Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:48:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315266 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #90 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2011, 02:13:38 pm »

 
       Tôi lại lên đường ngay từ đây do cục hậu cần Miền phụ trách và phải đổi phương tiện. Không đi ô tô nữa mà chuyển sang “ xe ôm “. Tôi được đem theo một đồng chí cần vụ và một quân y sĩ [2] và thế là đoàn chúng tôi sáu xe honda ( loại đời 64-66 ): 1 xe đồng chí tổ trưởng dẫn đầu, ba xe của ba anh em chúng tôi và hai xe trở vali và đồ đạc. Tất cả trang bị vốn có từ kháng chiến đều được mang theo, trừ cái gậy của tôi. Ôi, tiếc chiếc “ gậy Trường Sơn “ trong bao nhiêu năm đã giúp cho đôi chân và con mắt khập khiễng của tôi lên núi xuống đồng, trèo đèo lội suối đi ngày đi đêm. Anh em vệ binh đã luôn tìm cách tìm khắp cánh rừng Đồng Làng ( phía tây huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam ), kiếm được một cây rất thẳng, tuổi già mà thân lại vừa cầm nắm tay, vừa cứng vừa dẻo, anh em còn cần thận vạt nhọn chân gậy và bịt đồng để khỏi mòn. Đành phải để lại, chỉ cố giữ hình ảnh nó trong một phần sâu thẳm ký ức thôi.

        Chúng tôi theo đường 13, đến khoảng giữa tỉnh Mon-đôn-ki-ri thì rẽ về Mi-mốt ( vẫn còn thuộc đất Cam-pu-chia ). Đến đâu gặp lại anh Mười Tân, phó chủ nhiệm hậu cần Miền, cũng là bạn chiến đấu cũ quen nhau từ năm 1964, cũng say ngất xỉu trong một bữa liên hoan do bộ chỉ huy Miền chiêu đãi đoàn anh Tư Thuận ( tức đồng chí Nguyễn Đức Thuận, sau này là ủy viên trung ương Đảng. Chủ tịch tổng công đoàn Việt Nam, đã qua đời ). Các anh vừa được chính quyền mới của Sài Gòn trả tự do từ chuồng cọp Côn Đảo sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Mười Tân vẫn Lùn, vẫn dí dỏm nhưng mập và già hơn nhiều ( gần 10 năm rồi ). Anh xếp cho tôi đi ngay về Lộc Ninh, với một tổ Honđa khác. Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long, nay là Bình Phước ) đã được giải phóng từ đầu năm 1972 trong chiến dịch Nguyễn Huệ cùng một số khu vực rộng lớn nối liền nhau giữa các tỉnh Bình Long, Bình Dương và Tây Ninh, liền biên giới với Cam-phu-chia.

        Có ai biết được lịch sử xe ôm có từ lúc nào và trong hoàn cảnh nào không? Riêng với tôi có lẽ là từ thời kỳ này đây, một sáng kiến tuyệt vời của cục hậu cần Miền, một phương tiện vận tải vô cùng linh hoạt, luồn lách được qua mọi nẻo đường rừng.

                              “ Chú lái trước anh ngồi sau
                                Rừng cao su ngát một màu xanh
                                Xe bay nghiêng gió dạt cành,
                                Đã quen lối tắt đường quanh hiểm nghèo.
                                Tới đâu anh cũng bám theo.
                                Áo bà ba mũ tai bèo chú em!...
”

        Một buổi sáng đến một con suối hẹp nhưng sâu, có cây cầu gỗ bắc qua dài khoảng 5 mét. Anh em cho biết: Đây là biên giới, bên kia là Tổ quốc rồi. Trước đây, khoảng cuối năm 1965, tôi đã từng hoạt động phía biên giới tình Phước Long ( nay là Bình Phước ), hàng ngày vẫn lội qua lội lại sông Đắc - Huýt, ngày “ trở về Tổ quốc “ hoạt động, đêm “ sang nước bạn “ngủ nhờ nên lần nào qua cầu biên giới Bình Long chỉ có một cảm giác nhẹ nhàng, nhưng Tố Hữu lại khác, anh đã ghi nhận một cách sâu sắc:

                                “... Đơn sơ một khúc cầu con
                                 Một khe suổi nhỏ cũng hồn quê ta
                                 Ôi gò đất mịn son pha,
                                 Thắm tươi dòng máu ông cha bao đời!
”...

        Qua Lộc Ninh anh em chở chúng tôi đi thẳng vê căn cứ Bộ chỉ huy Miền ở Tà Thiết. Đầu tiên gặp anh Hai Nhã ( tức Lương Văn Nho ) Tham mưu phó Miền [3]. Thủ trưởng cơ quan 315 là đơn vị đặc trách giúp Quân ủy và bộ chỉ huy Miền theo dõi chỉ đạo các đơn vị các đơn vị làm công tác liên hợp quân sự trong vùng địch thuộc phạm vi quản lý của Miền. Anh Hai Nhã đưa tôi đến gặp anh Chín Vinh tức đồng chí Trần Độ, Phó chính ủy Miền [4]. Anh tiếp tôi niềm nở, thông báo khái quát tình hình thắng lợi ở các chiến trường, nói chuyện tình cảm ( anh cũng đã biết tôi từ 1964, hồi đó anh vào đến cơ quan Bộ chỉ huy Miền thì tôi đang công tác ở phòng tác chiến ), còn nhiệm vụ mới thì vào trong ấy đã có anh Tư Nguyễn ( tức trung tướng Trần Văn Trà ).
-----------------
[2] Đồng chí Hoàng Hóa người dân tộc Mường, sau này xuất ngũ về tiếp tục học Đại học Sư phạm, ra làm Phó hiệu trưởng trường cấp III huyện Lương Sơn ( tỉnh Hòa Bình )
       Đồng chí Nguyễn Hưu Yểng quân y sĩ, sau giải phóng về làm Chính trị viên huyện đội quê nhà ở tỉnh Phú Thọ.

[3] Sau này là Thiếu tướng Lương Văn Nho – Thương tiếc anh sớm qua đời sau ngày thắng lợi.

[4] Sau này là Trung tướng Trần Độ, Ủy viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội, mất năm 2001 tại Hà Nội. Đáng tiếc cho ông, về cuối đời đã từ bỏ lý tưởng cách mạng, tự rời con đường của Đảng tách khỏi đội ngũ những người con của dân tộc được kính trọng, mếm yêu và tưởng nhớ muôn đời.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #91 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 10:21:14 pm »

       Anh Hai Nhã gấp rút thu xếp cho tôi đủ các trang bị tối thiểu cần thiết cho tư thế hình thức của một cán bộ đi đấu tranh ngoại giao, từ quấn áo giày mũ cho đến đôi tất, cặp kính mát và cả cái mùi xoa nữa, phải chạy ngược chạy xuôi rất chật vật vì không dự kiến trước, có cái mới cái cũ nhưng rồi cũng ổn cả. Riêng quân phục không có sẵn, anh lấy hết đưa cho tôi hai bộ bằng hàng tê-tô-rông của anh mới may, chỉ cái tội là bụng anh to hơn bụng tôi nhiều nên quá thụng thịnh, lại phải điều thợ may đến sửa cấp tốc xong cho tôi ngay trong ngày. Tình cảm của tôi đối với anh càng thêm sâu đậm.

        Sáng ngày 23 tháng 3 năm 1973 chúng tôi được ra Lộc Ninh -khoảng 9 giờ sáng hai máy bay lên thẳng từ hướng nam bay đến, trung tá Khúc Đình Bính sĩ quan liên lạc được cử ra đón [5]. Khoảng 10 giờ chúng tôi đến sân bay Tân Sơn Nhất thuộc khu quân sự không có máy bay dân dụng và hành khách, chỉ thấy vô số lính quân cảnh, tuần cảnh và xe quân sự. Phải chờ khoảng 15 phút mới có xe của đoàn ta từ “ Trại Đa-vít “ ra đón. Trong thời gian đó không biết bao nhiêu người cầm máy ảnh đến bao quanh và chụp ảnh chúng tôi, nhất là tôi, bấm máy lách cách liên tục với tất cả các góc độ có thể. Có người mặc quân phục có người thường phục, nhưng qua thái độ và cử chỉ thì có lẽ hầu hết là quân lính. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp cận môi trường đối phương, và cảm xúc đầu tiên là một ấn tượng mạnh mẽ sâu sắc - mặc dù đã được báo và chuẩn bị tư tưởng từ trước - về phong cách xử sự kém văn minh lịch sự, kém văn hóa của một đội quân tay sai đế quốc Mỹ.
 
