Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:29:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315395 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #100 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:20:19 pm »


        Bắt buộc phải ký vào Hiệp định dưới sức ép và sự đe dọa của Ních-xơn, Nguyễn Văn Thiệu không hể từ bỏ ý đồ phá hoại Hiệp định và mục tiêu xuyên suốt của họ là giải quyết vấn đề bằng quân sự. Được Mỹ dung túng, họ lấy lấn chiếm và bình định làm trung tâm; xây dựng quân đội và chính quyền mạnh làm trụ cột; phục hồi kinh tế đi đôi bao vây kinh tế của phía ta và dùng không quân và hải quân Mỹ ở Đông Nam Á hòng "răn đe" ta. Họ mở những chiến dịch "Tràn ngập lãnh thổ" khắp nơi. Quân Sài Gòn lợi dụng điều khoản ngừng bắn, đã ra sức cắm cờ lấn đất giành dân, tiếp tục đẩy mạnh "bình định đặc biệt", chiếm lại các căn cứ "lõm" của ta, nống ra các vùng giáp ranh, lấn chiếm vùng giải phóng, trọng điểm là Trị Thiên, Quảng Đà, Quảng Ngài, Bình Định, Kon Tum và quanh Sài Gòn...

        Ngoài vụ vi phạm nghiêm trọng quy mô cấp lữ - sư đoàn đánh vào Cửa Việt như đã nêu, họ còn lấn chiếm tiếp với lực lượng tương đương vào Sa Huỳnh (Quảng Ngài), bắc Kon Tum, Cai Lậy, Tây Ninh, Chương Thiện, Tân Châu, Hồng Ngư.., phối hợp lực lượng chủ lực với quân bảo an ở các địa phương.

        Trên chiến trường, riêng súng không hề chấm dứt ngay từ ngày Hiệp đinh được ký kết, ta cũng biết là Mỹ và Sài Gòn không thi hành Hiệp định, mà tiếp tục ra sức "Việt Nam hóa chiến tranh". Nhiều địa phương do sơ hở, mất cảnh giác, đã để mất đất, mất dân. Có nơi chủ trương phân tuyến, phân vùng với địch, để mất thế "da báo". Có nơi rút các sư chủ lực về giữ các căn cứ, giao cho bộ đội địa phương chống dịch lấn chiếm... Ngay ở Tổng hành dinh cũng có ý kiến không muốn đánh trả, e vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Cho đến đầu tháng 3 năm 1973, tình hình ngày càng sáng tỏ, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục miền Nam đánh giá đúng tình hình chiến trường và có chủ trương toàn diện cả về quân sự, chính trị, ngoại giao, để kịp thời chặn đứng âm mưu, thủ đoạn của địch đang ra sức lấn đất, giành dân, đánh phá cơ sở cách mạng, chống phá Hiệp định.

        Cuộc đấu tranh ở Ban Liên hợp quân sự trong tình hình trước và sau Hiệp định Pa-ri ngày càng gay go phức tạp và căng thẳng.

        Trên hết là đấu tranh chông các vi phạm ngừng bắn của Sài Gòn được Mỹ dung túng. Ta liên tiếp tố cáo mạnh mẽ quân Sài Gòn càn quét lấn chiếm. Trong thế bị động không chống đỡ được sự tố cáo của ta, tướng Ngô Du, Trưởng đoàn Việt Nam cộng hoà chỉ có một cách trả lời công thức: "Lấy làm tiếc... Đã nhận bản phản kháng của quý vị sẽ đệ trình lên chính phủ...". Có lần ta căn cứ vào các điều khoản cụ thể về ngừng bắn được ghi rõ trong Hiệp định và Nghị định thư, tố cáo chúng càn quét lấn chiếm vùng giải phóng của ta, sát hại nhân dân.., tướng Ngô Du ra sức tìm cách chối cãi, nói đó chỉ là những cuộc di chuyển, tuần tra thông thường và là quyền hợp pháp của quân Việt Nam cộng hoà...". Khi tôi đọc cho họ nghe Điều 2 trong chương Ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam quy định: "Bắt đầu từ khi ngừng bắn có hiệu lực, tất cả các lực lượng chiến đấu ở miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí của mình.., cấm các cuộc tuần tra vũ trang sang vùng do lực lượng vũ trang đối phương kiểm soát...; cấm mọi cuộc hành quân chiến đấu trên bộ, trên sông, trên biển và trên không..., các hành động đối địch, khủng bố, trả thù.., mọi hành động xâm phạm đến các tính mạng và tài sản công và tư", thì ông ta lúng túng, hỏi phó trưởng đoàn ngồi bên cạnh đưa xem lại Hiệp định. Đọc xong đoạn nói trên, ông ta ngớ người ra và lúng búng trong miệng: "Ủa sao lại có thể có những điều như vậy chỉ còn khóa tay, khóa chân chúng tôi, còn hoạt động thế nào được. Sao chính phủ chúng tôi lại có thể chấp nhận ký vào một Hiệp định thiệt thòi cho chúng tôi đến như vậy?". Tôi cố nhịn cười. Anh em ta trong đoàn khi nghỉ họp, có người bình luận: "Thì ra vị trung tướng này của Sài Gòn, ít ra cũng thốt lên được suy nghĩ thật thà của mình".  Thực ra, họ chỉ muốn chống lại ngừng bắn, tiếp tục càn quét lấn chiếm thì làm sao có thể chấp nhận được những quy định trên của Hiệp định?

        Đấu tranh trên bàn Hội nghị thường căng thẳng nhưng thỉnh thoảng cũng có chuyện vui như vậy để thư giãn. Lại một lần khác xảy ra với Đoàn đại biểu quân sự Hoa Kỳ trong một phiên họp Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Hôm ấy họ làm chủ vị. Vừa vào cuộc họp. Chuẩn tướng Úych-kham, Phó trưởng đoàn Hoa Kỳ, chưa kịp nói gì, vẻ mặt khi nào cũng căng thẳng, đứng dậy đi thẳng đến bức tường đối điện với Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời, trên đó họ vừa treo lên một bức ảnh màu xanh lá cây phóng to 60cm x 60cm. Vẻ hí hửng, tay cầm que chỉ bản đồ, ông ta nói: "Hôm nay, thay mặt Đoàn đại biểu quân sự Hoa Kỳ, tôi nghiêm khắc tố cáo phía các vị vừa mới đưa tên lửa phòng không SAM-2 vào Quảng Trị, vi phạm nghiêm trọng Điều 7 Hiệp định Pa-ri (quy định việc đưa vào thay thế vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh ở miền Nam Việt Nam)". Họ đòi ủy ban Quốc tế tổ chức điều tra việc này tại chỗ, dựa "chứng cứ" của bức ảnh đó.

        Ngồi cạnh trưởng đoàn - Trung tướng Trần Văn Trà, tôi ghi nhanh mấy ý chuyển sang đồng chí:

        "Trong chiến dịch Quảng Trị 1972, SAM-2 ta (Trung đoàn 236B tên lửa phòng không) được đưa vào Bắc Quảng Trị và đã bắn rơi B.52. Báo chí phương Tây đã từng nói tới sự xuất hiện của SAM-2 hồi đó. Sau đó đã rút ra. Nếu còn d (tiểu đoàn) nào ở lại thì cũng là "ở nguyên vị trí" theo quy định của Hiệp định. Ai bảo đảm rằng "bức không ảnh" không phải là bản sao của một ảnh chụp cũ từ hồi đó, nay đưa ra để lừa bịp?".

        Đồng chí Trần Văn Trà vốn là người có nguyên tắc, đồng thời luôn nắm vững chủ động và ứng biến linh hoạt, chỉ đáp gọn, rất bình tĩnh: "Hôm nay tôi mới nghe ý kiến các vị, chưa rõ thực hư, sẽ nắm lại tình hình và có ý kiến thêm sau. Nhưng chắc chắn là không có chuyện đưa vũ khí mới vào".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #101 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:21:06 pm »


        Sau khi báo cáo lên trên và được trả lời "Đó chỉ là chuyện bịa đặt của đối phương, không có chuyện ta đưa thêm bất cứ loại vũ khí mới nào vào miền Nam...", đoàn ta trả lời trên bàn Hội nghị Liên hợp quân sự bốn bên và gửi công hàm cho ủy ban Quốc tế như sau: "SAM-2 vốn có ở Quảng Trị trước khi Hiệp định ký kết, không ít phi công Mỹ bay qua vùng đó đã được thử thách và báo chí hồi đó đã nói đến. Không có chuyện đưa vũ khí mới nào vào. Sau khi ngừng bắn, không cần thiết bố trí như cũ nữa, có thể nó được xê dịch sang một địa điểm khác trong phạm vi đóng quân của nó ở Quảng Trị".

