quốc, giàu tài nguyên, lắm đô-la, nhiều vũ khí hiện đại, nhất là vũ khí hạt nhân, mạnh gấp nhiều lần Pháp và Mỹ chưa chịu thua ai bao giờ; Việt Nam anh dũng thật, song có chống nổi Mỹ không? Bộ chính trị, Ban Bí thư, Quân uỷ Trung ưng và toàn thể Ban chấp hành Trung ưng Đảng ta đã nhiều lần thảo luận và nhiều lần khẳng định rằng: Miền Bắc sau khi đuổi hết thực dân Pháp, nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ cở bn đã hoàn thành, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiên lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời nhân dân ta phi đấu tranh giải phóng miền Nam đặng hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi. Bởi vì nhân dân ta vốn có truyền thống đoàn kết đấu tranh chống ngọi xâm, lại có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. [....] Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân ta là chính nghĩa, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ. Vấn đề là chúng ta phải biết đánh như thế nào để thắng Mỹ. Chúng ta đánh Mỹ trên ba mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Ba mặt trận này phải kết hợp chặt chẽ. Chúng ta đánh luì Mỹ từng bước, đánh bại Mỹ từng bộ phận, cuối cùng hoàn toàn đuổi Mỹ ra khỏi Việt Nam. Theo đường lối chủ trưng đó, toàn dân ta đánh Mỹ trên khắp các mặt trận bằng nhiều hình thức khác nhau, làm cho Mỹ ngày càng bị thiệt hại nặng. ..... Sau khi bị tiến công bất ngờ trong dịp Tết Mậu Thân (tháng 2 năm 1968), Mỹ mới cảm thấy những nơi họ đóng quân không còn nơi nào an toàn, kể cả Sài Gòn mà họ từng khoe khoang là đất thánh, bất khả xâm phạm. Trước tình hình đó, Mỹ đành phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và nhận ngồi đàm phán với ta ở Pa-ri. Cuộc đàm phán này kéo dài gần năm năm (1968-1973), có thể chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là cuộc đàm phán hai bên. Một bên là Đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hoà do Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm trưởng đoàn và đồng chí Lê Đức Thọ, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ta làm cố vấn đặc biệt. Một bên là bàn đàm phán Chính phủ Hoa Kỳ do Đại sứ Ha-ri-man làm trưởng đoàn, đó là nhà đàm phán có nhiều kinh nghiệm của Mỹ, đã từng làm bộ trưởng trong nhiều Chính phủ Mỹ trước đây. Trong giai đoạn này, cuộc đàm phán diễn ra từ tháng 5 năm 1968 đến hết tháng 10 năm 1968 tại trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Klê-béc Pa-ri. Phía Mỹ đòi giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam. Phía ta một mực đòi Mỹ phi chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện việc ném bom miền Bắc thì mới bàn đến việc khác. Trong khi đó, trên chiến trường hai bên vẫn nổ súng. Cho mãi đến ngày cuối cùng của tháng 10 năm 1968, chính phủ Hoa Kỳ mới chịu chấm dứt nốt việc ném bom phần còn lại ở miền Bắc từ Thanh Hoá đến Vĩnh Linh. Cả thế giới đều reo mừng cùng chúng ta. Đoàn chúng tôi đóng trụ sở tại một địa điểm ở thị trấn Xoa -di Lơ Roa, sát Pa-ri, có tường bao bọc xung quanh, bên ngoài có cảnh sát Pháp canh gác. Trong những ngày đầu tháng 11 năm 1968, sáng nào chúng tôi ra sân cũng lượm được rất nhiều hoa và những bức thư chúc mừng thắng lợi của những người qua đường ném vào. ấy là chưa kể đến những bức thư, bức điện chúc mừng mà chúng tôi nhận được qua bưu điện. Giai đoạn thứ hai: là cuộc đàm phán giữa bốn đoàn. Tháng 11 năm 1968 ở Mỹ có cuộc bầu cử Tổng Thống Giôn-xơn người của Đảng Dân chủ vì thất bại trong chiến tranh ở Việt Nam, không ra ứng cử tổng thống. Ních-Xơn, người của Đảng cộng hoà trúng cử tổng thống Mỹ. Tháng 1 năm 1969 Ních-xơn lên cầm quyền, đồng ý tiếp tục đàm phán theo thoả thuận có thêm đại biểu chính quyền Sài Gòn. Phía ta có đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Thế là hội nghị có bốn đoàn. Đoàn đàm phán Chính Phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà vẫn do Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm trưởng đoàn và cố vấn đặc biệt là đồng chí Lê Đức Thọ. Đoàn chính phủ Mỹ do đại sứ Ca-bốt-lốt làm trưởng đoàn, người đã từng bày mưu kế cho bọn tay sai giết hại nhân dân ta ở miền Nam. Đoàn mặt trận Dân tộc giải phóng mìên Nam Việt Nam do đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, sau thay bằng Đoàn chính Phủ Cánh mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do bộ trưởng Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn. Đoàn chính quyền Sài Gòn đo Đại sứ Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn. Bốn đoàn này vẫn họp ở Trung tâm Hội nghị quốc tế tại đường Kle-béc. Đến mùa thu năm 1969 còn có cuộc họp tay đôi ở địa điểm khác trong thành phố Pa-ri giữa một bên là cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ, còn phía bên kia là Tiến sĩ Kít-xinh-giơ, cố vấn của tổng thống Mỹ Ních-xơn. Lúc đầu, Kít-xinh-giơ đề nghị cuộc họp tay đôi này giũ bí mật nhưng dần dần tự phía Mỹ lại đưa ra công khai. Cả cuộc họp bốn đoàn và cuộc họp tay đôi đều có một nội dung chính giống hệt nhau: Phía Mỹ coi vĩ tuyến 17 trở vào phía Nam Việt Nam là một quốc gia riêng biệt, đó là Việt Nam cộng hoà do chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cai trị, cho nên họ đòi quân đội Việt Nam dân chủ cộng hoà phi rút về miền Bắc. Chúng ta đã hoàn toàn bác bỏ ý kiến đó với lập luận: Nước Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt , vĩ tuyến 17 là ranh giới quân sự tạm thời không phi là ranh giới chính trị và lãnh thổ. Quân đội Việt Nam cũng như nhân dân Việt Nam có quyền ở trên đất nước của mình và có quyền chống kẻ xâm lược ở bất cứ ni nào trên lãnh thổ Việt Nam. Mỹ là kẻ xâm lược phải rút hết khỏi Việt Nam. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu do Mỹ lập ra, cần phải được xoá bỏ. Nich-xơn cho rằng cái gì không giành được ở chiến trường thì cố giành được ở bàn đám phán, Khi không giành đựơc ở bàn đàm phán thì họ lại tăng cường chiến tranh. Họ ra sức càn quét miền Nam, ném bom lại miền Bắc, dùng Lon Non lật đổ Xi-ha-nuc, xua quân Thiệu đánh sang Cam-pu-chia và đánh sang Lào, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Nhưng tất cả những hành động tàn ác đó của Mỹ và tay sai đều bị thất bại. Trong lúc đó, Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược do các nước xã hội chủ nghĩa làm nòng cốt, đã hình thành trên thực tế. Pa-ri là nơi giao thông liên lạc thuận tiện với khắp các nước trên thế giới. Đoàn chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ở cách nhau 5 Km, ngày nào cũng tiếp khá nhiều khách quốc tế từ bốn phưng qua lại. Sau khi nghe chúng ta giải thích, ai nấy đều tỏ ra tin tưởng và dứng về phía chúng ta. ở nhiều nước, những cuộc biểu tình, mít tinh đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam diễn ra sôi nổi, càng làm cho chính quyền Mỹ bị cô lập và rất lúng túng.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Giêng, 2011, 11:04:18 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #84 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2011, 10:48:35 am » |
|
BẮT BUỘC MỸ PHẢI KÝ HIỆP ĐỊNH Trong lúc thua đau ở chiến trường và chưa giành được gì trên bàn đàm phán, Mỹ tưởng có thể lợi dụng Trung Quốc và Liên Xô để gây sức ép với ta. Song những người kháng chiến Việt Nam có chính sách đối nội, đối ngoại độc lập tự chủ. Chúng ta có thể mạnh trên chiến trường có lập trường vững chắc trên bàn đàm phán, nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ chúng ta, không khi nào chúng ta chịu thừa nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và sự có mặt của Mỹ ở miền Nam. Không gây được sức ép với ta, Mỹ đành phải nhận ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam trong tháng 10 năm 1972, trên cở sở bản dự thảo của Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhưng sau khi vượt qua cuộc bầu cử tháng 11 năm 1972 với việc Nich-xơn được tái cử tổng thống rồi họ lại lật lọng không ký. Nich-xơn và Kít-xinh-giơ đòi sửa đổi những điều quan trọng trong bản dự thảo mà hai bên đã thoả thuận nhằm giành phần lợi cho Mỹ. Ta không đồng ý. Cuộc đàm phán tay đôi lại bế tắc. Ngày 15 tháng 12 năm 1972, Kít-xinh-giơ về Oa-sinh-tơn, đồng chí Lê Đức Thọ về Hà Nội. ở Pa-ri chỉ còn hội nghị bốn đoàn đàm phán vẫn tranh luận ở phố Kle-béc. Nich-xơn điên cuồng hạ lệch dùng máy bay B52 ném bom Hải Phòng, Hà Nội từ đêm 18 tháng 12. Trong cuộc xâm lược này, đế quốc Mỹ đã phạm rất nhiều tội ác, trong đó có việc triệt hạ làng Sơn Mỹ, giết chết trẻ con, ông bà già và phụ nữ, rải hoá chất độc ở Trường Son và nhiều nơi khác, nay họ lại phạm tội ác lớn hon nữa là dùng máy bay B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng nhằm huỷ diệt từng dãy phố, giết hại hàng loạt người Việt Nam. Ních-xơn và Kít-xinh-giơ có ngờ đâu họ lại một lần nữa thất bại thảm hại. Suốt 12 ngày đêm, từ 18 đến 29 tháng 12 năm 1972, quân và dân ta chiến đấu rất ngoan cường và anh dũng. Toàn miền Bắc đã hạ 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B52, riêng Hà Nội hạ 32 chiếc, ngoài ra còn hạ nhiều chiếc máy bay hiện đại khác và bắt nhiều giặc lái Mỹ. Hết ngày 29 tháng 12 năm 1972, Mỹ đành phi ngừng cuộc ném bom này và Ních-xơn đề nghị nỗi lại cuộc đàm phán tay đôi ở Pa-ri. Lần này, cố vấn Tổng thống Mỹ Kít-xinh-giơ khi ngồi vào bàn đàm phán với cố vấn đặc biệt Lê-Đức-Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ ( theo danh từ gọi hồi đó ) càng ở vào thế yếu, cho nên sau khi nghe ta lên án kịch liệt về việc ném bom bằng B52, ông ta phải đấu dịu, đề nghị sửa đổi một số câu chữ mà ta có thể chấp nhận, rồi đi đến thoả thuận ký hiệp định Pa-ri về Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, cơ bản như dự thảo của Việt Nam dân chủ cộng hoà đưa ra tháng 10 năm 1972. Theo thủ tục quốc tế thì việc ký kết hiệp định là do các bộ trưởng ngoại giao của các bên đàm phán ký kết, nhưng khi bàn đến ký chính thức thì Hoa Kỳ chỉ muốn ký tay đôi giữa bộ trưởng Ngoại giao Mỹ và Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chúng ta thừa hiểu rằng Hoa Kỳ không muốn thừa nhận chữ ký của đại diện ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Hơn nữa, Mỹ muốn có chỗ hở để sau này Nguyễn Văn Thiệu viện cớ không ký thì không thi hành hiệp định. Ta kiên quyết đòi bốn bộ trưởng ngoại giao của bốn đoàn đàm phán đều phi ký vào bản hiệp định. Mỹ phải chịu theo ý ta và đề nghị: Cùng một bản hiệp định Pa-ri về Việt Nam, buổi sáng 27 tháng 1 năm 1973, bốn bộ trưởng ngoại giao của bốn đoàn đàm phán ký, buổi chiều ngày 27 tháng 1 năm 1973 hai bộ trưởng Ngoại giao Mỹ và Việt Nam dân chủ cộng hoà dân chủ cộng hoà ký. Do đó cũng ở trung tâm