        Thiếu tá Nguyễn Ngọc Diễm [6] chánh văn phòng đoàn đón chúng tôi về doanh trại, đường xe đi chừng năm sáu trăm mét nhưng sau này mới biết thực ra chỉ cách một khoảng sân bê tông, một bức tường ngăn và mấy dây hàng rào bùng nhùng.
Và thế là trưa thứ sáu ngày 23 tháng 3 năm 1973 tôi đã đến “ Trại Đa-vít “, từ đây gắn cuộc đời chiến đấu của mình vào nhiệm vụ mới liên tục cùng với các đồng chí và anh chị em khác cho đến ngày quân đội ta vào chiếm lĩnh Tân Sơn Nhất và Sài Gòn, thật sự và hoàn toàn giải phóng miền Nam. Chỉ hơn hai năm mà thấy nó dài hơn 12 năm lăn lộn khắp chiến trường.
 
        Tôi được gặp ngay anh Trà và anh Hòa [7] hai anh tiếp tôi niềm nở, thân tình, cùng với các đồng chí khác trong hai bên lãnh đạo hai đoàn. Anh Trà là thủ trưởng cũ từ năm 1964 rồi, anh Hòa thì lần đầu gặp ở đây, nhưng trong hoàn cảnh đặc biệt này thấy thân thiết ngay. Tôi lần lượt gặp chào tất cả các đồng chí các bộ chiến sĩ hai đoàn, bạn bè thân quen cũ cũng nhiều và cũng không ít người chưa biết mặt mà cũng lạ thay, đều cùng mừng rỡ chan hòa ngay không hề phân biệt. Đối phương bố trí cho cả hai đoàn ta cùng chia nhau ở chung một khu doanh trại, lại là doanh trại của một đơn vị cơ sở, hầu hết tiện nghi đều công cộng, đây là một dụng ý xấu của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn, chưa kể việc doanh trại này còn nằm sâu trong khu căn cứ quân sự xa phố xá và nhân dân. Nhưng họ không hiểu được rằng đây lại là một điều hay, rất hay. Hai đoàn ta cùng chung một cội nguồn, nhằm chung một cái đích, được ở cùng nhau một chỗ là vô cùng thuận lợi, tuy hệ thống tổ chức và chỉ đạo nội bộ khác nhau nhưng là một khối thống nhất, hai mà là một, một lại là hai, đối phương và mọi luồng dư luận đều thấy mà chẳng làm gì chia rẽ được. Giả dụ họ khôn hơn, xếp cho mỗi đoàn ở một nơi cách xa nhau, dù tiện nghi có sang trọng thỏa đáng đến mấy thì sự phối hợp hành động cũng chắc chắn sẽ khó khăn trở ngại hơn nhiều. Tôi vào “ Trại Đa-vít “ 5 ngày trước khi ban liên hợp quân sự bốn bên kết thúc nhiệm vụ. Tôi được dự ba phiên họp cuối cùng của ban liên hợp quân sự bốn bên trung ương, được trung tướng Trần Văn Trà giới thiếu tướng phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời ( bổ sung thêm với ba phó trưởng đoàn đã có ). Ngày 28 tháng 3 năm 1973, trong cuộc họp cuối cùng thiếu tướng Lê Quang Hòa ( chủ vị theo chế độ luân phiên ) tuyên bố ban liên hợp quân sự bốn bên đã hoàn thành sứ mạng giải thể.
 
        Sáng thứ năm 29 tháng 3 năm 1973, ban liên hợp quân sự hai bên trung ương họp phiên đầu tiên, đoàn ta vẫn do trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn, các phó trưởng đoàn là tôi thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, đại tá Võ Đông Giang ( cũ ), đại tá Bùi Thanh Khiết ( mới ) đại tá Nhuyễn Văn Sĩ ( mới ) [8] . Phiên họp này quyết định thành lập các tiểu ban để giúp hai trưởng đoàn trong từng lĩnh vực cần giải quyết theo quy định của hiệp định. Khởi động bộ máy mới xong, anh Trà coi như hoàn thành nhiệm vụ ở đây, giao công việc lại cho tôi và chuẩn bị ra đi. Anh cũng chẳng giao dặn gì nhiều và cụ thể, triệu tập các đồng chí trong ban lãnh đạo đoàn lại, bảo “ công việc mới mẻ và phức tạp lắm, kẻ địch thì tráo trở và ngoan cố, luôn tìm cách vi phạm, tuy nhiên những kẻ yêu cầu bức thiết của ta đã đạt được: Tống hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam rồi, nhận lại một số lớn cán bộ chiến sĩ ta bị bắt. Bây giờ anh em hãy đoàn kết bàn bạc tập thể với nhau và làm, phối hợp chặt chẽ với các đồng chí đoàn A ( tức đoàn đại biểu quân sự chính phủ cộng hòa trong tổ liên hợp quân sự bốn bên ), cố đấu tranh đòi thực hiện tiếp một số điều khoản quan trọng nữa, đặc biệt chú ý: Duy trì ngừng bắn, trao trả nhân viên, dân sự ( tù chính trị ), phân định vùng kiểm soát, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh dư luận, tranh thủ ủy ban quốc tế, tố cáo mạnh mẽ địch vi phạm hiệp định, phối hợp tốt đấu tranh dư luận với hoạt động của chiến trường. Giữ đếu liên lạc với hậu phương ( cả Hà Nội và Miền ) để báo cáo, nhận thông báo tình hình và chỉ thị “.
---------------
[5] Anh Khúc Đình Bính là người dân tộc quê ở Quảng Ninh, sau ngày giải phóng là đại tá công tác ở Hà Nội – thương tiếc anhđã sớm qua đời vì bệnh hiểm nghèo.

[6] Sau này là Đại tá Nguyễn Ngọc Diễm.

[7] Trung tướng Trần Văn Trà trước khi vào Ban Liên hợp quân sự là Phó tư lệnh Quân giải phóng Miền, từ trại Đa-vít trở về làm Tư lệnh Quân giải phóng Miền, phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, sau giải phóng làm Chủ tịch ủỵ ban quân quản thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, sau là Tư lệnh Quân khu 7, rồi Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Anh qua đời đột ngột năm 1997 vì bạo bệnh trên đường đi chữa bệnh ở nước ngoài về.
        Thiếu tướng Lê Quang Hòa là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, vào trại Đa-vít làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương, sau về lại Tổng cục Chính trị, lên thượng tướng - Anh qua đời năm 1993, tại Hà Nội.