        Vụ này được kết thúc vì cơ quan điều tra nào lại xác định được số tên lửa đó được đưa vào trước hay sau khi có Hiệp định? Ta đã trình bày với đại sứ Ba Lan và Hung-ga-ri trong ủy ban Quốc tế, các đồng chí rất đồng tình. Sau khi nhận được công hàm của ta, ủy ban Quốc tế không đòi điều tra tại chỗ nữa.

        Cũng trong tháng 2 năm 1973, một máy bay lên thẳng Si-núc loại lớn của Mỹ, trên đường bay từ Tân Sơn Nhất lên An Lộc (tỉnh lỵ tỉnh Bình Long, nay thuộc Sông Bé) bị ta bắn. Mỹ lại lớn tiếng tố cáo ta vi phạm, ta kiên quyết bác bỏ và khẳng định lại: chính đây trước tiên là một vụ vi phạm của Mỹ đối với Điều 3b của Hiệp định, vì đã không hề thông báo cho ta về chuyến bay đó, lại đã vi phạm những điều đã thỏa thuận về hành lang bay và đã xâm phạm không phận vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Họ phải chịu hậu quả của chính sự vi phạm của họ. Phía Mỹ không còn cách gì biện hộ cho hành động sai trái của họ nữa.

        Trên đây chỉ phản ánh đôi nét về cuộc đấu tranh chống các vi phạm ngừng bắn của đối phương.

        Trong các phiên họp trưởng đoàn bốn bên, tướng Út-uốt Trưởng đoàn Hoa Kỳ vừa có thái độ bao che, vừa thúc ép Việt Nam cộng hoà để đạt được các yêu cầu chủ yếu trước mắt của Hoa Kỳ trong thời gian 60 ngày là nhận hết tù binh Mỹ, thực hiện rút quân, đồng thời đạt yêu cầu lâu dài Mỹ rút nhưng quân lực Việt Nam cộng hoà mạnh lên.

        Về việc rút quân, họ tự hoãn không thông báo cho Ban Liên hợp quân sự theo quy định. Khi ta tố cáo thì đến ngày 16 tháng 2 năm 1973, phía Mỹ mới gửi công hàm chính thức báo cho Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đến các địa điểm quy định để quan sát việc rút quân Mỹ và Hàn Quốc. Trong khi đó, họ lại vi phạm Điều 8 Nghị định thư, khi rút quân thay vì vũ khí đạn dược phải mang theo thì họ để lại tất cả cho Sài Gòn. Bị chất vấn, họ trả lời đối phó là vũ khí trang bị đã chở bằng tàu thủy mà không hề thông báo cho Ban Liên hợp quân sự và ủy ban Quốc tế hoặc đã bàn giao cho Sài Gòn trước khi Hiệp định được ký kết. Mặc dù vũ khí trang bị và các căn cứ quân sự của Mỹ đã được họ tìm cách tránh khỏi sự ràng buộc của Hiệp định để chuyển giao tăng sức mạnh cho quân lực Việt Nam cộng hoà, nhưng cũng không cứu nổi Sài Gòn sụp đổ.

        Việc thực hiện trao trả nhân viên quân sự (tù binh) các bên bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ là vấn đề quan trọng đối với cả Mỹ và ta, còn phía Sài Gòn thì tỏ ra không mấy quan tâm tới người của họ bị ta bắt, trong khi họ còn giam giữ một số lớn cán bộ chiến sĩ ta. Mỹ muốn được trao trả người của họ bị bắt thì họ cũng buộc phải đáp ứng đòi hỏi của ta, buộc phía Sài Gòn thực hiện trao trả người của ta. Trong vấn đề này có sức ép của Mỹ nên dù miễn cưỡng, phía Sài Gòn cũng phải đi vào thực hiện, nhưng tìm cách gây khó khăn.

        Cho đến lúc kết thúc thời kỳ bốn bên, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã trả cho Mỹ 128 nhân viên quân sự Mỹ và nước ngoài bị bắt; đồng thời nhận về 26.492 người của ta và trả cho Sài Gòn 5.426 người (nhân viên quân sự).

        Phần còn lại nhân viên dân sự bị bắt giữa ta và Sài Gòn sẽ được trao trả trong thời kỳ hai bên.

        Một vấn đề quan trọng ta đặc biệt quan tâm và đã tích cực đấu tranh liên tục trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và cuối cùng đã buộc phía Sài Gòn phải thỏa thuận những thể thức bảo đảm Điều 11 về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao đối với đoàn ta, tạo một lợi thế rất cơ bản giúp Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời hoạt động có hiệu quả trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương sau này. Kết quả quan trọng nữa là Mỹ và quân đồng minh nước ngoài của họ đã phải rút hết, dưới sự quan sát của ta và giám sát của ủy ban Quốc tế. Sáng ngày 15 tháng 3 năm 1973, USARV - Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã làm lễ cuốn cờ. Chiều hôm ấy, MACVI - Bộ Tư lệnh tối cao của Mỹ, đóng trụ sở ở Tân Sơn Nhất, được báo chí gọi là "Lầu Năm Góc phương Đông" cũng hạ cờ. Để tránh dùng những lời nặng nề đối với kẻ chiến bại, tôi tự hỏi không biết các sử gia Mỹ đã nói gì về những hình ảnh lịch sử u tối này của quân đội viễn chinh xâm lược Mỹ ở Việt Nam.

        Mỹ rút nhưng chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp diễn. Chỉ có khác là "Thay màu da trên xác chết". Đó là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất mà Ban Liên hợp quân sự bốn bên không hoàn thành: sau Hiệp định Pa-ri không hề ngừng tiếng súng! Theo thông cáo của ủy ban tố cáo tội ác chiến tranh Việt Nam ra ngày 6 tháng 4 năm 1973, chính quyền Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Pa-n hơn 7 vạn lần, như hành quân lấn chiếm, giội bom, bắn pháo, phục kích các điểm hẹn của sĩ quan các Ban Liên hợp quân sự ở các địa phương, đóng thêm đồn bốt, lấn đất giành dân... Tình hình vi phạm ngừng bắn càng thêm nghiêm trọng rõ rệt khi chuyển sang thời kỳ Ban Liên hợp quân sự hai bên.

        Ngày 28 tháng 3 năm 1973, Ban Liên hợp quân sự bốn bên kết thúc nhiệm vụ. Trung tướng Trần Văn Trà ra Hà Nội trước khi trở lại nhiệm vụ Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Miền ở chiến trường. Đồng chí không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà ngoại giao sắc sảo trên bàn hội nghị Ban Liên hợp quân sự, đối phương phải kính nể.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #102 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:23:14 pm »



BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ HAI BÊN

        Từ ngày 29 tháng 3 năm 1973, Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương bắt đầu hoạt động và họp phiên đầu tiên:

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm trưởng đoàn.

•   Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam cộng hoà do Trung tướng Phạm Quốc Thuần làm trưởng đoàn. Đến tháng 10 năm 1973, Phan Hòa Hiệp thay Phạm Quốc Thuần làm trưởng đoàn.

        Tôi vui mừng được gặp lại đồng chí Hoàng Anh Tuấn, người bạn học cũ và từng là bạn chiến đấu trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp ở địch hậu Khánh Hòa và Liên khu 5. Anh từng lăn lộn trên chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, chiến đấu kiên cường, bình tĩnh và năng động, sáng tạo, trước đây đã từng hoạt động trong ủy ban Liên hợp của Hiệp định Giơ-ne-vơ, nên đã nhanh chóng nhập cuộc trong nhiệm vụ công tác mới. Sau ngày thống nhất đất nước, anh được chuyển hẳn sang công tác ngoại giao và trở thành Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

        Theo quy định của Hiệp định Pa-ri, Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam trong thực hiện các điều khoản về các vấn đề quân sự và việc trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt.