Hội nghị quốc tế tại đường Kle-béc, buổi sáng 27 tháng 1 năm 1973 có cuộc ký kết giữa bộ trưởng Ngoại giao W.Rô-giơ, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyện Thị Bình và Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Lắm ( chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ) với sự có mặt của bốn đoàn đàm phán. Buổi chiều 27 tháng 1 năm 1973, chỉ có Bộ trưởng Ngoại giao W. R-giơ và Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Duy Trinh cùng ký kết với sự có mặt của đoàn đàm phán Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hoà. Buổi chiều cũng như buổi sáng, mỗi bên ký xong đều có nâng cốc sâm-banh. Những người tham dự của phía bên ta hôm ấy đều thấy sâm-banh ngọt nồng, còn phía bên kia không rõ họ cảm thấy chát chua hay cay đắng. Trong khi đó, ngoài đường phố Pa-ri rợp bóng cờ bay: cờ đỏ sao vàng, cờ nửa đỏ nửa xanh sao vàng ở giữa, cờ xanh lam có chim bồ câu trắng cùng những tiếng hô vang: “ Việt Nam thắng lợi”, hoà bình muôn năm. Hiệp định Pa-ri về Việt Nam sau khi được ký kết, Mỹ rút hết quân ra khỏi Việt Nam và đưa được tù binh Mỹ về nước, còn lại những điều khoản khác của Hiệp định, Mỹ không thi hành nữa mặc dù Hiệp định đã viết: Hoa Kỳ và các nước phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng chữ ký chưa ráo mực, thì phía Mỹ đã giày xéo lên chữ ký của họ. Nich-xơn chủ trương “Việt Nam hoá chiến tranh”, dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam, với vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ. Vũ khí Mỹ lại được ùn ùn chở vào miền Nam, cố vấn và chuyên gia Mỹ được tăng cường bên cạnh chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Theo lệnh Mỹ, Thiệu không chịu ngừng bắn, tiếp tục đánh lấn chiếm ra vùng tự do của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Sự việc diễn ra như thế càng ngày càng tăng. Chính vì vậy, quân và dân ta có cuộc đại tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 , quân và dân ta đã đánh đuổi hết bọn xâm lược Mỹ ra khỏi Việt Nam. đánh sập nguỵ quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà [...] Những gì mà Kít-xinh-giơ viết trong tập hồi ký của ông ta, không giống sự thật trên đây. Tiếc rằng trong phạm vi một bài báo, tôi chỉ có thể kể lại một cách tóm tắt những nét chính như vậy. Nhân dịp này, chúng ta càng nhớ đến đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta đã đấu tranh gian khổ trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, nhớ đến tất cả những ai đã góp người góp của, góp công, góp sức vào thắng lợi này, kể cả người Việt Nam trong nước và người nước ngoài, nhất là việt kiều ở Pháp. Chúng ta cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đã đồng tình và ủng hộ chúng ta...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #85 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2011, 11:01:50 am » |
|
HIỆP ĐỊNH PA-RI: 30 NĂM NHÌN LẠI
NGUYỄN THỊ BÌNH Nguyên Bộ trưởng bộ ngoại giao chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ cách mạng lâm thời tại hội nghị Pa-ri, nguyên ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đúng 30 năm về trước, ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đ ược ký kết, đánh dấu thắng lợi hết sức quan trọng của chúng ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất tổ quốc. Hiệp định Pa-ri có ý nghĩa chính trị - ngoại giao to lớn, tạo điều kiện cho nhân dân ta tiếp tục đấu tranh đi đến toàn thắng năm 1975. Buộc Phải ký hiệp định Pa-ri, Mỹ mặc nhiên thừa nhận hành động xâm lược và thất bại của họ. Điều 1 của hiệp định ghi rõ: “ Hoa kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như hiệp định Giơ - ne -vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận. “ Về quân sự, việc Mỹ rút quân hoàn toàn, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự đã làm cho tương quan trên chiến trường thay đổi có lợi cho cách mạng. Chính vì thế, chỉ có hơn hai năm sau khi hiệp định Pa-ri được ký, với cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975, kêt thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ Quốc. Khoảng cách 30 năm nhìn lại cho phép chúng ta thấy rõ hơn không chỉ ý nghĩa của hiệp định Pa- ri mà còn cả mối quan hệ của hiệp định này với một mốc lịch khác trước đó - Hiệp định Giơ - ne - vơ không chỉ cho ta thấy tại sao Việt Nam thắng lợi trong đàm phán, mà còn để lại cả những bài học cho ngày hôm nay. HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ - TIỀN ĐỀ CHO THĂNG LƠI CỦA CÔNG CUỘC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, THÔNG NHẤT ĐẤT NƯỚC Nói đến hiệp định Pa-ri, chúng ta không thể không nhắc đến hiệp định Giơ- ne- vơ 1954. Tuyên bố cuối cùng của hội nghị và hiệp định đình chỉ chiến sự Pháp - Việt đã tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Điều 11 của tuyên bố quy định: “ Hội nghị chứng nhận lời tuyên bố của chính phủ Pháp nói rằng chính phủ ( Pháp )... sẽ căn cứ trên sự tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Cao Miên, Lào và Việt Nam. Với hiệp định Giơ-ne-vơ chúng ta có một miền Bắc được giải phóng, làm căn cứ địa cách mạng của cả nước. Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất để duy trì và phát triển cuộc chiến đấu ở miền Nam. Tại hội nghị Giơ- ne-vơ, Pháp muốn giải quyết trên thế mạnh và trong khuôn khổ thỏa thuận giữa các nước lớn. Mỹ tìm cách phá hoại hội nghị và có ý đồ can thiệp vào Đông Dương bằng một hành động tập thể. Kết quả cuối cùng là Pháp buộc phải công nhận và tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam- pu- chia, thừa nhận nguyên tắc rút quân đội Pháp ra khỏi ba nước Đông Dương. Đối với Việt Nam, nước Pháp và tất cả các nước tham gia hội nghị, trừ Mỹ, đều trịnh trọng tuyên bố công nhận và tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. Giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời, thời hạn tổng tuyển cử để thống nhất đất nước cũng được ấn định: Chậm nhất là ngày 20 tháng 7 năm 1956. Tóm lại, tranh thủ được hòa bình là một thắng lợi lớn của ta. Hiệp định Giơ - ne - vơ không những đã chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương, phá âm mưu của thế lực chủ chiến hòng kéo dài và mở rộng chiến tranh mà còn tạo những điều kiện căn bản để thực hiện các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Trong bối cảnh hai đồng minh chủ yếu của ta, đều mong muốn hòa hoãn với phương tây và kết thúc chiến tranh, chúng ta khó có thể đạt được kết quả như chúng ta mong muốn. Song ỹ nghĩa của hiệp định Giơ-ne-Vơ là rất to lớn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #86 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2011, 11:06:52 am » |
|
"VỪA ĐÁNH VỪA ĐÀM" - NGHÊ THUẬT KẾT HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO Quân sự và ngoại giao là hai mặt trận gắn liền hữu cơ và hỗ trợ lẫn nhau. Trên bàn đàm phán không thể giành được những gì không giành được trên chiến trường. Nhưng những gì giành được trên chiến trường sẽ không được khẳng định nếu không có nghệ thuật giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Hơn thế nữa, thắng lợi trên bàn đàm phán tạo thêm điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi lớn hơn trên chiến trường. Hội nghị Pa-ri là sự thể hiện trình độ cao của nghệ thuật vừa đánh vừa đàm của Việt Nam. Hội nghị cho thấy chúng ta đã vận dụng một cách nghệ thuật mối quan hệ hữu cơ đó, biết mở đàm phán đúng lúc và kết thúc đàm phán đúng lúc, phù hợp với tình thế trên chiến trường. Ngay từ cuối năm 1965, lãnh đạo ta đã tính đến việc đàm phán với Mỹ. Nhưng chỉ sau hội nghị lần thứ 13 Ban chấp hành Trung ương, chúng ta mới thực sự triển khai kế hoạch này. Ngày 28 tháng 1 năm 1967, trả lời phỏng vấn nhà báo Bớt-séc, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố:” Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện” ( Báo nhân dân ngày 28 tháng 1 năm 1967). Cuối tháng 12 năm 1967, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh lại nêu: Sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề có liên quan. Như vậy, đầu năm chúng ta nói “ có thể “, đến cuối năm chúng ta đã chuyển sang khẳng định là “ sẽ “ nói chuyện vơi Mỹ nếu Mỹ chấp nhận ngừng ném bom. Việt Nam muốn Mỹ ngừng ném bom trước. Chính vì thế, hai bên vẫn chưa tiến hành gặp gỡ. Chỉ đến khi cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân làm giảm ý chí xâm lược của Mỹ, Tổng thống Giôn-xơn mới buộc phải tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc, chịu nhượng bộ và đi bước trước trên con đường tới bàn phán. Đây không những là sự thừa nhận về sự phá sản của chiến tranh phá hoại bằng không quân, mà còn là bước đầu của qúa trình xuống thang chiến tranh của Mỹ. Như vậy, thắng lợi quân sự đã mở cánh cửa cho đàm phán ngoại giao. Nhưng cho đến ngày 31 tháng 10 năm 1968, Giôn-xơn mới ra lệnh cho không quân và hải quân Mỹ chấm dứt mọi cuộc đánh phá chống Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 2 tháng 11 năm 1968, Việt Nam dân chủ cộng hòa ra tuyên bố ghi nhận việc Mỹ chấp nhận chấm dứt không điều kiện ném bom và mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam dân chủ cộng hòa và mở ra hội nghị bốn bên . Cùng ngày, tôi đến Pa-ri với tư cách trưởng đoàn tiền trạm của mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu còn trì hoãn, mãi đến ngày 8 tháng 12, ông ta mới cử một phái đoàn đi Pa-ri do đại sứ Phạm Đăng Lâm dẫn đầu. Ngày 10 tháng 12, Mặt trận cử đoàn đàm phán chính thức do đồng chí Trần Bửi Kiếm, ủy viên đoàn chủ tịch mặt trận làm trưởng đoàn. Về phía Việt Nam dân chủ cộng hòa, bộ trưởng Xuân Thủy, người dẫn đầu đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa trong cuộc đàm phán hai bên từ tháng 5 năm 1968, tiếp tục làm trưởng đoàn trong đàm phán bốn bên. Hội nghị Pa-ri có thể chia làm bao giai đoạn chính và gắn chặt với ba bước ngoặt trên chiến trường Việt Nam. Giai đoạn một là từ khi bắt đầu đàm phán cho đến khi Mỹ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc, bốn bên ngồi vào đàm phán chính thức. Giai đoạn này gắn với thắng lợi Tết Mậu Thân 1968. Giai đoạn hai kéo dài từ lúc bốn bên ngồi vào bàn đàm phán cho đến giữa năm 1972. Lúc này trên chiến trường ta chưa giành được thắng lợi quyết định, thậm chí trong thời gian đầu, chúng ta còn lâm vào tình thế khó khăn. Chính vì thế, đàm phán giẫm chân tại chỗ, như “ xe lửa cán đường ray”. Các bên chủ yếu là thăm dò tố cáo lẫn nhau. Chỉ sau thắng lợi của các cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 , ta mới giành được thế chủ động trên chiến trường, đàm phán mới đi vào thực chất ( có thể xem đây là giai đoạn ba ) và đi đến ký kết hiệp định vào tháng 1 năm 1973. Ngày 25 tháng 1 năm 1969, hội nghị bốn bên chính thức khai mạc. Đây là một thắng lợi bước đầu của ta. Từ chỗ không chịu, nay Mỹ phải ngồi vào đàm phán bốn bên, có mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tham dự với tư cách một bên độc lập, bình đẳng. Trong phiên họp đầu tiên này, Trưởng đoàn của mặt trận dân tộc giải phóng Trần Bửi Kiếm đưa ra lập trường năm điểm, thực chất là tuyên bố chính trị, và bốn tháng sau đưa ra Giải pháp toàn bộ mười điểm về vấn đề miền Nam Việt Nam [1]. Đây là giải pháp hoàn chỉnh đầu tiên được đưa ra tại hội nghị. Đối phó lại, ngày 14 tháng 5 năm 1969, tổng thống Ních-xơn đưa ra kế hoạch tám điểm với nội dung chính là việc rút quân Mỹ với việc rút quân miền Bắc và giữ chính quyền Sài Gòn. Với sự ra đời của liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam được mở rộng. Ngày 6 tháng 6 năm 1969, chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tại bàn đàm phán càng vững mạnh. Tôi được cử làm bộ trưởng ngoại giao đồng thời là trưởng đoàn đàm phán của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Pa-ri. Hai ngày sau, tổng thống Ních- xơn công bố chính sách “ Việt Nam hóa chiến tranh “ và việc rút đợt đầu 25.000 quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn hai này, trên cơ sở phát triển Giải pháp toàn bộ Mười điểm, thông qua các tuyên bố của chính phủ cánh mạng lầm thời cộng hòa miền nam Việt Nam ( Tám điểm ngày 14 tháng 9 năm 1970, Bảy điểm ngày 1 tháng 7 năm 1971, và Hai điểm nói rõ thêm trong giải pháp Bảy điểm ), ta đòi Mỹ phải rút nhanh toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, thành lập ở miền Nam Việt Nam một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần để tổ chức tuyển cử. Sau chiến thắng Xuân - Hè 1972 trên năm mặt trận lớn, từ Trị Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long, ta giải phóng một vùng rộng lớn, làm thay đổi lớn so sánh lực lượng, tạo ra khả năng kết thúc chiến tranh. Tháng 7 năm 1972, Bộ chính trị đã đưa ra quyết sách: Chuyển từ chiến lược chiến tranh sang chiến lược hòa bình. Giai đoạn ba đàm phán bắt đầu từ đây. Trong ba tháng bảy, tám và chín, ở Pa-ri, Lê Đức Thọ và Kít-xing-giơ có một loạt cuộc gặp riêng bàn vấn đề một cách thực chất. Trên cơ sở “ Dự thảo hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam “ do Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra trong cuộc gặp riêng ngày 8 tháng 10 năm 1 972, hai bên bắt đầu mặc cả từng điều khoản, từng câu chữ của hiệp định. Ngày 20 tháng 10, tổng thống Nich-xơn gửi thư cho thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định “ văn bản của hiệp định bây giờ có thể xem như đã hoàn thành “ và thỏa thuận sẽ ký vào ngày 31 tháng 10 năm 1972. Trong suốt quá trình đàm phán, sự phối hợp và hỗ trợ giữa hao đoàn của ta rất nhịp nhàng và chặt chẽ. Đòan Mặt trận và chính phủ cách mạng lâm thời thường công khai đưa ra các sáng kiến hòa bình, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa luôn hậu thuẫn và ủng hộ các sáng kiến đó, đồng thời tập trung vào cuộc đấu tranh thương lượng với Mỹ khi cuộc đàm phán đi vào giai đoạn thực chất. Quan hệ hỗ trợ nhau giữa quân sự với ngoại giao một lần nữa lại thể hiện ở chính giai đoạn chót của đàm phán này. Sau khi vượt qua được tuyển cử, Mỹ trở mặt, đàm phán diễn ra căng thẳng trong suốt tháng 11 và đầu tháng 12. Đến ngày 12 tháng 12, hai bên chỉ còn phải thỏa thuận vấn đề khu phi quân sự và cách ký các văn kiện, và hai nhà đàm phán chính phải về nước xin chỉ thị. Nhưng khi đồng chí Lê Đức Thọ vừa về đến Hà Nội cũng là lúc bắt đầu cuộc tập kích chiến lược bằng B52 đánh phá Hà Nội và Hải Phòng. Đúng như dự đoán của Bác Hồ là nhất định Mỹ sẽ thất bại, nhưng sớm muộn Mỹ sẽ dùng B52 đánh phá Hà Nội và Hải Phòng trước khi chúng chịu thua. Bị tổn thất nặng nề trong trận “ Điện Biên Phủ trên không” và bị dư luận lên án, ngày 29 tháng 12 năm 1972. Mỹ buộc phải ngừng ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20, phải ký tắt ngày 23 tháng 1 năm 1973 và ký chính thức ngày 27 tháng 1 năm 1973 “ Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam “ mà nội dung chủ yếu vẫn giữ nguyên như văn bản đã thỏa thuận ngày 20 tháng 10 năm 1972. ---------------- [1] Giải pháp toàn bộ Mười điểm là : (1 ) Tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam (2 ) Rút hết quân Mỹ, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh (3 ) Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết (4 ) Nhân dân miền Nam Viẹt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình. (5 ) Thành lập Chính phủ Liên hợp lâm thời (6 ) Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập. (7 ) Thực hiện thống nhất từng bước Việt Nam bằng các biẹn pháp hoà bình (8 ) Hai miền Nam - Bắc không tham gia liên minh quân sự (9 ) Giải quyết những hậu quả chiến tranh (10) Thoả thuận giám sát quốc tế đối với việc rút quân
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2011, 11:09:24 am » |
|
ĐOÀN KẾT QUỐC TÊ - NGHỆ THUẬT KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TÔC VỚI SỨC MẠNH CỦA THỜI ĐẠI Nếu nghệ thuật “ vừa đánh vừa đàm “ đã chuyển được những thắng lợi quân sự thành những thắng lợi ngoại giao trên bàn đàm phán, thì nghệ thuật tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta là nghệ thuật kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Sự kết hợp này không phải là khẩu hiệu, mà đã là một thực tế. Tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh của Việt Nam chống Mỹ là nguồn gốc khơi dậy sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh của ta. Đường lối và sự chỉ đạo đúng đắn về đối ngoại của Đảng đối với miền Bắc và miền Nam có ý nghĩa quyết định xây dựng mặt trận đoàn kết đấu tranh của nhân dân trong cả nước và huy động tập hợp hết sức rộng rãi các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý hình thành trên thực tế mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Miền Bắc tập trung tranh thủ sự ủng hộ của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Ngay cả Liên Xô và Trung Quốc, mặc dù có những bất đồng với nhau, đều dành cho Việt Nam sự giúp đỡ to lớn. Đó là vì chúng ta đã khôn khéo giữ thái độ cân bằng giữa hai nước lớn đồng minh này. Sự ủng hộ to lớn, quý báu, đầy hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc, Cuba và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã góp phần quan trọng vào thắng lợi quân sự, thắng lợi ngoại giao cũng như thắng lợi cuối cùng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Phong trào quốc tế ủng hộ Việt Nam là sức mạnh tạo điều kiện cho chúng ta tiến công kẻ thù trên bàn đàm phán. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam giương cao khẩu hiệu hòa bình trung lập để tập hợp sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế. Nhiều chính phủ đã công nhận về mặt ngoại giao chính phủ cách mạng lâm thời. Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cuộc đấu tranh kiên cường vì độc lập tự do của nhân dân ta đã lay động tình cảm và lương tri của những người yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới. Nhà văn nữ Thụy Điển Sa-ra Li-man đã ca ngợi Việt Nam là “ lương tri của loài người “, “trái tim của nhân loại “. Lúc đầu người dân Mỹ không quan tâm, thậm chí còn ủng hộ hành động chiến tranh của tổng thống Mỹ. Nhưng sau đó, do nhận ra tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do giới cầm quyền Oa-sinh-tơn phát động và phản chiến phát triển càng mạnh, đặc biệt là tại các trường đại học Mỹ. Ở Hà Nội, ở Pa-ri và tại nhiều diễn đàn quốc tế, chúng ta tiếp xúc với nhiều đại diện phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh với phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, gây thêm khó khăn cho chính quyền Mỹ ngay trong nước Mỹ. Chúng ta đã cử nhiều đoàn đi qua các địa phương trong nước Pháp, các nước Tây Âu, Bắc Âu, Châu Phi, Mỹ Latinh, dự các cuộc mít tinh và hội họp “ đoàn kết với Việt Nam “. Giải thích chính sách, lập trường của ta nói chung, nhất là phân biệt rõ các thế lực hiếu chiến với nhân dân Mỹ và coi lính Mỹ là nạn nhân của chiến tranh đế quốc. Chúng ta hết sức coi trọng dư luận và vai trò của giới báo chí. Chính họ đã góp phần làm cho nhân dân các nước hiểu về cuộc chiến đấu của chúng ta, những tội ác tày trời của Mỹ, những cuộc tàn sát, đàn áp, tù đầy đối với những người dân yêu nước. Chúng ta ghi nhớ công lao của giới trí thức các nước đã tạo nên các hoạt động và diễn đàn ủng hộ Việt Nam rất quy mô, đầy tính nhân văn và có tác động lớn như tòa án quốc tế Béc-tơ-răng Rút-xen xử tội ác chiến tranh của Mỹ, hội nghị quốc tế Stóc-khôn ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ ( 1967 ). Thời kỳ này, nếu ở Việt Nam chúng ta có thế hệ Hồ Chí Minh thì trên thế giới có “ thế hệ Việt Nam “. Nhiều người thuộc thế hệ Việt Nam này hiện nay đang giữ cương vị lãnh đạo nhiều nước trên thế giới và họ luôn tự hào bởi đã là người tham gia phong trào chống chiến tranh Việt Nam. Trong lúc đang chiến đấu, chúng ta cũng bày tỏ tình đòan kết ủng hộ các cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước như Cuba, Ni -ca-ra-goa, Nam Phi, Dim- ba-bu-le. Mô-dăm-bích, Ăng-go-la, Na-mi-bi-a, Pa-le-xtin... Điều đó càng gắn kết đấu tranh của nhân dân Việt Nam với các cuộc đấu tranh của nhân dân các nước. Hiện nay, dù chủ nghĩa xã hội có tạm thời thoái lui, ý thức độc lập, tự tôn dân tộc vẫn phát triển. Tình cảm đối với cuộc chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam vẫn sâu đậm trong lòng nhân dân thế giới. Cũng cần khẳng định công lao và đóng góp rất to lớn của việt Kiều yêu nước, đặc biệt là Việt Kiều ở Pháp trong quá trình đàm phán Pa-ri. Bà con Việt Kiều không chỉ tham gia mít tinh, biểu tình ủng hộ các sáng kiến của ta, mà còn thiết thực giúp đỡ cho hoạt động của hai đoàn miền Bắc và miền Nam trong suốt năm năm diễn ra hội nghị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #88 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2011, 11:10:22 am » |
|
MỘT VÀI BÀI HỌC Có thể nói, cuộc đàm phán của ta thắng lợi ở Pa-ri khẳng định đường lối và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao tài tình của đường lối chính trị, quân sự của Bác Hồ, của đảng đã đạt đến trình độ cao nhất trong lịch sử từ trước đến nay. Cuộc đàm phán này để lại nhiều bài học cho hiện tại và tương lai của đất nước. Bài học đầu tiên là phải xác định mục tiêu rõ ràng. Chúng ta kiên định mục tiêu độc lập, thống nhất và tập trung lực lượng của toàn dân tộc thực hiện mục tiêu đó. Mục tiêu đó được Bác Hồ cô đọng lại trong tuyên bố nổi tiếng của người: “ Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi “. Xác định rõ mục tiêu rồi còn phải có bước đi, có sách lược uyển chuyển thích hợp. Bước đi đó phải tùy thuộc vào tương quan lực lượng trên chiến trường nhưng cũng phải gắn với tình hình quốc tế, thái độ các nước lớn, phong trào và dư luận nhân dân các nước. Muốn thực hiện mục tiêu trên phải đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, là giải phóng miền nam, thống nhất nước nhà, nhưng phải đi từng bước, phải "thắng từng bước, đánh đổ từng bộ phận". Hiệp định giơ-ne-vơ giải phóng nửa đất nước và tạo cơ sở đấu tranh giải phóng dân tộc thắng lợi. Hiệp định Pa-ri làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường Việt Nam, tiếp tục làm cơ sở cho việc hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc. Bài học thứ hai là phải có chính sách độc lập, tự chủ. Đồng chí Lê Duẩn nói: Vấn đề Việt Nam giải quyết không phải chỉ ở Việt Nam mà cả trên trường quốc tế. Chúng ta hiểu ý nghĩa của các mối quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ giữa các nước lớn ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến của chúng ta, nhưng chúng ta kiên định chính sách độc lập, tự chủ. Chúng ta coi trọng sự giúp đỡ và những ý kiến đóng góp của các nước anh em bè bạn, nhưng chúng ta độc lập quyết định dựa trên yêu cầu của tình hình trong và ngòai nước. Chúng ta trực tiếp đàm phán và giải quyết với Mỹ, không chịu sức ép nào. Bài học thứ ba là đoàn kết quốc tế. Không chỉ đoàn kết trong nước mà còn cần đoàn kết quốc tế. Hội nghị Pa-ri cho thấy, sự ủng hộ của quốc tế có ý nghĩa như thế nào đối với thắng lợi hội nghị. Điều này khẳng định sự cần thiết hình thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược, trong đó vai trò của ngoại giao nhân dân là vô cùng quan trọng. Kinh nghiệm này cho thấy quan tâm đến ngoại giao nhân dân cũng sẽ giúp ta thực hiện thành công những nhiệm vụ của ngày hôm nay. Cuối cùng, chúng ta cần khẳng định rằng, tuy Bác Hồ sớm ra đi, nhưng toàn bộ quá trình đàm phán Pa-ri là thực hiện phương châm của người: “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và “ sãn sàng trải thảm đỏ nếu Mỹ muốn rút quân”. Đàm phán thành công là nhờ luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo của bộ chính trị ban chấp hành trung ương đảng, đặc biệt là của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh. Đàm phán thắng lợi là nhờ có sự lãnh đạo trực tiếp, uyển chuyển của các đồng chí Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thắng lợi của đoàn đàm phán Pa-ri, chúng ta tôn vinh và cảm ơn quân và dân hai miền Nam - Bắc đồng bào và chiến sĩ thủ đô, các vị tướng lĩnh đã anh dũng chiến đấu hy sinh, lập nên những chiến công lẫy lừng, đặc biệt là chiến thắng “ Điện Biên Phủ trên không”, tạo điều kiện cho cuộc đàm phán Pa-ri kết thúc thắng lợi. Đây cũng là dịp tốt để chúng ta ghi công những đóng góp của tất cả các đồng chí đã trực tiếp hay gián tiếp tham gia trận chiến trên bàn ngoại giao này. Chính trong trận chiến đặc biệt này, nhiều cán bộ của chúng ta đã được tôi luyện, trưởng thành để sau này trở thành các cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #89 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2011, 02:04:54 pm » |
|
TÔI ĐI VÀO TRẠI ĐA-VÍT
HOÀNG ANH TUẤN Nguyên trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ CMLTCHMNVN trong ban liên hợp quân sự hai bên, nguyên thứ trưởng bộ ngoại giao nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi đang công tác ở cục tham mưu quân khu 5 thì Hiệp định Pa-ri được ký. Bộ tư lệch Quân Khu gọi lên bảo đại ý: Hiệp định đã ký được rồi, bây giờ chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới với hình thức mới, quân ủy trung ương chỉ định anh tham gia công tác Liên hợp quân sự, làm trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miêng Nam Việt Nam trong ban liên hiệp quân sự bốn bên khu vực III đóng tại Plây Cu ( Tỉnh lỵ Gia Lai ). Công việc này mới mẻ chưa ai quen cứ vừa làm vừa học, chú ý nghiên cứu kỹ các văn kiện đã ký kết và chấp hành đúng sự chỉ đạo của cấp trên. Riêng anh đã từng tham gia Ủy ban liên hợp đình chiến sau hiệp định Giơ-ne-vơ chắc cũng đã có ít nhiều kinh nghiệm”. Duyên nợ cuộc đời đây chăng? Trước đấy 19 năm, tháng 7 năm 1954, tôi đã được cử vào đoàn đại biểu bộ tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam trong ủy ban liên hiệp đình chiến trung ương với ý nghĩa là cán bộ đại diện cho chiến trường Liên khu 5, cũng như anh Đồng Văn Cống đại diện cho chiến trường Nam Bộ ( Sau này là thiếu tướng Đồng Văn Cống, Phó tư lệnh Quân giải phóng Miền, sau đó là trung tướng ). Ủy ban liên hợp hồi đó họat động thiết thực được 300 ngày, sau khi lực lượng vũ trang hai bên ( Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội liên hợp Pháp ) tập kết xong sang hai bên sông Bến Hải tức giới tuyến quân sự tạm thời, thì phía Pháp bắt đầu trở mặt, chây lỳ trong các phiên họp ủy ban liên họp không chịu bàn bạc giải quyết vấn đề gì nữa, cuối cùng ủy ban liên hợp mặc nhiên tan rã. Trước đó tôi được điều trở lại đơn vị chiến đấu, rồi trở về miền Nam tham gia cuộc kháng chiến lần thứ hai đánh Mỹ. Và giờ đây, với một hiệp định mới, với đối phương mới, lại được