[8]  Đồng chí Võ Đông Giang là cán bộ dân sự, Vụ trưởng thuộc Ban thống nhất Trung ương đang làm đại sứ lưu động thì dược gọi về làm Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương với quân hàm đại tá, và chuyển sang hai bên cho đến cuối. Sau giải phóng đồng chí về làm Thử trưởng Bộ Ngoại giao rồi Bộ trưởng biệt phái tại Bộ Ngoại giao, rồi chuyển qua tham gia thành lập Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đồng chí đã qua đời.
         Đại tá Bùi Thanh Khiết là Phó chủ nhiệm Cục Chính trị Miền rồi Chính ủy Quân khu 9 (miền Tây Nam Bộ), rồi làm Phó trưởng đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương.
        Sau giải phóng đồng chí là ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục. Đồng chí dã qua đời.
        Đại tá Nguyên Văn Sĩ là Tham mưu phó Miền, ra làm Phó trưởng đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương đến trước chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau này là thiếu tướng - Phó tư lệnh Quân khu 9. Đồng chí đã qua đời

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #92 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 10:23:34 pm »

        Sau khi khéo thu xếp khắc phục được khó khăn và sự tế nhị về việc anh Trà trở về luôn chiến trường mà không để cho địch biết được ý định của ta, sáng 30 tháng 3 năm 1973, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng thiếu tướng Lê Quang Hòa cũng lên máy bay Mĩ trở về Hà Nội, để lại một bộ phận tham gia tổ liên hợp quân sự bốn bên phụ trách điều 8b của hiệp định về “ tìm kiến người chết và mất tích “.
Đầu tháng 5 năm 1973, tôi nhận được giấy ủy nhiệm của chủ tịch chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam cử làm trưởng đoàn. Tôi tham gia ban liên hợp quân sự hai bên vào lúc ban liên hợp quân sự bốn bên giải thể, cũng là thời điểm mà việc thi hành tương đối có hiệu quả hiệp định Pa-ri ( tuy cũng chỉ được vài điều khoản nhưng là những điều khoản rất quan trọng ) coi như cơ bản kết thúc, Mỹ đạt được hai yêu cầu bức thiết là rút quân gọn, an toàn và nhận lại hết người của họ bị bắt. Từ nay Mỹ không còn gì thúc bách nữa nên họ khuyến khích hoặc làm ngơ cho ngụy quyền Sài Gòn phá hoại hiệp định. Ta đấu tranh đòi được việc phía Sài Gòn cùng bàn bạc thực hiện một số đợt trao đổi nhân viên dân sự ( tù chính trị ) trong năm 1973 và đầu năm 1974, nhân việc chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cho Mỹ nhận 23 bộ hài cốt Mỹ vào tháng 3 năm 1974. Về các mặt khác, lúc đầu đoàn Sài Gòn làm ra vẻ cũng muốn thi hành hiệp định, cũng nêu một số vấn đề thảo luận, nhưng chỉ là những trò giả tạo, nghi binh cho các hành động chiến tranh của họ trên chiến trường.

        Theo từng bước chỉ đạo của cấp trên, dần dần nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi tập trung vào đấu tranh tranh thủ dư luận, phát huy cuộc đấu tranh này trên cả 3 mặt trận địa:
 
        -   Tại các phiên họp của ban liên hợp quân sự.
 
        -   Trong quan hệ với ủy ban quốc tế

        -   Trong tiếp xúc với các nhà báo quốc tế và các cuộc họp báo hàng tuần.
 
        Cuộc chiến đấu không súng đạn này thật gian truân vất vả, lắm lúc dễ gây chán nản, không tránh khỏi đôi khi nuối tiếc đời họat động sôi nổi ở chiến trường, nhất là từ sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột.
 
                       “ Đã hay đâu cũng say tiền tuyến
                         Mà vẫn băn khoăn mộng chiến trường “ mà!
 
        Phải, tự động viên mình, động viên lẫn nhau, làm công tác tư tưởng với cả đơn vị để giữ vững quyết tâm trên mặt trận mới, quán triệt yêu cầu nóng bỏng của cách mạng là phải tranh thủ cho được sự đồng tình ủng hộ hoặc ít nhất cũng là sự chấp nhận của dư luận thế giới đối với tình thế bất đắc dĩ buộc ta phải kiên quyết đánh trả các hành động chiến tranh của ngụy quyền nguyễn Văn Thiệu. Đáng phấn khởi là, với trận quyết chiến lược tiến tới hoàn toàn giải phóng miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, các tin tức được phát đi từ Sài Gòn đã ghi nhận và nêu bật khá khách quan thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, không còn chuyện vạch lá tìm sâu như buổi ban đầu trước đó hai năm nữa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #93 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 10:24:31 pm »


*

*          *

        Ba năm đã đi qua từ thắng lợi cách mạng tháng 5 năm 1975, với hai cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ, hai hiệp định đình chiến và một trận quyết chiến lược cuối cùng.

        Hiệp định Giơ-ne-vơ kết thúc tháng 9 năm kháng chiến chống pháp đã giải phóng được gần nửa đất nước. Hiệp định được thi hành thuận lợi trong 300 ngày. Sau khi việc tập kết quân sang hai bên giới tuyến quân sự tạm thời được hoàn thành thì Pháp phủi tay, lặng lẽ rút lui nhường miền Nam cho Mỹ xây dựng, viện trợ tiền của và vũ khí ngày càng mạnh lên và xé bỏ hiệp định Giơ-ne-vơ trong khi miền Bắc mới bắt đầu xây dựng.

        Phải mất 5 năm, đến 1959 Đảng mới có được nghị quyết trung ương15 khẳng định sự nghiệp giải phóng miền Nam chỉ có thể thực hiện được bằng sự bạo lực cách mạng.

        Đánh Mỹ và chế độ ngụy quyền Sài Gòn tay sai Mỹ khó khăn ác liệt hơn chống Pháp bội phần. Phải đánh liên tục 13 năm ( từ 1960 đến 1973 ) với phương châm đẩy lùi địch từng bước giành thắng lợi từng phần mới đi đến hiệp định Pa-ri.
 
        -   Năm năm đánh bại chiến tranh đặc biệt với quân ngụy và tiền bạc vũ khí cùng cố vấn Mỹ.
 
        -  Mỹ phải đưa quân vào trực tiếp tiến hành chiến tranh cục bộ, trong 3 năm đã đưa tổng lực lượng đến hơn nửa triệu quân Mỹ, hơn mười vạn quân 5 nước đồng minh của Mỹ cùng 1,2 triệu quân ngụy. Sau 3 năm làm thất bại 4 chiến dịch phản công tổng lực của cả quân Mỹ ngụy và chư hầu, đòn tập kích chiến lược Tết Mậu Thân 1968 đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán, và đã thúc đẩy quá trình đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ.
 
        Gần 5 năm vừa đánh vừa đàm đã đưa đến sự thỏa thuận về toàn bộ nội dung hiệp định, nhưng cũng phải đến sau trận Điện Biên Phủ trên không Hiệp định Pa-ri mới được ký kết.
 
        Hiệp định Pa-ri đánh dấu một bước thắng lợi rất to lớn, một bước ngoặt, thực hiện trọn vẹn yêu cầu “ đánh cho Mỹ cút “, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng giữa ta và địch. Nhưng hiệp định Pa-ri cũng chỉ được thực hiện trong 60 ngày.

        Phải hơn hai năm nữa và cũng phải thông qua bạo lực cách mạng mới quét sạch đến tên xâm lược cuối cùng, giải phóng hòan toàn miền Nam tiến tới thống nhất tổ quốc.

        Công lao vĩ đại thuộc về các lực lượng vũ trang trùng điệp của cả nước. Lực lượng cán bộ chiến sĩ và cán bộ nhân viên dân sự tham gia đấu tranh liên điệp của nhà nước. Lực lượng cán bộ chiến sĩ và cán bộ nhân viên dân sự tham gia đấu tranh liên hợp quân sự cả bốn bên và hai bên, cả các đoàn miền Bắc và miền Nam trước sau vẻn vẹn không đến 500 người cũng đã góp phần tích cực của mình trên mặt trận khá độc đáo: Chính thức công khai đại diện cho chính quyền và quân đội cách mạng đứng sâu trong trung tâm đầu não của địch cho đến ngày cuối cùng để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa của công cuộc chiến đấu vũ trang “ đánh cho ngụy nhào “, thực hiện mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà hiệp định Pa-ri đã công nhận.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #94 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 10:56:14 pm »



ĂN TẾT TRONG TRẠI ĐA-VIT

Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ                  

     Nguyên là Trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự bốn bên.
        Thượng tướng đã đi xa, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài “ Ăn tết trong trại Đa-vít của thượng tướng viết năm 1995.


        Đây là một cái tết rất đặc biệt, cả đời người hẳn chỉ có một lần. Đó là cái tết Quý Sửu năm 1973 của tôi.
 