        Sau khi chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ" thất bại, Thiệu chủ trương đặt trọng tâm đẩy mạnh lấn chiếm bình định ở ấp xã coi đó là khâu "giải quyết 75% toàn bộ cuộc chiến tranh, thắng là đây và thua cũng là đây". Đến tháng 10 năm 1973, phía Sài Gòn đã lấn chiếm thêm 900 ấp, đóng thêm 523 đồn bốt, riêng loại ấp A quân sự do họ kiểm soát từ 4.271 ấp cuối năm 1972 đã lên 5.508 ấp cuối năm 1973 [3].

        Do chủ trương của Việt Nam cộng hoà tăng cường đàm phán trên chiến trường và phá bĩnh trên bàn hội nghị, cuộc đấu tranh ở Ban Liên hợp quân sự hai bên trở nên rất căng thắng, quyết liệt. Hai bên liên tiếp tố cáo lẫn nhau, ta tố nhiều vụ, phía họ cố gây to chuyện với ta, trong đó cộm lên hai vụ: vụ Tống Lê Chân và vụ Ly Tôn - Quảng Trị... Tống Lê Chân là một đồn lẻ cấp đại đội, lấn sâu vào vùng giải phóng, bị ta bao vây, triệt đường tiếp tế tải thương. Thời kỳ bốn bên, phía Sài Gòn cũng có lần đề cập đến vấn đề Tống Lê Chân. Họ đã lợi dụng thiện chí của ta cử sĩ quan liên lạc làm môi giới cho sĩ quan chỉ huy hai bên gặp nhau để tải thương và tiếp tế đạn dược.

        Lần này phía Sài Gòn trắng trợn tuyên bố, nếu phía ta không giải quyết vấn đề Tống Lê Chân thì Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương không có gì phải bàn bạc. Bị thiệt hại thì họ gửi công hàm phản đối thưa kiện với ủy ban Quốc tế còn buộc rút lui thì họ lờ đi. Vụ này kéo dài cho tới khi buộc phải rút chạy (12-4-1974), họ cắt các chuyến bay liên lạc giữa đoàn ta với Lộc Ninh, kéo dài đến 12 tuần.

        Còn vụ Ly Tôn, một máy bay lên thẳng của ủy ban quốc tế do phi công Mỹ lái bị bắn rơi do cố tình bay chệch hành lang quy định, xâm phạm sâu vào vùng kiểm soát của ta, làm thiệt mạng 2 sĩ quan Hung-ga-n và 2 sĩ quan In-đô-nê-xi-a. Phía Sài Gòn kích vụ này lên cùng với đoàn Ca-na-đa buộc tội ta trước ủy ban quốc tế. Nhưng hai đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan đã hết lòng ủng hộ ta. Mặc dù hai sĩ quan Hung-ga-ri tử nạn, nhưng Đoàn Hung-ga-ri phối hợp với Đoàn Ba Lan đã kiên trì thuyết phục Ủy ban Quốc tế, cuối.cùng kết luận lỗi đầu tiên do máy bay Ủy ban Quốc tế bay sai hành lang quy định. Sau mùa Xuân 1975 toàn thắng, Thiếu tưởng Nguyễn Văn Sĩ, Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự ta trong thời kỳ Ban Liên hợp quân sự có dịp sang Hung-ga-ri, đề nghị Bộ Quốc phòng bạn đưa đến nghĩa trang Bu-đa-pét viếng mộ hai đồng chí bạn đã tử nạn, để tỏ lòng tri ân.

        Tuy tình hình ngày càng thêm căng thẳng trên bàn hội nghị Liên hợp quân sự hai bên, ta vẫn rất kiên trì đấu tranh với phía Sài Gòn về việc trao trả nhân viên dân sự và nhân viên quân sự còn lại của hai bên. Kéo dài từ tháng 4, 5, 7 năm 1973 cho đến tháng 3 năm 1974, họ đã phải trả cho ta 5.075 nhân viên dân sự và 130 nhân viên quân sự; ta trả cho họ 637 nhân viên dân sự và 410 nhân viên quân sự.

        Sở dĩ trong tình hình trên chiến trường ngày càng căng thẳng, phía Sài Gòn vẫn không thể cắt đứt việc trao trả người của ta, vì Mỹ nóng lòng muốn sớm được nhận hài cốt người chết của họ và triển khai tìm kiếm người bị mất tích, nên đã ép Sài Gòn tiếp tục thực hiện. Hơn nữa, họ còn bị sự lên án của dư luận cả ở miền Nam và trên thế giới về vấn đề rất nhạy cảm này. Tuy vậy, cho đến ngày thắng lợi Xuân 1975, vẫn còn cả chục vạn nhân viên dân sự của ta còn bị phía Sài Gòn giam giữ. Chính quyền cách mạng đã thực hiện tích cực nghĩa vụ đón đồng bào, đồng chí ta về chu đáo.
----------
[3] Theo số liệu tổng kết của phía Sài Gòn (UV 17/4).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #103 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:24:48 pm »


        Chiến sự ngày càng lan rộng và quyết liệt. Mỗi khi ta đánh trả lấn chiếm và chống phá bình định thắng lợi, phía Sài Gòn lại trả đũa các đoàn ta ở trại Đa-vít bằng cách cúp điện nước, thậm chí còn phun hơi cay vào trụ sở của đoàn. Bị ta tố cáo thì chối là phun thuốc diệt muỗi. Phản đối hành động trả thù đó của Việt Nam cộng hoà, ta ngừng họp.

        Tuy vậy, trong thời gian này ta vẫn dựa vào văn bản pháp lý 11 điểm quyền ưu đãi, miễn trừ mà Sài Gòn không xóa bỏ được. Do thế mạnh chính trị, ngoại giao và pháp lý của ta, đoàn ta cũng như đại diện Việt Nam dân chủ cộng hoà trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, vẫn ở lại trại Đa-vít và tiếp tục hoạt động tiếp xúc với ủy ban Quốc tế, tổ chức họp báo mỗi thứ bảy hàng tuần. Ta tăng cường cuộc tiến công trên mặt trận dư luận.

        Chiến trường sôi động, có lúc từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 6 năm 1973, phía Sài Gòn phá không để các cuộc họp báo của ta thực hiện được thì nhà báo càng rõ bộ mặt và ý đồ phá hoại Hiệp định của Nguyễn Văn Thiệu. Họ đấu tranh với phía Sài Gòn để bảo vệ quyền tự do báo chí và chờ đón các cuộc họp báo của ta, tăng cường liên lạc với đoàn ta để săn tin. Càng ngày các cuộc họp báo của ta càng thu hút số đông các nhà báo nước ngoài và giới báo chí Sài Gòn. Đoàn ta có quan hệ, tiếp xúc và trả lời phỏng vấn với các phóng viên của hơn 80 tờ báo, hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình và phát thanh của 21 nước trên thế giới. Tất nhiên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã phải ra sức sử dụng bộ máy tuyên truyền của họ để chống trả lại chính nghĩa cách mạng. Nhưng phần đông các báo như Tia Sáng, Điện Tín, Đại dân tộc và giới báo chí nói lên tiếng nói chân chính được đông đảo bạn đọc ủng hộ, đồng tình... Hoạt động tích cực của đoàn ta đã góp phần làm sáng tỏ chân lý cách mạng trong giới báo chí và phối hợp với mặt trận đấu tranh của đồng bào các giới đòi nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Pa-ri.

        Qua các cuộc họp báo và tiếp xúc khác, các nhà báo ngày càng hiểu rõ ta, đồng tình với cuộc đấu tranh của nhân dân ta, kể cả khi quân ta chủ động đánh trả và trừng trị những hành động vi phạm của quân Sài Gòn. Hội nhà báo nước ngoài đã đến chào Trưởng đoàn ta và bày tỏ cảm tình với đoàn. Trong buổi họp báo, đúng vào ngày 19 tháng 5, một nhà báo Mỹ và hai vợ chồng nhà báo nước ngoài, vào lúc giải lao đã tìm đến chào đồng chí Dương Đình Thảo, phụ trách phát ngôn của đoàn, để tỏ lòng ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và kín đáo trao tặng quà mừng nhân kỷ niệm ngày sinh của Người. Theo yêu cầu của một số nhà báo muốn đi thăm vùng giải phóng, ta đã tổ chức cho họ đi và khi về họ đã viết những bài phóng sự khá tốt. Có nữ phóng viên nước ngoài nhân một cuộc họp báo đã bí mật trao cho ta danh sách tù chính trị của ta bị chính quyền Sài Gòn giam giữ. Thật là một tấm lòng quý hóa.

        Ngoài các cuộc họp báo, ta còn tổ chức cuộc đi thăm làm việc với Trưởng đoàn Ba Lan ở nhà khách Lý Thái Tổ hoặc với Trưởng đoàn Hung-ga-ri ở khách sạn Palace ở phố Nguyễn Huệ, mặc dù quân cảnh Sài Gòn tìm cách ngăn cản, đồng bào nhận ra những chiếc xe đen bóng treo cờ đỏ da cam là tìm đến gần để dõi nhìn những đại biểu của Quân Giải phóng, bày tỏ tình cảm dù chỉ trong ánh mắt nụ cười hoặc cái vẫy tay kín đáo. Vào những dịp này, khi tiễn ta ra xe, bạn cố ý nán lại trên lề đường kéo dài cuộc nói chuyện, thể hiện sự thông cảm của bạn về những biếu hiện tình cảm này của đồng bào thành phố với đoàn ta.

        Nhân dịp những ngày lễ lớn của hai đoàn, ta tổ chức chiêu đãi mời các đoàn trong ủy ban Quốc tế đến đấu giao hữu về quần vợt, bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, với sự tham gia không hề kém tích cực của các đồng chí trưởng và phó đoàn ta. Những cuộc biểu diễn văn nghệ với sự tham gia của một số nghệ sĩ văn công Quân Giải phóng từ Lộc Ninh ra hoặc của Tổng cục Chính trị từ Hà Nội vào đã gây ấn tượng rất tất đẹp với khách. Những cuộc tiếp xúc giao lưu như vậy giúp cho bạn cũng như các thành viên khác trong ủy ban Quốc tế hiểu thêm "Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là một quân đội anh hùng mà còn là một quân đội rất có văn hóa..." như có lần một thành viên Đoàn In-đô-nê-xi-a nói với tôi. Những lần Đoàn Ba Lan chiêu đãi nhân ngày lễ của bạn cũng là dịp ta gặp gỡ rộng rãi không chỉ với các thành viên trong ủy ban Quốc tế hoặc các nhân vật trong quân đội và chính quyền Sài Gòn mà còn với một số nhân sĩ trí thức khác trong lực lượng thứ ba như bà Ngô Bá Thành, ni sư Huỳnh Liên...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #104 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:27:27 pm »

   
BUỚC NGOẶT LỊCH SỬ DẪN ĐẾN "NGỤY NHÀO"

        Trên chiến trường, quân Sài Gòn càng ra sức tiến công lấn chiếm, bình định "cấp tốc". Cuối tháng 5 năm 1973, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp mở rộng bàn về vấn đề miền Nam, với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo và tư lệnh chiến trường và đi đến chủ trương: "Trong khi địch dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý... Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại mọi hành động vi phạm của địch" [4].

        Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo cho các chiến trường: " tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động tiến công, chủ động phản công, không phòng ngự đơn thuần. Không những phản công ở địa bàn địch tấn công ta, mà còn hiệp đồng với các lực lượng chính trị, quân sự, binh vận phản công ở các địa bàn khác, nơi ta có chủ lực mạnh" [5].

        Ngày 4 tháng 10 năm 1973, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (khoá III) hình thành từ Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tháng 5 năm 1973, khẳng định: "Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công". Như một luồng gió mới, Nghị quyết 21 đến với các chiến trường.

        Tiếp đó, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam công bố quyết định kiên quyết đánh trả vi phạm ngừng bắn của quân Sài Gòn và sau đó quyết định         thêm không chỉ đánh trả tại chỗ mà còn giành quyền đánh trả tại nơi xuất phát vi phạm.

        Từ tháng 6 đến cuối năm 1973, đầu năm 1974, tình hình đã chuyển biến rõ rệt: quân dân ta chủ động chống trả quyết liệt chặn đứng được phần lớn các cuộc "bình định" lấn chiếm của quân Sài Gòn. Ở Trị Thiên ta khôi phục lại thế đứng trước ngày ký Hiệp định Pa-ri. Ở Khu 5, ta giành lại các vùng bị lấn chiếm. Ở Tây Nguyên, ta mở thêm nhiều khu vực ở Chư Nghé (Plây Cu) và Trung Nghĩa (Kon Tum). Ở miền Đông Nam Bộ, ta đánh mạnh, giải phóng thêm vùng Kiến Đức - Bù Bông, giải phóng hành lang nối liền Nam Bộ với Tây Nguyên. Ở Khu 8, ta làm chủ một số vùng ở phía Nam, Bắc đường số 4. Ở Khu 9, do ngay từ đầu đã kịp thời tiến công và phản công nên không những giữ vững được hình thái địch, ta trước ngày 27 tháng 1 năm 1973, mà còn giải.phóng thêm nhiều địa bàn quan trọng.

        Tình hình đã rõ rệt là không còn khả năng đạt được kết quả gì tích cực tại bàn đàm phán nữa. Ngày 22 tháng 6 năm 1974, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời tuyên bố đình chỉ họp Ban Liên hợp quân sự hai bên vô thời hạn. Ngày 8 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam, đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc của miền Nam Việt Nam, đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Pa-ri, đồng thời tuyên bố chính thức đình chỉ mọi cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự hai bên và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, rút khỏi diễn đàn La Xen-sanh-clao Ở Pháp. Ngày 11 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng ra tuyên bố tương tự.

        Ngày 6 tháng 1 năm 1975, ta tiến công giải phóng tỉnh lỵ và toàn bộ tỉnh Phước Long (nay thuộc Sông Bé), nhằm thử sức quân Sài Gòn, phản ứng của Mỹ và dư luận quốc tế. Kết quả mọi mặt đều thuận lợi. Tiếp theo, sau một loạt trận khác vào chi khu, quận lỵ, ngày 10 tháng 3 năm 1975 quân ta tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, mở đầu đòn tiến công chiến lược Xuân - Hè 1975. Từ sau trận Phước Long, sức ép và đe dọa trực tiếp của quân Sài Gòn đè nặng xuống trại Đa- vít Chúng công khai đào hào vây quanh, sâu 5 mét, rộng 5 mét, xây dựng thêm 7 bốt gác chĩa súng vào trại; từ tháng 4 năm 1975 tăng cường một đơn vị xe tăng và một đại đội bộ binh, phối hợp với trại huấn luyện sư đoàn dù, ngày đêm khống chế nghiêm ngặt trụ sở của hai đoàn ta.

        Từ cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975, tuy cấp trên không tiện phổ biến sớm nhưng qua điện đài, theo dõi sự phát triển của cuộc tiến công như vũ bão của quân ta từ Đà Nẵng đến Nha Trang và Đà Lạt, hai đoàn ta đã nhìn rõ triển vọng tiến về Sài Gòn...

        Lãnh đạo hai đoàn đã họp bàn, dự kiến khả năng và triển vọng phát triển tình hình, hạ quyết tâm chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Cán bộ chiến sĩ cùng bắt tay xây dựng các công trình chiến đấu theo hình thái trận địa chiến, có thể nói là một kỳ công, với một hệ thống giao thông hào liên hoàn, gần như địa đạo nối liền 7 khu vực chiến đấu, hai hầm ngầm chỉ huy, một hầm quân y, kho dự trữ lương thực, vật chất cần thiết... Tất cả đều được xây dựng tuyệt đối bí mật bên trong trại. Vấn đề khó khăn và quan trọng nhất là vũ khí đạn dược, lựu đạn, thủ pháo chống tăng đã được cấp trên đồng ý tăng cường cho một ít, nhưng chuyển vào thế nào từ Lộc Ninh cho suôn sẻ, che mắt được địch? Đoàn ta đã sử dụng chuyến máy bay của ủy ban Quốc tế ra Lộc Ninh đón hai thành viên của Phái đoàn In-đô-nê-xi-a và I-ran bị quân ta giữ từ trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột về Tân Sơn Nhất, để lèn các thứ đó vào các vận hành lý thông thường vẫn được dùng trong các chuyến bay công tác Đáng kể thêm là trước đó, Phái đoàn Hung-ga-ri cũng đã tặng ta một số súng nhỏ và 60 túi chống lạnh dùng trong trường hợp ngủ dã chiến.

        Trong lúc này Bộ chỉ huy Miền đã cử cán bộ vào cho biết đã sẵn sàng phương án cử một đơn vị đặc công vào trại Đa-vít đưa đoàn ta ra nơi an toàn, khi quân ta bắt đầu cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn.

        Đảng ủy Đoàn lại họp bàn, nhận định "trong lúc này ta vẫn có đủ yếu tố cần thiết để chiến đấu và bám trụ thắng lợi tại chỗ". Cuộc họp nhất trí đề nghị Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền "cho phép đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, và bảo đảm sẽ đủ sức bảo toàn lực lượng". Đề nghị đó đã được cấp trên đồng ý.

        Được điện thăm hỏi và động viên "Vững vàng trên vị trí chiến đấu. Ngày thắng lợi không còn xa nữa!" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tống Tư lệnh toàn thê cán bộ chiến sĩ trong đoàn càng củng cố niềm tin và ý chí quyết tâm sắt đá: "Chiến đấu và chiến thắng".
-----------
[4] Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tông hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000, tr.67.

[5] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr.55 - 56.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #105 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:29:51 pm »

    
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TRÊN TRẬN ĐỊA KIÊN CƯỜNG

        Ngày 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mở màn, đánh vào vành đai ngoại vi Sài Gòn.

        Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố kêu gọi quân đội Sài Gòn hạ vũ khí để bớt đổ máu và bớt thiệt hại cho nhân dân.

        Đúng như nhận định, trước các đòn tiến công của quân ta từ mọi phía, quân đội Sài Gòn tan rã nhanh chóng. Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, một trung tá của đơn vị dù đóng đối diện với trụ sở đoàn ta, đến trại Đa-vít xin tiếp xúc, ta khuyến khích họ trở về đơn vị, treo cờ trắng khi Quân Giải phóng vào và nộp súng về quê.

        Chiều 28 tháng 4 năm 1975, vào khoảng 17 giờ 15, một biên đội máy bay A37 (loại máy bay cường kích của không quân Sài Gòn ) [6] đột nhiên đến ném bom đồng loạt xuống khu vực quân sự sân bay Tân Sơn Nhất, cạnh trại Đa-vít. Mảnh bom bay rào rào sang dãy nhà đoàn ta ở cách dãy hầm cất máy bay và xưởng sửa chữa của sân         bay chỉ một bức tường. Anh chị em ta nhảy xuống hầm, may không ai việc gì. Định thần lại, hỏi nhau xem đó là phi công Sài Gòn phản chiến hay chính là trận tấn công của ta. Có điều ai cũng hiểu là đại sự đã bắt đầu. Mừng chiến thắng cuối cùng đang đến gần, mỗi người càng đề cao trách nhiệm sẵn sàng chiến đấu của mình theo quy định và lệnh của chỉ huy đoàn, rất tự giác. Đêm hôm đó, tất cả mọi người đều xuống ngủ hầm cạnh vị trí chiến đấu của mình. Việc tuần tra canh gác được tăng cường theo kế hoạch tác chiến, chế độ trực chiến của các bộ phận được chấp hành nghiêm cách.

        Khoảng 3 giờ sáng 28 tháng 4 năm 1975, bỗng nhiên đạn pháo lớn và hoả tiễn của ta nổ vang, bay tới tấp vào khu vực Tân Sơn Nhất. Anh chị em ta đều có đủ công sự ẩn nấp, bảo đảm chống được đạn pháo, có thể yên tâm.

        Nhưng sau đợt cấp tập đầu tiên, Sở chỉ huy được báo cáo: một đồng chí đại úy và một trung sĩ cảnh vệ canh gác trên hầm nổi, bị hy sinh do đạn pháo; bốn đồng chí khác do đứng ở miệng hầm để nhìn ra ngoài, bị trọng thương do trúng mảnh đạn pháo, trong đó có một đồng chí trung tá sau phải cưa một chân.

        Từ sáng ngày. 28 tháng 4 năm 1975 đến suốt ngày 29 tháng 4 năm 1975, pháo và hỏa tiễn của ta từng đợt bắn vào Tân Sơn Nhất.

        Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, đại sứ Mỹ Ma-tin, thông qua Đoàn Hung-ga-ri, muốn gặp Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quân sự hai bên, nhưng ta không trả lời. Lúc này, còn gì để bàn bạc? [7].

        Trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975, có một đoàn khách, tự giới thiệu là "phái viên của Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền" của Việt Nam cộng hòa, gồm bốn thành viên xin gặp trưởng đoàn ta, nhưng đoàn ta chỉ cử cán bộ ra chuyển lời trưởng đoàn là đoàn không được ủy quyền bàn bạc vấn đề gì, mọi điều cần thiết đã được nêu rõ trong Tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời [8].

        Sau đó, khoảng 14 giờ 30, một đoàn thứ hai cũng xin gặp Giáo sư Châu Tâm Luân cho biết được ông Dương Văn Minh cử làm bộ trưởng. Đoàn ta cũng cử cán bộ trả lời như với đoàn đến trước.

        Đến khoảng 17 giờ 30, có thêm luật sư Trần Ngọc Liễn giáo sư Châu Tâm Luân và Linh mục Chân Tín lại đến thiết tha xin gặp để bàn làm sao cho việc ta đánh chiếm Sài Gòn đỡ đổ máu và bớt tổn hại về vật chất.
-------------
[6] Do Nguyễn Thành Trung chỉ huy, cất cánh từ sân bay Thành Sơn Phan Rang ta mới chiếm được cùng với số máy bay A37 nói trên.

[7],[8] Ban Liên hợp quân sự và trại Đa-vít, những tháng ngày, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.205, 206.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #106 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 11:31:04 pm »

 
       Xét vì họ là những người thuộc lực lượng thứ ba ở Sài Gòn lâu nay đối lập với chế độ độc tài của Nguyễn Văn Thiệu, không nề nguy hiểm lại đến lần thứ hai nên ta báo để họ biết có thể tiếp với tư cách cá nhân chứ không có tính chất đại diện nào. Họ đồng ý và đồng chí Võ Đông Giang, phó trưởng đoàn tiếp họ tại hầm Sở chỉ huy dự bị. Họ vừa xuống hầm thì một đợt pháo cấp tập bắt đầu trực tiếp đánh vào Tân Sơn Nhất. Để tránh nguy hiểm cho khách, ta khuyên họ tạm ở lại chờ ngơi tiếng súng sẽ bố trí hộ tống họ ra về an toàn. Họ xin ở lại và có dịp trong cái đêm lịch sử 29 tháng 4 năm 1975 này được trò chuyện với một sĩ quan cách mạng và theo dõi nhịp độ tiến công thần tốc của quân ta vào giải phóng Sài Gòn. Một cuộc trò chuyện hiếm có giữa một giáo sư, một luật sư và một linh mục Thiên chúa giáo với một cán bộ Mặt trận Giải phóng trong khung cảnh và thời điểm lịch sử khắc sâu trong hồi ức của cả chủ và khách. Đồng chí Võ Đông Giang đã tranh thủ cơ hội này để trò chuyện tâm tình và giải thích với họ mọi vấn đề cách mạng mà họ quan tâm tìm hiểu. Với tài thuyết khách khôn khéo và thái độ chân thành của mình, đồng chí đã chinh phục được tình cảm và lý trí của những vị nhân sĩ trí thức và nhà tu hành này - tiêu biểu cho lực lượng thứ ba.

        Sáng ngày hôm sau 30 tháng 4 năm 1975, khi tiếng súng ở Tân Sơn Nhất đã im, ta mời họ dự một bữa liên hoan nhẹ trước khi chia tay và theo yêu cầu của khách, tặng mỗi người hai chai rượu "Lúa mới" và một gói lương khô mà họ rất quý vì "chỉ Quân Giải phóng mới có". Sau đó, ta tiễn họ ra về chu đáo.

*

*           *

        Khoảng 6 giờ sáng 30 tháng 4 năm 1975, ta phát hiện đơn vị dù Sài Gòn đóng trước cổng hò nhau tháo chạy, vừa chạy vừa cởi quần áo rằn ri vứt bỏ đầy đường. Đơn vị xe tăng đóng gần trại Đa-vít đã biến mất từ lúc nào không rõ.

        Một điều đáng tự hào là có lẽ sớm nhất ở Sài Gòn, từ 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên tháp nước, nơi cao nhất ở trại Đa-vít một lá cờ rất to của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trong gió lộng trời xanh. Đến hơn 10 giờ, vọng gác của ta báo cáo đã thấy bộ đội ta tiến gần đến trại Đa-vít. Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 9, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, do đồng chí Sơn, tiểu đoàn trưởng dẫn đầu đã vào với anh chị em ta. Còn cuộc gặp mặt nào vui sướng hơn! Nghẹn ngào xúc động, tràn đầy nước mắt. Thế rồi, trong đoàn có được bao nhiêu bia, nước ngọt đều dưa ra khao đơn vị chiến thắng... 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng và bộ binh quân ta chiếm lĩnh dinh Độc Lập, lúc đó là phủ tổng thống của phía Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vinh quang mà Bác Hồ và Đảng, Tổ quốc và nhân dân đã giao phó:

                            " Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
                              "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước".

        Với thắng lợi ngày 30 tháng 4 năm 1975, suốt quá trình hai năm ba tháng ba ngày, tính từ ngày 29 tháng 1 năm 1973, hai đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự, đã kiên cường bám trụ ở trại Đa-vít kết thúc thắng lợi nhiệm vụ lịch sử được giao.

        Toàn thể cán bộ chiến sĩ đã từng sống và chiến đấu tại "tiền đồn" này, hàng năm có dịp đến với nhau trong ngày truyền thống của đoàn, thiết tha bày tỏ nguyện vọng mong trại Đa-vít được Chính phủ công nhận là di tích lịch sử - biểu tượng xứng đáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh trong lòng địch để phát triển những thắng lợi đã giành được trong Hiệp định Pa-ri, phối hợp chặt chẽ với chiến trường, tích cực góp phần vào thắng lợi mùa Xuân 1975.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #107 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2011, 12:01:23 am »



Thiếu tướng NGUYỄN ĐÔN TỰ (trái)

TRẬN ĐỊA NGOẠI GIAO TRONG LÒNG ĐỊCH

Thiếu tướng NGUYỄN ĐÔN TỰ                  

             Nguyên thành viên Đoàn đảm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri - Trưởng đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên về tim kiếm người chết và mất tích tại trại Đa-vit

        Cuối năm 1972, tôi đang công tác tại mặt trận Quảng Trị thì được điều về Hà Nội để vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Từng là thành viên Tổ quân sự trong Đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri, được chứng kiến những năm tháng đấu tranh gay go, quyết liệt trên bàn đàm phán để đạt được hiệp định, tôi cố hình dung những khó khăn, thử thách mới đang chờ đợi mình và đồng đội trong những ngày sắp tới.

        Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, trong khi tại Pa-ri đang diễn ra lễ ký chính thức Hiệp định, bộ phận tiền trạm của hai đoàn ta từ Pa-ri đã đáp máy bay trở về Sài Gòn để kịp họp phiên đầu tiên cấp phó trưởng đoàn chuẩn bị cho việc triển khai Ban Liên hợp quân sự bốn bên, dự kiến vào tối 28 tháng 1 năm 1973. Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Đại tá Lưu Văn Lợi, chuyên viên cao cấp, dày dạn kinh nghiệm ngoại giao, làm phó trưởng đoàn, còn Phó trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là Đại tá Đặng Văn Thu (tức Đoàn Huyên). Hôm sau, ngày 28 tháng 1 năm 1973, cũng có hai đoàn ta tử Hà Nội đi theo chuyên cơ của ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát vào tham gia Ban Liên hợp. Đồng chí Võ Đông Giang - Đại sứ lưu động của Chính phủ Cách mạng lâm thời, với hàm đại tá, là Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời. Còn tôi, khi đó là trung tá, phụ trách tiền trạm Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Chúng tôi, ai cũng hiểu rằng Mỹ và chính quyền Sài Gòn sẽ không dễ chấp nhận thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định và do đó, nhiệm vụ "ngoại giao trong lòng địch" lúc này sẽ rất phức tạp và đầy thử thách cam go. Quả nhiên, đúng như chúng tôi dự đoán. Hiệp định đã bị đối phương vi phạm ngay khi còn chưa ráo mực. Lúc chuyến bay đưa đoàn chúng tôi vừa đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, phía Sài Gòn đã bày ra cái gọi là làm thủ tục nhập cảnh, nhằm thể hiện chủ quyền" của mình. Mỹ đưa đoàn xe du lịch đón Đoàn tiền trạm, nhưng xe lại cắm cờ trắng, chúng tôi phản đối vì dây là đoàn làm nhiệm vụ theo Hiệp định Pa-ri, không phải là đi đầu hàng. Cờ của Ban Liên hợp quân sự phải do các bên thỏa thuận, không thể do Mỹ định đoạt. Chúng tôi từ chối lên xe, trừ khi tháo hết cờ trắng. Cá hai đoàn ta đều kiên quyết không chấp nhận những đòi hỏi vô lý của họ và đòi phía Mỹ và Sài Gòn phải lập tức đưa chúng tôi về trụ sở dành cho hai đoàn mà không được kèm theo bất cứ điều kiện gì. Đây không phải là vụ rắc rối dầu tiên do phía Sài Gòn gây ra đối với các đoàn ta. Cùng hôm đó, tại sân bay Tân Sơn Nhất, phía Sài Gòn cũng đã gây khó khăn tương tự đối với cả hai đoàn từ Pa-ri về cũng như cả hai đoàn từ Hà Nội vào (là Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thiếu tướng Lê Quang Hòa làm Trưởng đoàn dẫn đầu và một bộ phận Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Chẳng hẹn gì trước với nhau, nhưng các đoàn của ta đều phản đối không chịu làm "giấy xin nhập cảnh" và đều cùng ở lại trên máy bay trong suốt cả ngày 28, cho đến chiều ngày 29 tháng 1 năm 1973, khi phía Mỹ - Sài Gòn bị đuối lý, buộc phải đưa tất cả các đoàn ta về trụ sở ở trại Đa-vít. Đặc biệt, chính quyền Sài Gòn đã gây ra một vụ phá hoại Hiệp định trắng trợn và nghiêm trọng đối với đoàn của Trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời. Đáng lẽ theo thỏa thuận, đoàn đã phải được đón từ sân bay Thiện Ngôn trong vùng giải phóng về trại Đa-vít trong cùng ngày 28. Nhưng đến giờ hẹn, trực thăng Mỹ đã không đến đón Đoàn ta, trái lại máy bay chiến đấu của không quân Sài Gòn đến ném bom xung quanh sân bay, may mà ta đã cảnh giác đề phòng nên không bị tổn hại gì.

        Như vậy, do phía Mỹ và Sài Gòn rắp tâm phá hoại Hiệp định ngay từ đầu, mãi đến tối 29 tháng 1 năm 1973, các phó trưởng đoàn bơn bên mới họp được phiên đầu tiên, chậm hơn một ngày so với thỏa thuận giữa các trưởng đoàn bốn bên tại Hội nghị Pa-ri. Ngay tại phiên họp này, hai đoàn ta đã nghiêm khắc lên án hành động lật lọng và phá hoại Hiệp định của phía Mỹ và Sài Gòn, đòi Mỹ phải trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Đoàn của Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời từ địa điểm đón mới do ta lựa chọn là sân bay Lộc Ninh về sân bay Tân Sơn Nhất và trại Đa-vít. Rốt cuộc, Mỹ không còn cách nào khác là phải đáp ứng yêu cầu của ta. Trong hai ngày 1 và 2 tháng 2 máy bay trực thăng Mỹ đã đón hết đại biểu của cả hai đoàn ta vào trại Đa-vít.

        Trại Đa-vít, vốn là doanh trại của một đơn vị chuyên môn thuộc không quân Mỹ, mang tên Đa-vít là để tưởng niệm quân nhân Mỹ đầu tiên chết trận tại miền Nam Việt Nam. Trại được cải tạo làm nơi ở và làm việc cho hai đoàn ta. Phía ta coi đây chỉ là địa điểm tạm thời,, còn trụ sở chính thức lâu dài của hai đoàn ta phải được đưa vào trong thành phố Sài Gòn. Phía Mỹ ghi nhận nhưng sau đó dù ta nhiều lần nhắc nhở, họ vẫn cố tình không thực hiện.

         Trại Đa-vít ở gần sát phía tây nam sân bay Tân Sơn Nhất, nằm trong khu vực quân sự, xung quanh có bốt gác canh phòng nghiêm ngặt vòng trong, vòng ngoài với lớp lớp hàng rào dây thép gai dày đặc, được xây theo kiểu dã chiến bằng bê tông, cốt thép, lợp fibrô xi măng. Với kiểu xây dựng như vậy, cộng thêm tiếng gầm rú suốt ngày của động cơ máy bay, rồi khí hậu nắng nóng của miền Nam... khiến cho môi trường làm việc của hai đoàn ta hết sức nặng nề và căng thẳng. Sắp xếp cho hai đoàn ta ở trại Trại Đa-vít Đa-vít, chính quyền Sài Gòn muốn cô lập, ngăn không cho ta có điều kiện tiếp xúc với người dân Sài Gòn, đồng thời dễ bề kiểm soát thông tin, phá sóng, gây nhiễu điện của ta. Riêng với hai trưởng đoàn ta, phía Sài Gòn lại tỏ ra đặc biệt "ưu ái", thu xếp ở trong một nhà ngăn đôi có đầy đủ tiện nghi. Việc đó làm chúng tôi phải suy nghĩ và nâng cao cảnh giác. Quả nhiên, "sự ưu ái" này là có mục đích. Chỉ mấy hôm sau, tổ kỹ thuật chống nghe trộm của ta đã phát hiện ngôi nhà "đầy đủ tiện nghi" đó có cả những "tiện nghi" không thích hợp là những chiếc máy ghi âm vô cùng tinh xảo.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #108 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2011, 12:11:25 am »


        Theo Hiệp định Pa-ri, Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương hoạt động trong vòng 60 ngày kể từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến 28 tháng 3 năm 1973, có nhiệm vụ giám sát việc ngừng bắn, rút quân Mỹ và quân nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, trao trả nhân viên quân sự các bên và thường dân nước ngoài bị bắt... Ban Liên hợp làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí giữa bốn bên.

        Các cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự thường diễn ra căng thẳng, thậm chí còn cãi vã nhau chẳng khác gì những "cuộc chiến" thực sự về ngoại giao. Tại đây, ta cực lực lên án các hành động vi phạm nghiêm trọng Hiệp định của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ dung túng, trước hết là vi phạm quy định ngừng bắn, như mở các cuộc hành quân bình định, lấn chiếm, ném bom vùng giải phóng sau ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực. Đồng thời, ta cũng hết sức cảnh giác và kiên quyết bác bỏ những cái gọi là bằng chứng mà phía Mỹ, chính quyền Sài Gòn đưa ra hòng vu cáo ta vi phạm Hiệp định. Điển hình là vụ Cửa Việt. Trong phiên họp ngày 30 tháng 1 năm 1973, phía Sài Gòn tố cáo "phía Chính phủ Cách mạng lâm thời vi phạm ngừng bắn ở Cửa Việt ngày 28 tháng 1 năm 1973" và gửi công hàm tố cáo ta trước ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Trên thực tế, đây là hành động "vừa ăn cướp, vừa la làng" của phía Việt Nam cộng hòa. Bốn ngày sau, đoàn kiểm tra thực địa của ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đã ra kết luận trách nhiệm vi phạm ngừng bắn thuộc về phía Sài Gòn. Thực tế là ngay trước giờ ngừng bắn có hiệu lực, quân đội Sài Gòn đã lấn chiếm cảng Cửa Việt do ta kiểm soát, ta đã giáng cho chúng đòn trừng trị đích đáng và chiếm lại cảng Cửa Việt.

        Liên quan đến vấn đề rút quân Mỹ và quân đồng minh - vấn đề mấu chất của Hiệp định, phía Mỹ cố tình trì hoãn việc thông báo lịch trình cụ thể cho Ban Liên hợp. Ta đã đấu tranh với Mỹ tại Ban Liên hợp quân sự bốn bên, đồng thời thông báo cho ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Trước đòn tấn công này, ngày 16 tháng 2 năm 1973, phía Mỹ phải gửi công hàm chính thức thông báo về việc rút quân và đề nghị Ban Liên hợp cử người đến giám sát việc rút quân Mỹ và quân Hàn Quốc. Kết quả là dưới sự giám sát của Ban Liên hợp quân sự bốn bên và ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát, ngày 15 tháng 3 năm 1973, USARV - Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam làm lễ cuốn cờ. Chiều hôm ấy, MACVI - BỘ Tư lệnh tối cao của Mỹ, đóng trụ sở tại Tân Sơn Nhất, được báo chí gọi là đầu Năm Góc phương Đông" cũng hạ cờ. Và ngày 29 tháng 3 năm 1973, lính Mỹ cuối cùng đã phải rút khỏi Việt Nam. Được chứng kiến những cảnh ấy, tôi tự hỏi rồi đây lịch sử sẽ viết gì về những hình ánh u tối này của đội quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam.

        Tuy phải chấp hành việc rút quân nhưng phía Mỹ lại trắng trợn vi phạm hiệp định, lén lút đê lại hơn một vạn nhân viên quân sự, đội lốt dân sự. Khi rút quân, thay vì mang theo toàn bộ vũ khí đạn dược, theo Điều 8 Nghị định thư, họ đã để lại toàn bộ cho phía Sài Gòn, thoái thác rằng mọi vũ khí và trang thiết bị quân sự đã được chở đi bằng tàu thủy (mà không thông báo cho Ban Liên hợp quân sự và ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát). Đến khi ta đưa ra bằng chứng về những vũ khí của Mỹ đã được chuyển giao cho phía Sài Gòn thì Mỹ lại ngụy biện rằng việc chuyển giao đã được tiến hành trước khi ký Hiệp định. Những vũ khí và thiết bị quân sự mà Mỹ chuyển giao trái phép lại cho chính quyền Sài Gòn cũng không thể cứu vãn được sự sụp đổ của một chế độ chỉ tồn tại nhờ dựa vào sức mạnh quân sự và sự hỗ trợ trực tiếp của hỏa lực Mỹ.

        Một vấn đề hết sức gai góc trong chương trình làm việc của Ban Liên hợp là thực hiện việc trao trả những người bị bắt, bao gồm nhân viên quân sự các bên, thường dân nước ngoài và nhân viên dân sự Việt Nam. Đây là vấn đề quan trọng đối với cả ta và Mỹ. Tuy nhiên, phía Sài Gòn lại tỏ ra không mấy quan tâm tới người của họ bị ta bắt vì họ cố tình giữ lại phần lớn số cán bộ chiến sĩ của ta đang bị họ giam giữ. Do đang bị thúc ép rất lớn ở trong nước về vấn đề tù binh, chính quyền Mỹ buộc lòng phải ra mặt hối thúc phía Sài Gòn đi vào giải quyết thực chất vấn đề này. Kết quả là cho đến khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên kết thúc hoạt động, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã trao trả cho Mỹ 128 nhân viên quân sự Mỹ và nước ngoài bị bắt, trao đổi cho phía Sài Gòn 5.426 nhân viên quân sự, đồng thời nhận về 26.492 người của ta. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã trao trả cho phía Mỹ 459 phi công bị bắt ở miền Bắc. Còn số nhân viên dân sự bị bắt giữa ta và Sài Gòn sẽ được trao trả khi Ban Liên hợp quân sự hai bên đi vào hoạt động.

        Ngày 28 tháng 3 năm 1973, theo đúng quy định trong Hiệp định, Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động. Tuy người lính Mỹ cuối cùng cũng đã rời khỏi Việt Nam vào ngày hôm sau, nhưng chiến tranh không vì thế mà chấm dứt; miền Nam vẫn chưa im tiếng súng. Ta nắm được ý định của Nguyễn Văn Thiệu là: "không chấp nhận giải pháp của Hiệp định Pa-ri vì quân miền Bắc còn ở lại miền Nam thì chắc chắn chế độ Sài Gòn sẽ thua và sụp đổ" Do đó, Thiệu chủ trương xóa thế da báo, đẩy lùi chủ lực ta ra vùng biên giới để dùng phi pháo và lực lượng cơ động tiêu diệt, tạo ra thế chiến trường là quân đội Sài Gòn làm chủ hoàn toàn. Như vậy, sẽ xóa bỏ được mọi giải pháp theo Hiệp định Pa-ri, ngược lại Thiệu sẽ áp đặt giải pháp theo quan điểm của Sài Gòn.