gọi lại vào công tác liên hợp quân sự. Đúng vào lúc này, đầu tháng 2 năm 1973, sau tết quý sửu mấy ngày, anh Năm Công ( tức đồng chí Võ Chí Công, ủy viên trung ương Đảng. Phó bí thư trung ương Cục. Bí thư ủy khu 5 ) vừa từ Hà Nội vào triệu tập cuộc họp cán bộ cao cấp quân - dân - chính - đảng để phổ biến nghị quyết nóng hổi của bộ chính trị về Hiệp định Pa-ri. Nghị quyết đánh giá ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và của hiệp định Pa-ri phân tích các nguyên nhân thắng lợi dự kiến khả năng diễn biến tình hình, xác định nhiệm vụ cách mạng của cả nước và của từng miền Nam, Bắc trong giai đoạn mới, các nguyên tắc và quan điểm cần nắm vững trong mọi tình hình, các công tác lớn trong thời gian sắp tới. Chính cuộc họp quan trọng này đã trang bị cho tôi những nhận thức và quan điểm cơ bản về tình hình và nhiệm vụ mới, giúp chúng tôi sau này trong hoàn cảnh đơn độc xa sự chỉ đạo trực tiếp của cấp trên, có đủ bản lĩnh chủ động xử lý đúng hướng một số tình huống gay cấn mà không chờ được chỉ thị cụ thể. Sau cuộc họp tôi cùng các bộ phận trong đoàn khu vực III hành quân đến căn cứ Trà My ( thuộc tỉnh Quảng Nam ) chờ lệnh đi Plây Cu. Chờ mãi hết tháng 2 đến tháng 3 năm 1973 vẫn không thấy lệnh. Sau này mới biết là, kịp thời rút kinh nhiệm về việc địch cho tổ chức hành hung cán bộ ta vào làm nhiệm vụ liên hợp ở một số nơi như Huế, Buôn Mê Thuột , Bảo Lộc ( Lâm Đồng ) Quân ủy trung ương quyết định đình chỉ không cho triển khai tiếp các tổ địa phương nữa. Thượng tuần tháng 3 năm 1973, tôi được điện chỉ thị: Tách khỏi đoàn, đi ngay lên đường dây 559 sẽ được sắp xếp đi vào Lộc Ninh nhận nhiệm vụ mới. Thế là tôi rời đoàn, rời chiến trường khu 5 đã bao năm gắn bó. Đi gần một tuần đến binh trạm 34. Đến đây gặp lại anh Nguyễn Lang, Đại tá phó tư lệch đoàn 559. Là bạn chiến đấu cũ ở trung đoàn 108 chủ lực liên khu 5 thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đường 559 từ trước đó khá lâu đã bảo đảm cho xe vận tải vào ra tấp nập chở quân, chở vũ khí đạn dược, lương thực cho các chiến trường. Nó còn được gọi là đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh. Vào khỏi Quảng Bình trên cơ sở thỏa thuận với lãnh đạo kháng chiến của hai nước bạn, nó dọc theo phía đông của Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia đến B3 ( Mặt trận Tây Nguyên ). Anh Lang xếp cho tôi một chiếc xe con Bắc Kinh, bố trí đi khắp ngày đêm, thay lái xe từng trạm. Biên giới giữa Lào và Cam-pu-chia ở đây là con suối Tà Ngân . Nó chỉ là một suối cạn tương đối rộng nhưng ít nước, xe qua lại không phải bắc cầu. Đây là một trong những điểm bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, xơ xác từng mét rừng, từng tấc đất. Sau này ở Tân Sơn Nhất nghe Trần Thị Tuyết ngâm: “ Tà Ngân trong vắt mắt gương Xốn xang trông lửa chiến trường mà cay”... Hóa ra mấy tháng sau, anh Tố Hữu cũng vượt ngàn dặm nước non theo đúng con đường tôi đã đi, và cũng có cùng cảm xúc. Xe tôi không rẽ xuống B3 mà lên nhập vào quốc lộ 13 của Cam-pu-chia đi tiếp. Một đêm vào khoảng hơn ba giờ sáng đến một trạm 559 tại Stung-treng tỉnh Lỵ Ra-ta-na-ki-ri. Anh em đưa tôi vào phòng khách bảo ngồi nghỉ tạm giây lát, sẽ gặp thủ trưởng cấp trên, vì đã được dặn là bất cứ lúc nào tôi đến là phải gọi ngay đồng chí ấy dậy. Chỉ mấy phút sau cả anh Mười Khang ( tức trung tướng Hoàng Văn Thái) và anh Sáu Dân ( đồng chí Võ Văn Kiệt ) [1] từ phòng ngủ ra tiếp tôi. Hai anh trên đường ra họp trung ương tính toán sẽ gặp tôi tại đâu để giao nhiệm vụ. Các anh đã biết tôi từ trước nên tôi cũng không bỡ ngỡ. Anh Mười Khang nói ngắn gọn đại ý: “ Quân Mỹ sắp rút hết, ban liên hợp quân sự bốn bên sắp hết hạn, trung ương quyết định rút anh Trà về lại chỉ huy chiến trường, cử anh vào thay anh ấy tại ban liên hợp quân sự hai bên trung ương. Anh sẽ lấy tên mới là Hoàng Anh Tuấn, với cấp quân hàm thiếu tướng ( theo nghị định thư được ký ở Pa-ri thì trưởng đoàn các bên liên hợp quân sự phải là cấp tướng ). Tóm tắt là thế còn nhiệm vụ cụ thể và cung cách làm ăn thì vào trong ấy anh Trà sẽ phổ biến. Thời gian gấp lắm rồi, cần đi suốt ngày đêm cho kịp. Chỉ vẻn vẹn trong mấy phút tôi được giao một nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề, và chắc là khó khăn ( hai năm ở ủy ban liên hợp thời Giơ-ne-vơ với cương vị khác nhau chẳng để lại kinh nhiệm gì phong phú lắm đâu ). Anh Mười hỏi có gì cần hỏi thêm, có gì thắc mắc không, tôi đáp “ đã rõ, xin chấp hành “. Thế là hai anh bắt tay tôi, chúc “ Tiếp tục lên đường mạnh khỏe, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hẹn sớm đến ngày gặp lại “. “ May “ là lần này chỉ mất hơn hai năm chứ không phải là 21 năm như từ ngày ký hiệp định Giơ-ne-vơ. --------------- [1] Anh Mười Khang Lúc đó là Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục, Tư lệnh Miền và Phó bí thư Quân ủy Miền. Anh Sáu Dân là Ủy viên Trung ương Cục, Bí thư Khu ủy Khu 9. Ra họp Trung uuwng xong anh Mười Khang ( Hoàng Văn Thái ) ở lại, sau này là đại tướng, Ủy viên Trung ương Đang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Thương tiếc anh qua đời không lâu sau ngày thắng lợi. Anh Sáu Dân vào lại Khu 9, sau giải phóng có thời làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ rồi cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|