        Ngày 27 tháng 1 năm 1973. Hiệp định Pa-ri được ký kết quy định thành lập ban liên hợp quân sự bốn bên. ( Mỹ - ngụy Sài Gòn, Việt Nam dân chủ cộng hòa và cách mạng lâm thời chính phủ miền Nam Việt Nam ) để bàn việc thi hành hiệp định. Tôi được quyết định làm trưởng đoàn quân sự chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hai đoàn quân sự của ta do Mỹ đón bằng máy bay và trực thăng từ Hà Nội vào Lộc Ninh vào Sài Gòn để ăn và họp ở đấy, tại trại lính cũ – trại Đa-vít, trong sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy tới chậm theo quy định theo quy định nhưng đến ngày 1-2 chúng tôi đủ mặt để ngày 2 tháng 2 họp phiên đầu. Mỹ đòi họp tiếp ngày 3-2 nhưng tôi phản đối và cả đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và ngụy quyền Sài Gòn cũng đồng tính thống nhất là phải nghỉ ngày ấy vì là ngày 1 tết âm lịch là tết truyền thống của dân tộc Việt Nam ta. Mỹ phải chịu.
 
        Đoàn chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ăn tết trước ở Lộc Ninh rồi, nhưng vì sau bao năm chiến tranh, lần đầu tiên sống ở đất Sài Gòn thân yêu của mình, chúng tôi muốn được tận hưởng những phút bình yên nhất bên cạnh tách trà và một ít bánh mứt đem theo, để nhớ công đức ông cha đã tạo dựng được xứ sở đẹp đẽ này mà ta sẵn sàng đem xương máu ra giữ nó.
 
        Đêm giao thừa, chúng tôi chúc tết lẫn nhau, cả hai đoàn, miền Bắc, miền Nam xen kẽ. Một không khí đầm ấm vui tươi. Một xã hội cỏn con chan hòa tỉnh cảm, thống nhất tâm tư, trong vòng thành và lô cốt bảo vệ của kẻ địch. Mùi khói thuốc “ Thăng Long “ quyện với hương cà phê Lộc Ninh ngọt ngào lan tỏa – nhưng cả trại chỉ có một gốc đào Ngọc Hà cưỡi máy bay C.130 và một cành mai vàng mang trên trực thăng từ rừng căn cứ. Đủ lắm rồi hương vị một mùa xuân!
 
        Từ một góc nào đó anh em đã mở nghe đài tiếng nói Việt Nam, một giọng thơ ngân dài:
 
                                       “ Ta lại về ta, những đứa con
                                          Máu hòa trong máu, đỏ như son
                                         Sài Gòn ơi, Huế ơi! Xin đợi
                                         Tái hợp huy hoàng, cả nước non!
”

        Khoảng 3 giờ sáng ngày 1 tết, tôi đang ngủ say thì bị lay dậy báo cáo” địch đang uy hiếp bằng trực thăng vũ trang và bao vây bằng xe bọc thép, ta phản đối với sĩ quan liên lạc nhưng không có kết quả mà địch càng lồng lộn điên cuồng”. Hỏi rõ đầu đuôi tôi mới biết rằng, một đồng chí thông tin của đoàn anh Hòa cao hứng treo cờ đỏ sao vàng trên cột ăng ten để ăn tết. Toàn bộ các vọng gác của địch xung quanh rộn rịp. Bốn trực thăng quần đảo, rà soát gầm rú trên nóc nhà, chiếu đèn pha vào trại sáng rực. Ngoài cổng 6 chiếc xe tăng bọc thép rít bánh sắt xuống đường, các xe lớn đổ quân bao vây trại, súng ống cắm lưỡi lê sáng lòa. Xe quân cảnh rú còi inh ỏi. Tất cả náo động một vùng như có một trận đánh lớn.
 
        Đôi bên đang thảo luận về các thủ tục như dùng cờ, giấy chứng minh đi lại,v v... chưa ngã ngũ... Vì vậy thấy cờ đỏ sao vàng xuất hiện chúng hốt hoảng phản ứng mạnh đòi rút cờ. Anh em ta thì cứng ngắt không nghe.
 
        Tôi phải gặp anh Hòa thuyết phục: Chưa nhất trí thì không treo cờ. Chúng đã cứng ta phải mềm mà xử, chúng như lửa ta lấy nước mà dập tắt. Đây chỉ là chuyện nhỏ, nhân nhượng một chút không là gì cả. Thi hành hiệp định như ngừng bắn... mới là chuyện lớn cần giữ vững nguyên tắc. Nghe ra anh em ta rút cờ. Thế là mọi việc êm thấm. Chúng rút lui mọi lực lượng. Không khí trở lại yên bình để anh em vui tết trọn vẹn ngày mùng 1.
 
        Qua ngày sau họp 4 trưởng đoàn, 2 trưởng đoàn ta phản kháng mạnh mẽ. “ Các ngài quen dùng vũ lực tàn bạo để đe dọa những kẻ yếu bóng vía. Bom đạn của Mỹ nhiều thật nhưng đã bất lực rồi, chúng tôi vào đây chỉ để nói chuyện hòa bình hòa giải, không phải để chiến đấu. Các ngài có biết rằng nếu quân giải phóng chúng tôi, chỉ quan sát Sài Gòn đây thôi, biết rằng các ngài đón khách kém văn hóa, kém văn minh, láo xược và thô bạo như vậy thì sẽ nghĩ và làm gì không?”
 
        Tướng Út-uốt, Trưởng đoàn Hoa Kỳ, giả hay thật không rõ, tỏ ra ngơ ngác không biết có chuyện xảy ra, ngó qua Ngô Du, trưởng đoàn ngụy Sài Gòn. Du lúng túng đổ cho lực lượng sân bay của không quân vì họ có trách nhiệm bảo vệ. Để qua đi sự việc này, tôi nhấn mạnh chúng tôi yêu cầu những hành động khoa trương sức mạnh súng đạn không bao giờ xảy ra nữa.
 
        Chúng tôi ăn tết Quý Sửu năm 1973 giữa Sài Gòn trong vòng vây của địch như vậy đó. Vừa đánh địch đau điếng ở chiến trường nay vào tận sào huyệt của chúng nói chuyện hòa bình. Chúng tức khí đấy thôi. Kẻ địch đã mê muội không hiểu ngay sức lực của mình, không hiểu cha đỡ đầu Hoa Kỳ đã mất hết ý chí xâm lược. Vì vậy chúng ta phải tạo ra những mùa xuân thực sự hòa bình và hạnh phúc, những mùa xuân rực rỡ sau 30 tháng 4.

                                                                                                                       Xuân năm 1995
                                                                                                                       TRẦN VĂN TRÀ

« Sửa lần cuối: 02 Tháng Hai, 2011, 11:56:46 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #95 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:08:16 pm »



HỒI ỨC CỦA NHÀ QUÂN SỰ

ĐOÀN HUYÊN                  

     Thiếu tướng Đoàn Huyên là thành viên Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam và là Phó trưởng đoàn đại biểu quan sự  Chinh phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quán sự bốn bên và hai bên tại "Trại Đa-vit".
        Đồng chi đã đi xa, chúng tôi xin trích đăng phần nói về thời kỳ đầu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri trong bài "Hồi ức của nhà quán sự" đã in trong tập sách "Mặt trán Dân tộc giải phóng. Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam"

TIẾN VỀ SÀI GÒN

        Đầu năm 1973, khi Hiệp định Pa-ri có triển vọng sắp được ký kết, tôi nhận được quyết định làm Phó trưởng đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, từ Pa-ri về Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên để đấu tranh thi hành Hiệp định.

        Đối với tôi đây là một vinh dự và niềm vui lớn. Không chỉ vì nguồn vui chung được "đánh cho Mỹ cút" và nay bước sang "đánh cho ngụy nhào", mà còn vì một lẽ riêng đặc biệt sâu sắc: đây là lần thứ hai tôi được nhận nhiệm vụ Nam tiến, trở lại mảnh đất Sài Gòn thân yêu - sau gần mười nghìn ngày kháng chiến liên tục, kể từ trận chiến đấu đầu tiên tại cầu Bình Lợi ngay ở cửa ngõ Sài Gòn, cùng đơn vị Giải phóng quân Thuận Hóa và Chi đội 3 Nam Long, sau ngày 23 tháng 9 năm 1945 mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân Nam Bộ.

         Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam làm trưởng đoàn, hình thành từ ba nguồn: từ vùng giải phóng Lộc Ninh) ra, từ Pa-ri về và Hà Nội vào.

         Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, cũng là lúc lễ ký kết chính thức Hiệp định Pa-ri diễn ra giữa các Bộ trưởng Ngoại giao bốn bên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Klê-béc (Pa-ri), tôi đáp máy bay về thẳng Sài Gòn cùng một số sĩ quan và phiên dịch để kịp họp cấp phó trưởng đoàn chuẩn bị cho việc triển khai Ban Liên hợp quân sự bốn bên, như đã thỏa thuận giữa các trưởng đoàn bốn bên tại Hội nghị Pa-ri. Một bộ phận của Phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Đại tá Lưu Văn Lợi, chuyên viên cấp cao, dày dạn kinh nghiệm ngoại giao, được chỉ định làm Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hoà dẫn đầu cũng từ Pa-ri về. Theo sự thỏa thuận với phía Mỹ ở Pa-ri, một trung tá Mỹ chịu trách nhiệm hướng dẫn và hộ tống cả hai đoàn về trại Đa-vít, trụ sở chung của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà trong khu vực Tân Sơn Nhất. Cùng đi còn có Phó trưởng đoàn Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

        Trưa 28 tháng 1 năm 1973, đến Băng Cốc, tạm nghỉ tại sân bay, có một đại diện Bộ Ngoại giao Thái Lan ra đón. Chiểu hôm ấy, một máy bay quân sự của Mỹ đưa chúng tôi về Tân Sơn Nhất, đỗ tại khu vực sân bay quân sự.

NHỮNG VI PHẠM ĐẦU TIÊN CỦA PHÍA ĐỐI PHƯƠNG

        Máy bay chở hai đoàn chưa kịp đô hẳn thì đã thấy mấy toán cảnh sát an ninh của Sài Gòn ùa đến cửa máy bay, lập hàng rào ngăn chặn không để chúng tôi bước xuống đất lấy chút gió giữa cái nắng như bốc lửa của sân bay vào mùa nắng mới. Vụ rắc rối đầu tiên đã xảy ra do phía Sài Gòn cố tình gây ra. Ta đã từng biết tuyên bố của Thiệu "chính sách 4 không" [1] : "không nhìn nhận kẻ thù; không trung lập hóa Nam Việt Nam; không có Chính phủ Liên hợp; không nhượng lãnh thổ cho kẻ thù". Vì vậy, mặc dù cho đến cuối cùng, dưới sức ép tối đa của Ních-xơn "hoặc là ký Hiệp định, hoặc là cắt giảm viện trợ", Thiệu không còn cách lựa chọn nào khác, buộc phải chấp nhận ký Hiệp định Pa-rì, nhưng ngay từ khi Hiệp định ký chưa ráo mực thì chúng đã ráo riết chống phá một cách có hệ thống.
        
        Khi hai đoàn ta chưa kịp bước ra khỏi máy bay thì nhân viên phía Sài Gòn đã chìa ra những mẩu giấy in sẵn, có tiêu đề "Việt Nam cộng hòa" và "Giấy xin nhập cảnh", yêu cầu đề vào để "làm thủ tục nhập cảnh". Họ muốn, thể hiện chủ quyền của Việt Nam cộng hoà. Đồng chí Lưu Văn Lợi và tôi thống nhất không chấp nhận: "Việc thành viên hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà từ Pa-ri về Tân Sơn Nhất để tiến hành những phiên họp đầu tiên cấp phó trưởng đoàn chuẩn bị cho việc triển khai Ban Liên hợp quân sự bốn bên, đã được các phái đoàn bốn bên ở Pa-ri thỏa thuận", và nhìn về phía trung tá Mỹ đứng cạnh, tôi nói: "Chính trung tá đã được giao nhiệm vụ từ Pa-ri hộ tống và hướng dẫn hai đoàn chúng tôi về trụ sở ở trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất, để kịp tham gia cuộc họp đầu tiên của các phó trưởng đoàn Ban Liên hợp quân sự bốn bên đã được quy định vào ngày 28 tháng 1 năm 1973. Nếu phía các vị gây khó khăn và cuộc họp dự kiến hôm nay của các phó trưởng đoàn không tiến hành được thì coi như các vị đã cản trở việc thi hành Hiệp định ngay từ ngày đầu và phải chịu lấy trách nhiệm...".

       Ta đề nghị với đại biểu đoàn Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế làm việc với phía Mỹ và Sài Gòn để hai đoàn ta sớm được về trụ sở như đã thỏa thuận. Đồng chí hứa sẽ tích cực đấu tranh với Sứ quán Mỹ và phía Sài Gòn để giải quyết. Còn viên trung tá Mỹ đến xế chiều mới đến phân bua rằng đã báo cáo lên trên và "chờ Oa-sinh-tơn can thiệp..." đổ lỗi cho phía Sài Gòn. Cuộc đấu tranh kéo dài từ chiều 28 tháng 1 năm 1973 đến chiều 29 tháng 1 năm 1973, cả hai đoàn ngồi trên máy bay, không nhân nhượng. Tối 28 tháng 1 năm 1973, đúng vào thời gian đã sắp xếp để họp phiên đầu của các phó trưởng đoàn Ban Liên hợp quân sự bốn bên, Đoàn Mỹ gửi cho ta công hàm phản đối việc hai đoàn ta không đến họp. Ta trả lời cực lực phản đối phía Mỹ và phía Sài Gòn đã cố tình gây khó khăn cản trở, đòi họ phải lập tức đưa ta về trụ sở dành cho hai đoàn mà không được kèm theo bất cứ điều kiện nào. Họ buộc phải xoa dịu và lại đổ tội cho Sài Gòn.
----------
[1] Jerrold L.Schectcr. TS. Nguyễn Tiến Hưng: Từ Tòa Bạch ốc đến dinh Độc Lập, Nxb Trẻ. Thành phố Hồ Chí Mình. 1990.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #96 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:10:36 pm »


        Sáng 29 tháng 1 năm 1973, phía Sài Gòn hạ thấp yêu cầu, đề nghị chỉ lập bản "manifest", tức bản kê khai danh sách kèm theo cấp bậc, chức vụ từng thành viên của mỗi đoàn, họ sẽ tự làm thủ tục nhập cảnh. Ta vẫn một mực phản đối.

        Cuối cùng do sức ép của phía Mỹ, khoảng 14 giờ ngày 29 tháng 1 năm 1973, phía Sài Gòn buộc phải bỏ qua thủ tục nhập cảnh cũng như làm "manifest" và phía Mỹ đã đưa xe đến đón ta về trụ sở dành cho hai đoàn tại trại Đa-vít.

        Tối hôm đó, 29 tháng 1 năm 1973, các phó trưởng đoàn bốn bên họp phiên đầu tiên.

        Đồng thời với bộ phận từ Pa-ri về do Đại tá Đặng Văn Thu (tức Đoàn Huyên), phó trưởng đoàn dẫn đầu, tại Hà Nội đồng chí Võ Đông Giang - đại sứ lưu động của Chính phủ Cách mạng lâm thời - cũng được chỉ định làm đại tá phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và ngày 28 tháng 1 năm 1973 cùng với Trung tá Nguyễn Đôn Tự (sau này là thiếu tướng) phụ trách tiền trạm của Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà, đi theo chuyến máy bay của Ủy ban Quốc tế vào Sài Gòn; cùng đi có một đại biểu Đoàn Ba Lan. Lại diễn ra ở sân bay Tân Sơn Nhất cái cảnh như đã xảy ra đối với hai đoàn từ Pa- ri về. Chẳng hẹn gì trước với nhau nhưng các đoàn của ta đều không chấp nhận yêu cầu làm "Giấy xin nhập cảnh" của nhân viên an ninh phía Sài Gòn; Việt Nam là một nước, người Việt Nam từ miền Bắc vào miền Nam, việc gì phải "nhập cảnh". Hơn nữa máy bay này là của Ủy ban Quốc tế được quyền đi lại ở Việt Nam để làm nhiệm vụ kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp định, phía ta đã bàn với phía Mỹ và Sài Gòn ở Pa-ri và đã làm mọi thủ tục cần thiết với ủy ban Quốc tế rồi. Đồng chí đại biểu của Đoàn Ba Lan đã tích cực can thiệp với phía Mỹ - Sài Gòn tại nhà ga sân bay và tự mình làm một danh sách và cấp bậc cán bộ hai đoàn ta đã được ủy ban Quốc tế đồng ý cùng đi từ Hà Nội vào Sài Gòn làm nhiệm vụ trong Ban Liên hợp quân sự và nhấn mạnh với họ không nên gây khó khăn và cản trở những người đi tiền trạm làm nhiệm vụ để thi hành Hiệp định.