        Từ chủ trương đó, Thiệu liên tục cho lấn chiếm, ném bom vùng giải phóng, tiêu diệt các cơ sở của ta ở nông thôn, hoàn toàn dựa vào giải pháp quân sự, quên rằng hơn nửa triệu quân Mỹ trong gần 20 năm không đẩy lùi được quân miền Bắc: làm sao quân Sài Gòn yếu hơn nhiều lại có thể làm được việc đó. Các hành động vi phạm Hiệp định của phía Sài Gòn ngày càng thêm nghiêm trọng, đặc biệt là về điều khoản ngừng bắn, khi bước sang giai đoạn họp Ban Liên hợp quân sự hai bên. Dù sao, việc hai đoàn ta tích cực đấu tranh liên tục trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên cũng đã buộc phía Sài Gòn phải thỏa thuận những thể thức đảm bảo 11 điều về ưu đãi miễn trừ ngoại giao đối với Đoàn đại biểu quân sự của ta tại Tân Sơn Nhất, tạo một lợi thế rất cơ bản giúp đoàn hoạt động có hiệu quả trong Ban Liên hợp quân sự hai bên sau này. Trong cuộc đấu tranh này, các đồng chí trưởng đoàn của ta đã thể hiện rõ vai trò của mình, đấu tranh sắc sảo trên bàn hội nghị Ban Liên hợp quân sự, khiến đối phương phải kính nể.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #109 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2011, 12:13:53 am »


        Ban Liên hợp quân sự hai bên, bắt đầu hoạt động từ ngày 29 tháng 3 năm 1973, có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện các điều khoản về các vấn đề quân sự và trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt. Bên cạnh ban này còn có Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, chuyên lo vấn đề người Mỹ mất tích.

        Phối hợp đấu tranh đòi Mỹ, chính quyền Sài Gòn nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, hai đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự rất coi trọng đấu tranh trên mặt trận dư luận. Đoàn ta tại trại Đa-vít có quan hệ, tiếp xúc và trả lời phỏng vấn với các phóng viên của hơn 80 tờ báo, hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình và phát thanh của 21 nước trên thế giới. Hoạt động này của đoàn ta đã góp phần tranh thủ được giới báo chí miền Nam và quốc tế, kịp thời tố cáo và ngăn chặn các hành động vi phạm Hiệp định của chính quyền Sài Gòn, phối hợp với mặt trận đấu tranh của đồng bào các giới đòi Mỹ, chính quyền Sài Gòn nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri. Có phóng viên nước ngoài, nhân một cuộc họp báo, đã bí mật trao cho ta danh sách tù chính trị đang bị chính quyền Sài Gòn giam giữ. Đó thực sự là một tài liệu rất quý, là cơ sở để ta đấu tranh đòi phía chính quyền Sài Gòn thả hết người bị bắt. Trong các đợt đàm phán kéo dài từ tháng 4 năm 1973 cho đến tháng 3 năm 1974, do ta đấu tranh mạnh trên vấn đề trao trả nhân viên dân sự và nhân viên quân sự còn lại của hai bên, cuối cùng, phía Sài Gòn buộc phải trả cho ta 5.075 nhân viên dân sự và 130 nhân viên quân sự; ta trả cho họ 637 nhân viên dân sự và 410 nhân viên quân sự. Tất nhiên, với bản chất lật lọng, xảo quyệt, cố tình phá hoại Hiệp định Pa-ri, chế độ Sài Gòn vẫn còn giam cầm hàng vạn tù nhân chính trị và số người này chỉ được giải phóng cùng ngày giải phóng miền Nam.

        Do chính quyền Nguyễn Văn Thiệu rút các quyền ưu đãi đối với các thành viên Ban Liên hợp quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời, ngày 22 tháng 6 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời tuyên bố đình chỉ họp vô thời hạn Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam ở La-xen-la Sanh-clao (Pa-ri); đồng thời chỉ thị cho đoàn vẫn bám trụ lại Tân Sơn Nhất. Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hoà trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên chuyên lo về vấn đề người Mỹ mất tích cũng được chỉ thị ở lại trại Đa-vít.

        Quan điểm nhất quán từ đầu của ta là đấu tranh trên ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao; Hiệp định Pa-ri là giải pháp tốt nhất cho tình hình miền Nam Việt Nam. Quan điểm này được nói trực tiếp với Phái đoàn Mỹ, Sài Gòn và các nhà báo Sài Gòn cũng như quốc tế và Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

        "Hơn 300 cán bộ chúng tôi đã ở giữa sào huyệt của chế độ Sài Gòn là để sẵn sàng thi hành Hiệp định Pa-ri".

        Quan điểm của ta và nhất là sự có mặt của đoàn ta sau khi Ban Liên hợp quân sự đình chỉ hoạt động đã có tác động đến nhận định của Mỹ và Sài Gòn. Họ cho rằng ta đánh đến Biên Hoà là có lợi thế về ngoại giao, lúc đó chắc Ban Liên hợp quân sự sẽ họp trở lại. Do đó, họ vẫn giữ quan hệ với đoàn ta, coi đây là cầu liên lạc để thăm dò, truyền đạt quan điểm khi cần thiết.

        Tình hình ngày một thêm căng thẳng. Do bị thua đau trên chiến trường, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu quay sang trả đũa vào hai đoàn đại biểu ta tại trại Đa-vít. Chúng cắt điện, nước, thậm chí phun cả hơi cay vào trại. Khi bị ta tố cáo thì chúng lấy cớ là phun thuốc diệt muỗi. Trong các buổi họp báo tại trại Đa-vít và trong tiếp xúc với Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát, ta tố cáo mạnh mẽ những đòn trả thù hèn mạt này của chính quyền Sài Gòn. Hoạt động tuyên truyền của đoàn ta không chỉ làm chính quyền Sài Gòn chùn tay mà còn tranh thủ được sự ủng hộ của đồng bào các giới, của lực lượng báo chí tiến bộ, tăng thêm sức mạnh trong đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Pa-ri. Tuy nhiên, đoàn ta tại trại Đa-vít cũng luôn cảnh giác đề phòng trường hợp xấu nhất là chính quyền Sài Gòn điên cuồng liều lĩnh với trại Đa-vít.

        Lúc này, đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự hai bên và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên tại trại Đa-vít gồm hơn 300 cán bộ chiến sĩ, chủ yếu từ đại úy trở lên. Tuy là Đoàn quân sự, nhưng do hoạt động mang tính chất đấu tranh ngoại giao, nên theo quy định của Hiệp định chỉ được trang bị vũ khí nhẹ: 30 cảnh vệ trang bị AK, mỗi cán bộ có một khẩu súng ngắn và sau này đoàn được tăng cường hai vali lựu đạn chống tăng. Địch dường như không che giấu ý đồ của chúng đối với trại Đa-vít; án ngữ trước cửa trại là trại huấn luyện của sư đoàn dù; xung quanh trại Đa-vít, địch cho đào hào sâu, chăng dây thép gai và dựng tới mười ba trạm gác có đặt súng cỡ đạn 12,7mm. Đến đầu năm 1975, đối phương còn cho tăng cường thêm một đơn vị xe tăng và một đại đội bộ binh đến bao vây, ngày đêm khống chế nghiêm ngặt trụ sở của hai đoàn ta.

        Nhân đây, tôi xin kể thêm một chút về ý đồ của Sài Gòn muốn hủy diệt trại Đa-vít là có thật. Trong quyển lịch công tác mà Đại tá Nguyễn Văn Bổ, phụ trách bảo vệ Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà, tìm thấy sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975 trên bàn làm việc của tướng Cao Văn Viên, khi đó là Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, thì tướng Viên có ghi: "Chỉ thị cho cấp dưới được quyền sử dụng các biện pháp sau đây đối với trại Đa-vít không cần phải xin chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, chỉ cần phát hiện thấy có tiếng súng từ trại Đa-vít bắn sang sân bay: 1) Bắn pháo và cối vào trại Đa-vít; 2) Cho xe tăng và bộ binh tấn công; 3) Ném bom; 4) Rải chất độc hoá học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố". Cao Văn Viên bỏ đi di tản vào chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, nên lệnh này có thể được phát vào ngày 27 hoặc sáng 28 tháng 4 năm 1975. Rõ ràng, lý do mà Cao Văn Viên đưa ra để các đơn vị hành động là rất mơ hồ và xảo quyệt vì chúng hoàn toàn có thể tạo ra cớ để tấn công trại. Hơn nữa, cũng không thể nào kiểm tra được chứng cứ, vì từ ngày 26 tháng 4, khu vực sân bay Tân Sơn Nhất và trại Đa-vít nằm trong tầm khống chế của pháo ta. Như vậy, có thể thấy thực chất của lệnh này là chính quyền Sài Gòn khuyến khích các đơn vị của họ hủy diệt trại Đa-vít kể cả bằng chất độc hoá học.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM