Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:28:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315387 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #120 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 02:17:49 pm »



THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH PA-RI
CHĂNG ĐƯỜNG GIAN TRUÂN

NGUYỄN NGỌC DUNG                    

            Nguyên thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri - Nguyên thiếu tá Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên tại trại Đa-vít.

        Ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày ký kết Hiệp định Pa-ri kết thúc cuộc đàm phán gần 5 năm vì hoà bình ở Việt Nam. Hồi nhớ giai đoạn lịch sử ấy tôi luôn sống lại những cảm xúc bồi hồi về những buổi đầu ra quân, những năm dài gay go trên địa bàn hội nghị, rồi thời gian đấu tranh quyết liệt để thi hành Hiệp định Pa-ri, lòng tôi tràn ngập niềm vui xen lẫn tự hào.

        Ngày ấy, quyết định tham gia Ban Liên hợp quân sự đến với tôi thật sự bất ngờ, chỉ 24 giờ trước khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết, khiến người tôi như đi trong mơ. Hai niềm phấn khởi quá lớn đến cùng một lúc.

        Cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi và bản thân tôi được vinh dự về thẳng Sài Gòn, tham gia bộ máy thực thi Hiệp định, ngay tại sào huyệt Mỹ - nguy, nơi mẹ và hai con tôi đang sống mà hơn 20 năm chưa hề gặp lại.

        Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, tôi ngồi trong Hội trường Klê-béc rộng lẫy ánh đèn, trong giờ phút cử hành trọng thể lễ ký Hiệp định và đến chiều, cũng tại Klê-béc tôi tham dự phiên họp đầu tiên của Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Công việc hai phiên họp này vô cùng quan trọng và có tầm vóc lịch sử, nhưng đầu óc tới chỉ chăm chăm suy tính đến việc phải làm gì, chuẩn bị nội dung gì để lên dường bước vào trận địa gay go mới trong lòng địch.

        Rời Pa-ri về đến Hà Nội đúng mồng 1 Tết Quý Sửu, tôi chỉ có một ngày để chuẩn bị mọi việc trước khi vào Nam nhận nhiệm vụ. Quân phục của tôi đã được quân nhu thức suốt đêm may gấp, còn đôi giày da không sao đóng kịp. Tôi đôn đảo đi tìm mượn khắp nơi, nhưng hồi ấy các chị không ai mang giày da đen cả, vì hầu hết chị em, kể cả các nữ quân nhân, chỉ đi dép nhựa có quai hậu. Đến nửa đêm, các đồng chí quân nhu đành phải đánh xe vào tận Hà Đông, tìm Đoàn văn công quân đội đang sơ tán ở trong ấy để mượn giày mặc dù bị đánh thức lúc đêm khuya, nhưng ai nấy đều vui vẻ giúp tôi chọn giày. Chị em nói: "Phải chuẩn bị cho đầy đủ tư thế trước mặt kẻ thù. Có được nữ sĩ quan đại biểu của ta đối chọi cho họ biết tay!". Tôi còn nhận thêm một khẩu súng lục và mấy chục viên đạn, những thứ này tôi chưa bao giờ đụng đến. Rồi với tư cách là sĩ quan đại biểu, với quân hàm thiếu tá thành viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời, tôi cùng với hơn năm mươi đồng chí trong lực lượng vũ trang giải phóng lên chiếc C.130 của Mỹ, bay vào trụ sở đoàn tại trại Đa-vít (Tân Sơn Nhất) bắt đầu nhiệm vụ mới.

        Có chi tiết đáng nói là trong bốn đoàn (Mỹ, Sài Gòn, Hà Nội và Đoàn Quân Giải phóng) thời kỳ đàm phán ở Pa-ri rồi đến Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở Tân Sơn Nhất, chỉ duy nhất Đoàn Quân Giải phóng miền Nam là có nữ thành viên và nữ sĩ quan đại biểu.

        Công việc của tôi giai đoạn "hậu Hiệp định Pa-ri" khác hẳn với giai đoạn đàm phán. Trong khi ở Hội nghị Pa-ri ngoài việc tham dự các phiên họp hàng tuần vào thứ năm ở Hội trường Klê-béc, tôi làm thường trực "Nhóm tiếp xúc" của đoàn (mà anh Nguyễn Văn Tiến là nhóm trưởng) chuyên đi "tiếp xúc, nối mạng" với các nhân sĩ, chính khách, các tổ chức, đoàn thể, phong trào yêu chuộng hoà hình và công lý của nhân dân các nước trên thế giới, kể cả ở Mỹ. Mục đích nhằm cung cấp thông tin, vận động, thuyết phục, phân hoá, để họ ủng hộ mục tiêu đấu tranh vì độc lập dân tộc của ta và gây sức ép dư luận, cùng với ta buộc Mỹ đi vào thương lượng nghiêm chỉnh để đi đến ký kết Hiệp định. Còn lần này về Sài Gòn, là thành viên Đoàn đại diện lực lượng vũ trang giải phóng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, tôi sẽ cùng đồng đội của hai đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trực tiếp tham gia đấu tranh, buộc đối phương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri, nhằm phát huy những thắng lợi về chính trị và pháp lý đã được ghi trong văn bản Hiệp định.

        Theo Điều 16 của Hiệp định, Ban Liên hợp quân sự bốn bên hoạt động trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày 28 tháng 1 năm 1973, chịu trách nhiệm giám sát và thúc đấy các bên thực hiện các điều khoản về ngừng bắn, rút quân Mỹ và quân nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam; hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ; trao trả nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt; và giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu. Còn việc trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ do Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam chịu trách nhiệm giải quyết trong vòng 90 ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.

        Thời hạn 60 ngày đầu của Hiệp định là những ngày đấu tranh sôi động nhất, nhiều lúc rất căng thẳng, liên quan hàng loạt những vi phạm của Mỹ và Sài Gòn, nhất là về ngừng bắn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #121 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 02:21:56 pm »


        Sở dĩ có tình hình trên là vì mục tiêu chiến lược và lợi ích chủ yếu của các bên trong Hiệp định đều khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Do đó, thái độ thi hành các điều khoản trong Hiệp định và mức độ chống đối, vi phạm cũng có sự khác nhau giữa Mỹ và Sài Gòn.

        - Về phía Mỹ, họ chỉ quan tâm thực hiện và ép Sài Gòn thực hiện những điều khoản nào cần thiết đến với họ, như bảo đảm an toàn cho việc rút quân Mỹ và quân đồng minh, đặc biệt nhất là việc nhận lại tù binh Mỹ sớm và an toàn. Còn đối với nhiều điều khoản khác thì Mỹ lại dung túng hoặc để mặc cho chính quyền Thiệu vi phạm Hiệp định.

        - Về phía Sài Gòn, ngay từ đầu, họ đã chủ tâm chống lại không chịu thi hành bất cứ điều khoản nào của Hiệp định. Bởi vì họ coi đó là con đường "tử địa", xoá sổ chế độ của họ. Song do bị lệ thuộc Mỹ về mọi mặt, nhất là luôn bị Mỹ đe dọa cắt viện trợ, họ miễn cưỡng thực hiện một số việc, nhưng luôn tìm cách gây khó khăn, chậm trễ, từ việc lớn đến việc nhỏ.

        - Về phía ta, việc đòi Mỹ rút quân là mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu cơ bản mà ta kiên trì, ưu tiên theo đuổi trong suốt quá trình đàm phán và ký kết văn bản Hiệp định. Còn đối với Mỹ, việc đưa được quân nhân bị bắt và toàn bộ lực lượng vũ trang Mỹ về nước là yêu cầu bức thiết số một của họ. Khi giải quyết tốt vấn đề này ta buộc đưa phía Mỹ phải nghiêm chỉnh thi hành Điều 5, Điều 6 của Hiệp định, chấm dứt sự có mặt về quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

        Điều đó lý giải phần nào tính chất gay go, quyết liệt của cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri trong những tuần đầu ra quân của Ban Liên hợp quân sự bốn bên dọn đường dẫn đến giờ G lịch sử quét sạch quân Mỹ ra khỏi miền Nam "đánh cho Mỹ cút", tiền đề cực kỳ quan trọng mà toàn quân, toàn dân ta mong đợi.

        Theo Điều 16a của Hiệp định Pa-ri, hai đoàn đại biểu của ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, cùng với các sĩ quan bốn đoàn ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thực hiện việc giám sát và kiểm soát việc rút quân Mỹ và đồng minh của Mỹ. Trong suốt thời gian này, Đoàn đại biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam và Đoàn đại biểu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thường xuyên có mặt trong các tổ chức liên hợp bốn bên tại các sân bay Tân sơn Nhất, Đà Nẵng, Nha Trang là ba nơi được chỉ định để rút quân Mỹ và đồng minh của Mỹ.

        Việc kiểm soát và giám sát rút quân Mỹ được thực hiện chính xác từng chi tiết về thời gian, tên người số quân hiệu, đơn vị binh chủng. Tôi còn nhớ như in, chiều ngày 27 tháng 3 năm 1973, dưới nắng chói chang, trong quân phục chỉnh tề, đại biểu bốn Tổ Liên hợp quân sự đứng tận chân máy bay. Sĩ quan đại biểu Mỹ và sĩ quan đại biểu ta cùng cầm danh sách để điểm danh. Từng sĩ quan Mỹ được gọi, bước lên cầu thang. Chiếc máy bay hôm ấy là chiếc phản lực Boeing hai tầng mới tinh, hiện đại nhất của Mỹ. Trong chuyến rút quân cuối cùng này, số quân được rút đều là sĩ quan cao cấp từ đại tá trở lên. Sau đợi rút này, xem như toàn bộ kế hoạch rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ đã được thực hiện xong. Ngày hôm sau, ngày 28 tháng 3 năm 1973, Bộ chỉ huy Mỹ đã làm lễ cuốn lá cờ sao vạch của Hoa Kỳ (đã được kẻo lên từ tháng 2 năm 1962) chấm dứt mười một năm có mặt ở miền Nam Việt Nam.

        Như vậy là sau mấy chục năm can thiệp và trực tiếp xâm lược, chiếm đóng, gieo bao đau thương tang tóc cho dân tộc Việt Nam, cuối cùng Mỹ đã phải chấp nhận thất bại trước ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân ta, buộc phải đặt bút ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và rút quân về nước. Nhìn cảnh toán quân Mỹ cuối cùng rời khỏi Tân Sơn Nhất, tôi nhớ lại gần mười năm trước đây, quân Mỹ ồ ạt kẻo vào miền Nam nước ta mà họ cứ tưởng như vào chốn không người, không có ai và không có cách nào đánh đuổi họ đi được. (Cần nói rõ thêm, sau ngày 28 tháng 3 năm 1973, Mỹ vẫn cố tình vi phạm Hiệp định bằng cách lén lút để lại ở miền Nam Việt Nam hơn một vạn nhân viên quân sự đội lết dân sự).

        Nhiệm vụ thứ hai mà phái đoàn ta tích cực thực hiện là đấu tranh - đòi đối phương trao trả các chiến sĩ, đồng bào thân yêu đã bị bắt và giam giữ. Trong việc trao trả này, điều quan trọng nhất là phải đảm bảo nhịp độ trao trả tù binh cân bằng giữa hai bên, không để xảy ra tình trạng phía Hoa Kỳ nhận được người của họ mà phía ta lại chậm nhận được người của mình. Địa điểm trao trả tù binh ở miền Bắc là tại sân bay Gia Lâm, còn ở miền Nam nằm rải rác ở nhiều tỉnh trong vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng lâm thời, có khi ở cả những điểm nằm xen kẽ giữa vùng của ta với vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Do địa điểm trao trả ở miền Nam không cố định, thường phải di dời nhiều nơi, nên việc trao trả tù binh của các bên gặp nhiều trục trặc, gian nan. Đôi khi, trực thăng đưa đại diện bốn bên đi làm nhiệm vụ, do không tìm thấy địa điểm, đành phải quay về. Thậm chí, có lần đã xảy ra xung đột tại nơi trao trả, phía Sài Gòn gây thương tích cho thường dân, như các vụ ở xã Phổ Phong Đức Phổ, Quảng Ngãi ngày 8 tháng 3 năm 1973 đã có 25 người chết và 40 người bị thương và vụ ở Minh Hoà (Bình Long).

        Sự cố quan trọng nhất đã xảy ra trong đợt trao trả đầu tiên tại Lộc Ninh (ngày 12 tháng 2 năm 1973)- Trong lúc này, cả phía ta và phía Mỹ đều nôn nóng muốn việc trao trả quân Mỹ và quân ta đợt đầu diễn ra suôn sẻ để mở đường cho những đợt sau. Giờ quy định đã qua, từ Hà Nội điện liên tục hỏi tin để ngoài ấy mới khởi sự đợt trao trả toán tù binh phi công Mỹ đầu tiên. Nhưng chờ mãi quá hai giờ vẫn không thấy chiếc máy bay C.130 từ Biên Hoà bay đến theo kế hoạch. Hoá ra là anh em bộ đội ta bị giam giữ ở trại giam Phú Quốc, vốn là những chiến sĩ kiên cường, ưu tú của các lực lượng vũ trang ta, do thường xuyên bị bọn cai tù khủng bố tàn bạo, nên lúc nào cũng phải cảnh giác. Sau khi được tập kết về sân bay Biên Hoà, anh em chưa tin là mình được trao trả, mà vẫn còn nghi ngờ chính quyền Sài Gòn đưa đi thủ tiêu hoặc giam giữ ở nơi bí mật nào khác. Anh em kiên quyết không chịu lên máy bay đi tiếp. Trung tướng (sau này là thượng tướng) Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu Quân Giải phóng miền Nam, đã phải cấp tốc phái sĩ quan đại biểu của ta đến Biên Hoà gặp, giải thích rõ, khẳng định với anh em ta là đã có phái đoàn đại diện vào Sài Gòn và tổ chức đón, đảm bảo cho anh em được trả tự do theo đúng tinh thần Hiệp định Pa-ri. Khi đó, mọi người mới thực sự tin và chịu lên máy bay.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #122 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 02:23:42 pm »


        Đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể nào quên được cảnh tượng diễn ra hôm ấy khi chiếc C.130 hạ cánh. Trong cát bụi, 150 chiến sĩ ta, tuy bị thương tật nhiều người phải chống nạng hoặc dìu cõng nhau, vẫn ngẩng cao đầu giữa hai hàng quân cảnh Sài Gòn lăm lăm tay súng, mặt đầy sát khí. Khi các anh ấy nhìn thấy được cờ Tổ quốc, cờ Mặt trận và đồng bào, đồng đội giăng hàng đón tiếp, anh em bất ngờ rút ra những lá cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ nửa xanh của Chính phủ Cách mạng lâm thời, không biết giấu từ đâu ra, cùng với những dải băng khẩu hiệu cắm vào que nhỏ. Tất cả vừa đi thẳng hàng vừa giương cao băng cờ, đồng thanh hát bài "Kết đoàn" và "Vì nhân dân quên mình" xong đồng loạt cởi bỏ, liệng trả hết quần áo tù, chỉ giữ lại trên người độc chiếc quần đùi. Nghĩa cử cao đẹp bất ngờ của những quân nhân cách mạng từ chốn ngục tù trở về đã gây ngạc nhiên, xúc động và sự khâm phục đối với các thành viên ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát, phi công lái trực thăng và đồng bào vùng giải phóng Lộc Ninh có mặt hôm ấy. Các má, các chị lo khiêng cáng, phân phát quần áo, bánh trái, thuốc men, ân cần đón tiếp, mừng mừng, tủi tủi.

        Hai hôm sau đó, cũng tại sân bay Lộc Ninh, tinh thần bất khuất ấy lại được tái diễn sinh động trong cuộc đón tiếp 904 nữ chiến sĩ ta bị địch giam cầm trở về. Nhiều chị nằm trên cáng, có những đứa trẻ chạy lúp xúp bên cạnh. Được biết, các em được sinh ra trong tù vì khi mẹ các em bị bắt, các em còn trong bào thai.

        Trong nhiệm vụ trao trả người bị bắt và giam giữ, còn có một công tác quan trọng khác mà ta rất quan tâm là đấu tranh đòi đối phương đi thăm nơi giam giữ cuối cùng và gặp gỡ tù nhân trước khi họ được trao trả. Thực hiện điều này (Điều 9a Nghị định thư trao trả), các bên sẽ thỏa thuận chỉ định hai Hội chữ thập đỏ quốc gia hoặc nhiều hơn, cùng với ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đến thăm nơi giam giữ nhân viên quân sự của các bên bị bắt. Tuy vậy phía Sài Gòn vẫn tìm cách tránh né không chịu hợp tác, viện đủ lý do để thoái thác. Hai đoàn ta phải gây sức ép, yêu cầu cả đại diện của Đoàn Mỹ và Đoàn Sài Gòn buộc tên phụ trách trại giam phải cho các Tổ Liên hợp quân sự bốn bên và ủy ban Quốc tế vào thăm trại.

        Chuyến thăm trại giam Phú Quốc (ngày 14 tháng 2 năm 1973), nơi giam giữ 40 nghìn chiến sĩ, cán bộ quân đội ta bị địch bắt giữ, đã để lại ấn tượng sâu sắc. Đây là chuyến đi Phú Quốc lần thứ ba. Hai chuyến trước, ta chỉ đến sân bay An Thôi rồi phải quay về. Lần này, ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đi rất đông, lại có một đội vô tuyến truyền hình. Hai đoàn ta trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đã phải "khẩu chiến" gay gắt gần nửa giờ với tên chúa ngục Bùi Bằng Dục, trước mặt bốn Tổ Liên hợp quân sự và bốn đại diện các nước ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Đến khi chống chế không được nữa, hắn mới chấp nhận. Nhưng lại nói chỉ để đoàn Liên hợp quân sự vào thăm nhà giam mà thôi, còn hắn sẽ không vào "vì còn vợ còn con nên không muốn chết". Vẻ mặt hắn hớt hải ngay trước mặt lính tráng quân cảnh của hắn đứng vòng trong vòng ngoài cho thấy hắn đang đoán giờ cuối cùng đã điểm.

        Khi vào thăm trại giam, qua tám vòng rào dây thép gai cao ba mét, chúng tôi thấy điều kiện sống của tù nhân vô cùng khắc nghiệt. Quanh trại không một bóng cây một ngọn cỏ. Dưới mái tôn, nắng nóng đổ lửa như một hầm lò. Thật khó tưởng tượng khi đã có Hiệp định Pa-ri với các điều khoản rõ ràng quy định trách nhiệm các bên mà phía Sài Gòn vẫn xem như không có Hiệp định, vẫn khủng bố, hành hạ tù nhân. Do vậy, các chiến sĩ tù nhân đã không có con đường nào khác là bất khuất chống trả quyết liệt.

        Lên trực thăng rời trại giam Phú Quốc trở về Tân Sơn Nhất, lòng chúng tôi bùi ngùi, vô cùng lo lắng cho số phận các chiến sĩ ta còn trong trại như cá năm trên thớt.         Liệu mai này, các đồng chí chúng tôi vừa được gặp có được trao trả về đủ, an toàn trong vòng tay đồng đội?

        Tôi liên tưởng đến thời kỳ cuối, khi Hội nghị Pa-ri đi vào soạn thảo văn bản Hiệp định, tôi rất nhớ ơn bạn bè quốc tế đã giúp ta cung cấp nhiều tư liệu, tiền lệ lịch sử về các cuộc trao đổi tù binh sau chiến tranh. Các bạn đã lùng sục các trung tâm lưu trữ từ Pa-ri đến Giơ-ne-vơ, Luân Đôn để giúp vào việc xây dựng tốt văn bản Hiệp định nói chung và Nghị định thư về trao trả người bị bắt nói riêng.

        Cũng không thể quên sự giúp đỡ của một phóng viên nước ngoài nhân cuộc họp báo của đoàn ta ở trại Đa-vít, đã bí mật trao danh sách tù chính trị của ta còn bị chính quyền Sài Gòn giam giữ. Đặc biệt đáng nhớ là sự đóng góp của hai anh bạn Pháp André Menras và Jean Debris vì treo cờ Mặt trận ở Sài Gòn phải chịu hai năm tù ở nhà giam Chí Hòa. Ngay đêm được trở về Pháp, cuối tháng 12 năm 1972, đã cung cấp cho thế giới những bằng chứng sống về "chuồng cọp", "những địa ngục trần gian" và trao cho ta những danh sách tù, thư tố giác của đồng đội, đồng bàn ta còn bị giam, mạng sống còn bị đe dọa. Chính những sự đóng góp quý báu ấy đã góp phần giúp chúng tôi có dữ liệu đấu tranh có hiệu quả, chống lại các thủ đoạn, hành vi đánh tráo, gian lận của Sài Gòn và cố gắng đòi và đưa được càng nhiều đồng bào, đồng đội trở về.

        Hết thời hạn 60 ngày, ngày 28 tháng 3 năm 1973; hoàn thành các nhiệm vụ rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ, trao trả nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt. Ngày 28 tháng 3 năm 1973, Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương, với sự tham gia của đại diện chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời, có nhiệm vụ đảm bảo sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều khoản, các vấn đề quân sự và việc trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và số nhân viên quân sự còn lại của hai bên.

        Trong giai đoạn này, tôi vinh dự được tiếp tục tham gia Ban Liên hợp quân sự hai bên. Cục diện đấu tranh chuyển sang thế trận mới. Lần này còn căng thẳng hơn vì chính quyền Thiệu công khai tiếp tục phá hoại Hiệp định một cách có hệ thống, trong khi ấy Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam đã rút về miền Bắc (rút cùng thời gian với Đoàn Mỹ căn cứ theo hiệp định).

        Nhìn lại giai đoạn lịch sử hào hùng này, tôi thấy Hiệp định Pa-ri được xây dựng rộng rãi hơn bốn năm, bằng sự hy sinh xương máu trên chiến