        Cũng trong ngày 28 tháng 1 năm 1973, hai máy bay C130 của Mỹ, cùng lúc đưa Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thiếu tướng Lê Quang Hòa (sau này là thượng tướng), Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm trưởng đoàn, Đại tá Hoàng Hoa là phó trưởng đoàn. Cùng đi chuyến này, còn có một số cán bộ khác của miền Nam đang công tác và học tập ở Hà Nội, nay được quyết định vào Sài Gòn để nhận công tác trong Ban Liên hợp quân sự trung ương và khu vực. Đến Tân Sơn Nhất, cả hai đoàn này đều bị gây khó khăn như đã xảy ra đối với đoàn ở Pa-ri về. Cả hai đoàn đều phản đối không chịu làm thủ tục nhập cảnh và cũng phải ở lại trên máy bay trong ngày 28 tháng 1 đến chiều 29 tháng 1, và cuối cùng buộc phía Mỹ - Sài Gòn phải giải quyết đưa về trụ sở của ta ở trại Đa-vít.

        Những cán bộ của hai đoàn đã về trại Đa-vít đều sốt ruột chờ đợi đoàn của Trung tướng Trần Văn Trà đáng lý theo thỏa thuận đã phải được đón từ vùng giải phóng vào Tân Sơn Nhất và trại Đa-vít trong ngày 28 tháng 1 năm 1973. Điểm hẹn để máy bay trực thăng của Mỹ đến đón đoàn là sân bay Thiện Ngôn, Ở phía Bắc Tây Ninh, trong chiến tranh là căn cứ một chiến đoàn Mỹ, sau chuyển giao cho quân đội Sài Gòn và đã bị ta tiêu diệt trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.

        Nhưng một vụ phá hoại Hiệp định trắng trợn và nghiêm trọng lại xảy ra tại đây: đúng giờ hẹn, máy bay trực thăng Mỹ không đến đón, trái lại hai máy bay chiến đấu của không quân Sài Gòn lại đến lượn và ném bom quanh sân bay Thiện Ngôn! Ta đã cảnh giác đề phòng nên không bị tổn hại gì và cũng đã chuẩn bị sẵn một địa điểm khác là sân bay Lộc Ninh. Thị trấn Lộc Ninh phía Bắc tỉnh Bình Long (nay thuộc Sông Bé) trên quốc lộ 13 sát biên giới với Cam-pu-chia, đã được giải phóng năm 1972, được coi là thủ phủ của vùng giải phóng miền Nam Việt Nam, nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời và các cơ quan lãnh đạo chỉ huy Miền.

        Trong phiên họp đầu tiên cấp phó đoàn, hai đoàn ta đã nghiêm khắc lên án hành động lật lọng và phá hoại Hiệp định của phe Mỹ, đòi Mỹ phải trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm tuyệt đối an toàn cho đoàn của Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam từ địa điểm đón mới là Lộc Ninh về Tân Sơn Nhất và trại Đa-vít.

        Trong hai ngày 1 và 2 tháng 2 năm 1973, máy bay trực thăng Mỹ đã đón hết đoàn ta vào Tân Sơn Nhất và đón về trại Đa-vít thông suốt.

        Nhân dân Lộc Ninh và các đơn vị Quân Giải phóng đã tổ chức mít tinh trang trọng tiễn đoàn trong không khí ngày hội chiến thắng.

        Thái độ bất chấp Hiệp định đã được ký kết, những cản trở và vi phạm đối với đoàn ta tiến về Sài Gòn để triển khai Ban Liên hợp quân sự bốn bên, đặc biệt là cuộc ném bom vào sân bay Thiện Ngôn cùng những tin tức nhận được từ Bộ chỉ huy quân sự Miền thông báo trong những ngày đầu trước và sau ngày lệnh ngừng bắn có hiệu lực (kể từ 24 giờ GMT ngày 27-l-1973) đã cho thấy Mỹ và Sài Gòn rắp tâm phá hoại Hiệp định ngay tử đầu.

        Cuộc đấu tranh để thi hành Hiệp định Pa-ri chắc chắn sẽ ngày càng gay go và phức tạp!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #97 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:15:18 pm »


TRẠI ĐA-VÍT

        Căn cứ vào Nghị định thư về các Ban Liên hợp quân sự, Ban Liên hợp quân sự bơn bên đóng tại Sài Gòn. Trong cuộc họp chuyên viên bốn đoàn, trước khi Hiệp định được ký kết, tại Pa-ri phía Mỹ đề nghị đặt nơi ở và làm việc của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời tại một địa điểm trong khu vực Tân Sơn Nhất và đưa ảnh giới thiệu khu trại Đa-vít làm trụ sở chung của hai đoàn.

        Hôm tôi sang Soa-di Lơ Roa để chào các đồng chí lãnh đạo Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và các đồng chí Đoàn A (Việt Nam dân chủ cộng hoà) trước khi bay về Sài Gòn theo nhiệm vụ được giao, bất chợt gặp đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, vừa mới từ cuộc họp chuyên viên giữa ta với Mỹ.

        Biết tôi sắp về Tân Sơn Nhất, anh vui vẻ bắt tay và kéo tôi ngay vào phòng làm việc, chìa ngay ra cho tôi mấy tấm ảnh màu giới thiệu trại Đa-vít, phía Mỹ vừa trao cho anh sáng hôm ấy. Anh nói :"Thời gian quá gấp nên ta không thể đặt vấn đề cử tiền trạm đi xem trước ở thực địa. Tạm đồng ý với phía Mỹ như vậy để Ban Liên hợp quân sự bốn bên kịp triển khai hoạt động. Nhưng tôi đã nhấn mạnh với họ, đây chỉ là địa điểm tạm thời, còn trụ sở chính thức lâu dài của hai đoàn ta phải được đưa vào trong thành phố Sài Gòn. Họ đã ghi nhận yêu cầu của ta, anh nhớ báo cáo lại với anh Trà và anh Hòa, cần tiếp tục đấu tranh với họ về vấn đề này".

        Trại Đa-vít vốn là doanh trại của một đơn vị chuyên môn thuộc không quân Mỹ, mang tên này để tưởng niệm quân nhân Mỹ đầu tiên chết tại miền Nam Việt Nam.

        Khi ta vào triển khai ở trại này, còn thấy một tấm bia ghi rõ tên của Đa-vít.

        Trại này ở gần sát phía tây nam sân bay Tân Sơn Nhất, phía tây giáp với nhà ga sân bay hiện nay (nay thuộc địa phận phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) nằm trong khu vực quân sự. Một trại lính Mỹ lại trở thành trụ sở của hai phái đoàn quân sự của hai chính phủ có nghĩa vụ cùng họ thi hành Hiệp định Pa-ri nói lên rõ ràng ý đồ của họ muốn cô lập, không để người dân Sài Gòn dễ dàng tiếp xúc với hai phái đoàn ta. Xung quanh khu doanh trại có những bốt gác canh phòng nghiêm ngặt vòng trong vòng ngoài với lớp lớp hàng rào dây thép gai dày đặc. Trại Đa-vít gần như hình thang, đáy và cạnh không đều, chiều rộng nhất khoảng 200m, cạnh ngắn nhất 100m; án ngữ trước cổng trại còn có trại huấn luyện Hoàng Hoa Thám của sư đoàn dù. Xây dựng kiểu dã chiến, theo từng dãy nhà gỗ, nền đất nện và bê tông, lợp fibro xi măng, trang thiết bị bên trong toàn bằng sắt, giương, ghế, bàn, tủ đều bằng sắt, hàng rào vòng trong là lưới sắt, cho nên trưa nắng nóng như nung, cộng với tiếng động cơ máy bay lên xuống liên tục, tiếng ồn từ xưởng sửa chữa máy bay ở sát cạnh, tạo nên một môi trường sống căng thẳng.

        Để tỏ "nhã ý" với hai trưởng đoàn ta, họ đành cho một nhà ngăn đôi, mỗi bên mỗi người, có nhiều phòng tiện nghi khá đầy đủ, kể cả máy điều hòa nhiệt độ. Nhưng hai đồng chí trưởng đoàn đã không ở riêng mà ở chung với đoàn mình. Mấy hôm sau, bộ phận kỹ thuật chống nghe trộm của ta đã phát hiện ra trong căn nhà ngăn đôi đó những máy ghi âm tinh xảo được gài vào. Họ còn phá sóng, gây nhiễu và ghi trộm điện của ta. Sợ ta có điều kiện đi ra ngoài mua bán tiếp xúc với dân, họ không để chị em ta đi chợ mà mọi cái đều phải đặt hàng qua các nhà thầu do họ chỉ định, hầu hết là vợ con sĩ quan an ninh của họ hoặc nhân viên của tổ chức "Thiên Nga" trong ngành an ninh quân đội Sài Gòn.

        Đối với hai đoàn đại biểu quân sự cấp trung ương của ta, họ đã như thế, thì đối với các đoàn đại biểu ta ở các khu vực, còn tệ hại hơn nhiều: ở Biên Hòa họ bố trí cho ta ở một gara cũ, nhà tôn, không có trần; khu vực Mỹ Tho được bố trí ở trại gà vừa mới dọn trong căn cứ Đồng Tâm. Trắng trợn hơn cả là các điểm hẹn đón các trưởng đoàn khu vực như ở khu vực V và VI, họ đã tổ chức phục kích, bắn pháo, riêng ở khu vực IV (Phan Thiết) làm ta hy sinh bốn đồng chí. Ở các nơi khác như Plây Cu, Buôn Ma Thuột, Huế, Đà Năng, Đức Phổ, Tam Kỳ.., họ tổ chức cảnh sát trá hình côn đồ hành hung các sĩ quan liên lạc của ta đi làm nhiệm vụ, gây nhiều trọng thương.

        Trại Đa-vít chủ yếu là chỗ ở của hai đoàn ta, cũng là nơi ta tiếp khách và họp báo hàng tuần, có lúc cả trăm phóng viên báo chí và hãng truyền hình nước ngoài và Sài Gòn đến dự, nhất là vào những thời điểm quan trọng.

        Ta đã nhiều lần đòi đối phương chuyển trụ sở hai đoàn vào thành phố. Nhưng đó là điều tối kỵ đối với họ, nhất là đối với chính quyền Sài Gòn: họ rất sợ sự tiếp xúc của ta với dân, nên cứ lần lữa, chối từ với lý do không bảo đảm an ninh.

        Cách trại Đa-vít khoảng 500m, cũng nằm trong khu căn cứ quân sự Tân Sơn Nhất là khu hội trường dành cho các cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự.

        Trại Đa-vít từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 5 năm 1975, là nơi hai đoàn đại biểu quân sự của ta đã kiên cường bám trụ để đấu tranh như một căn cứ lõm ở giữa sào huyệt đối phương, được pháp lý của Hiệp định Pa-ri thừa nhận, một trận địa cách mạng công khai cắm sâu trong lòng địch, cuối cùng đã góp phần đặc biệt xuất sắc phối hợp với quân dân cả nước đánh cho ngụy sụp đổ hoàn toàn ngay trong sào huyệt của chúng!
 
        Trại Đa-vít trở thành một biểu tượng sáng ngời của tư tưởng cách mạng tiến công và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh trên thế giới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #98 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:16:56 pm »


BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ BỐN BÊN
       
        Ban Liên hợp quân sự trung ương bốn bên gồm bốn đoàn hợp thành:

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (sau này là thượng tướng) làm trưởng đoàn.

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là thượng tướng) làm trưởng đoàn.

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Hoa Kỳ do Thiếu tướng Út-uốt làm trưởng đoàn.

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam cộng hòa do Trung tướng Ngô Du, nguyên Tư lệnh Quân đoàn li và Vùng II chiến thuật ngụy làm trưởng đoàn (sau thay bằng Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh quân dù).

        Hai đoàn ta gồm khoảng 250 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, số đông ở chiến trường và ở miền Bắc, một số từ Pa-ri về Đội vệ binh khoảng 30 cán bộ chiến sĩ được trang bị súng AK, tất cả sĩ quan đều được trang bị súng ngắn để tự vệ theo quy định của Hiệp định.

        Cấp phó trưởng đoàn bốn bên:

•   Việt Nam dân chủ cộng hoà: Đại tá Lưu Văn Lợi.

•   Chính phủ Cách mạng ]âm thời: Đại tá Đặng Văn Thu (tức Đoàn Huyên, sau này là thiếu tướng).

•   Hoa Kỳ: Chuẩn tướng Úych-kham.

•   Việt Nam cộng hoà: Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp.

        Tối 29 tháng 1 năm 1973 mới họp được phiên họp đầu tiên, do những rắc rối phía bên kia gây cho hai phó trưởng đoàn ta khi từ Pa-ri về Tân Sơn Nhất.

        Ngay trong phiên đầu này, phía Hoa Kỳ lại gây rắc rối đòi đại diện các bên đến họp phải trình giấy ủy nhiệm. Đồng chí Lưu Văn Lợi và tôi đều bác bỏ đòi hỏi đó, vì chúng tôi là thành viên các phái đoàn dự Hội nghị Pa-ri về với tư cách là phó trưởng đoàn để dự các phiên họp đầu tiên chuẩn bị cho cuộc họp chính thức sắp tới của cấp trưởng đoàn. Để khỏi mất thì giờ đôi co vô ích, tôi rút "Thẻ ngoại giao" của thành viên Hội nghị bốn bên ở Klê-béc, giơ cao cho họ thấy và nhấn mạnh: "Các bên ở Pa-ri đã thông báo cho nhau cả rồi".

        Cuối cùng, cuộc họp đi vào bàn nội dung.

        Sáng hôm sau, ngày 30 tháng 1 năm 1973, đáng lẽ tiếp tục đi vào bàn những thủ tục làm việc của Ban Liên hợp quân sự bốn bên và chuẩn bị cho cuộc họp chính thức của các trưởng đoàn sắp tới thì đã bị ngắt quăng do phía Việt Nam cộng hoà đưa ra lời tố cáo "phía Chính phủ Cách mạng lâm thời vi phạm ngừng bắn ở Cửa Việt (Quảng Trị) ngày 28 tháng 1 năm 1973". Họ còn gửi công hàm tố cáo ta trước ủy ban Quốc tế.

        Do hai đoàn ta mới triển khai vào trại Đa-vít, không kịp được thông báo từ trên về tình hình ở đây, nên ta chỉ trả lời gọn: "Chúng tôi phải cảnh giác với những gì các vị nêu lên. Chờ xem thực hư ra sao, chúng tôi sẽ có ý kiến sau".

        Sau khi hỏi lên trên và được trả lời rõ ràng, ta đã bác bỏ hoàn toàn vụ đổi trắng thay đen này của đối phương, vạch rõ đây là vụ vi phạm trắng trợn Hiệp định, "vừa ăn cướp, vừa la làng" của phía Việt Nam cộng hoà. Ngay trong đêm 27 tháng 1 năm 1973, đêm "bản lề" bước sang giờ ngừng bắn có hiệu lực theo Hiệp định (8 giờ Việt Nam ngày 28-l-1973), quân Sài Gòn đã dùng toàn bộ pháo từ hạm đội bắn vào trận địa quân ta ở Cửa Việt. Dưới sự yểm trợ của pháo binh, họ đã cho hơn 200 xe tăng, xe bọc thép và lữ đoàn thủy quân lục chiến số 147, lợi dụng lúc thủy triều xuống, đêm tối, sóng gầm, theo mép nước biển tiến sâu đánh chiếm cảng. Trong một đêm, họ đã chiếm một vùng đất mà mấy tháng trước, trong chiến dịch Quảng Trị họ không sao chiếm lại nổi.

        Luôn dây, xin mở một dấu ngoặc để nêu sự việc xảy ra trong trận đánh đêm hôm đó, vào điểm giao thời này trên chiến trường, để phản ánh nhận thức chập chững của cán bộ ta đối với việc thi hành Hiệp định.

        Cảng Cửa Việt đã rơi vào tay địch, nhưng có đồng chí cấp dưới, chỉ huy trực tiếp hướng Cửa Việt lúc đó đã báo cáo lên Trung tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh chiến dịch: "Chúng nó đã lấn chiếm mất một ít, chúng tôi đã cho người gặp tên lữ trưởng để phản đối về việc này...".

        Anh Tấn ra lệnh giọng gay gắt:

        - Chúng nó dùng cả một lữ xe tăng và một lữ lính thủy đánh bộ đánh chiếm cảng Cửa Việt không phải để nghe anh phản đối đâu! Tôi hạ lệnh anh phải lập tức chiếm lại cảng! Rõ chưa? 

        - Rõ ạ!

        - Rõ rồi thì chấp hành ngay. Tại sao anh chỉ lo mình vi phạm mà không thấy phía địch đã thực sự xóa bỏ Hiệp định rồi? [2].

        Ngay sau đó vào mờ sáng 28 tháng 1, quân ta hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa xe tăng, bộ binh và pháo binh đã phản kích mạnh mẽ, giáng cho địch một đòn trừng trị đích đáng, buộc chúng hoảng hốt tháo chạy, bỏ lại nhiều xác chết, hơn 100 xe tăng, xe bọc thép trên bãi biển, bằng chứng sờ sờ của sự vi phạm Hiệp định của chúng. Bốn ngày sau, ủy ban Quốc tế ra xem xét phải công nhận vụ vi phạm hết đường chối cãi này của chính quyền Sài Gòn.
------------
[2] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2000, tr.45.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #99 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:18:01 pm »


       Hội nghị các phó trưởng đoàn lại tiếp tục và sau 8 phiên họp từ tối 29 tháng 1 năm 1973 đến 2 tháng 2 năm 1973, đã đạt được các thỏa thuận sau đây:

        -   Các phiên họp cấp trưởng đoàn có một "chủ vị" chỉ đơn giản để duy trì trật tự phiên họp, do các trưởng đoàn luân phiên thay nhau làm, mỗi người làm trong ba ngày. Chủ vị phát biểu trước, các trưởng đoàn khác lần lượt phát biểu theo thứ tự chiều kim đồng hồ.

        Hai ngày họp một lần, sáng từ 10 giờ đến 12 giờ 30, chiều từ 15 giờ đến 17 giờ 30. Người phát biểu chính thức là trưởng đoàn và phó trưởng đoàn, người phát biểu thay trưởng, phó đoàn phải có giấy ủy nhiệm.

        -   Quy định về nguyên tắc bảo mật nội dung các cuộc họp, không để phóng viên báo chí dự.

        -   Do yêu cầu khẩn trương, họp trưởng đoàn cả trong những ngày tết.

        -   Ký hiệu Ban Liên hợp quân sự bốn bên (trên xe, máy bay, tàu bè):
                  + Cờ màu da cam có vẽ con số 4.
                  + Băng tay màu da cam có con số 4.
                  + Máy bay có 4 vòng tròn màu da cam trên đuôi và 4 vạch thẳng cùng màu bên ngoài buồng lái.

        Xảy ra chuyện vui sau đây, khi thảo luận về màu cờ: để tránh tranh cãi kéo dài, trước phiên họp, hai phó trưởng đoàn ta thống nhất với nhau đề xuất lấy màu xanh da trời, là màu tượng trưng cho hòa bình. Chúng tôi tưởng chừng phía bên kia sẽ dễ dàng chấp thuận. Nhưng Phó trưởng đoàn Hoa Kỳ không đồng ý vì màu xanh da trời rất khó nhận thấy từ xa, cả trên mặt đất, trên mặt nước và trên không, ông ta đề nghị chọn màu "da cam" và chìa ra luôn trên bàn họp một lá cờ màu da cam đã chuẩn bị sẵn. Tôi cảm thấy thú vị khi cầm xem kỹ mẩu vải màu da cam đó, thấy màu này đỏ đậm chẳng khác mấy với màu cờ Tổ quốc. Cả hai phó trưởng đoàn ta nhanh chóng tán thành một cách thú vị. Phía Sài Gòn không thể có một ý kiến nào khác vì đây là một màu cờ do phía Mỹ đề nghị. Màu cờ da cam của Ban Liên hợp quân sự đã được quyết định.

        Từ đó, màu cờ đỏ ấy của Ban Liên hợp quân sự tự nhiên biến thành biểu tượng riêng của phía cách mạng mỗi khi xe của hai đoàn ta xuất hiện trên đường phố Sài Gòn trong các dịp đi làm việc với các trưởng đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong ủy ban Quốc tế hoặc trong các cuộc gặp gỡ khác. Sự chú ý của nhân dân dọc đường làm cho phía Sài Gòn khó chịu nên chúng đã báo cho cảnh sát giao thông dẹp đường trước ở các giao lộ để tránh không để đồng bào có dịp dừng lâu để dõi theo và bày tỏ tình cảm với những người đại diện của cách mạng.

        -   Không làm thủ tục nhập cảnh với người của Việt Nam dân chủ cộng hòa từ Hà Nội vào và của Chính phủ Cách mạng lâm thời từ Lộc Ninh ra, chỉ cần ghi danh sách.

        -   Sau khi lên án mạnh mẽ vụ vi phạm nghiêm trọng ở Thiện Ngôn ngày 28 tháng 1 năm 1973, ta đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phía Mỹ bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các chuyến bay đón trưởng đoàn và đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời từ Lộc Ninh ra.  ấn định phiên họp đầu tiên các trưởng đoàn bốn bên sẽ tiến hành vào 15 giờ ngày 2 tháng 2 năm 1973 (tức vào chiều 30 tháng chạp năm Nhâm Tý), do Trưởng đoàn Hoa Kỳ làm chủ vị.

        Do đã phải chậm đi mấy ngày nên dù ngày giáp Tết, Ban Liên hợp quân sự bốn bên bắt tay vào làm việc rất khẩn trương.

        Theo Hiệp định, Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương hoạt động trong 60 ngày kể từ 28 tháng 1 năm 1973 đến 28 tháng 3 năm 1973 và có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp của các bên thực hiện các điều khoản về ngửng bắn, rút quân Mỹ và quân nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, trao trả nhân viên quân sự các bên và thường dân nước ngoài bị bắt, giúp đỡ nhau tìm kiếm những tin tức về những người bị mất tích trong chiến đấu. Ban Liên hợp quân sự làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí giữa bốn bên.

        Các trưởng đoàn thỏa thuận thành lập các tiểu ban chuyên trách để giúp mình xem xét và quyết định các vấn đề lớn thuộc chức năng Ban Liên hợp quân sự bốn bên, như các vấn đề quân sự, trao trả, thủ tục...

        Ngoài ra, hai bên miền Nam Việt Nam (Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam cộng hoà) còn thỏa thuận lập tiểu ban hai bên để bàn chuẩn bị cho việc thành lập Ban Liên hợp quân sự hai bên sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên thôi hoạt động.

        Lẽ ra cần nhanh chóng đi vào bàn việc thi hành các điều khoản trọng tâm trong hạn định 60 ngày thì Ban Liên hợp quân sự bốn bên đã mất nhiều thời gian tranh cãi về thành lập các tiểu ban thủ tục, trao trả và tiểu ban quân sự, chủ yếu do thái độ cố tình gây trở ngại của phía Sài Gòn, nên mãi đến ngày 6 tháng 2 năm 1973 mới bắt đầu hoạt động. Chính trong suốt thời gian đó, phía Sài Gòn vi phạm nghiêm trọng việc triển khai các đoàn ta ở Ban Liên hợp quân sự các khu vực và địa phương, tổ chức hành hung sĩ quan hai đoàn ta ở một số nơi.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM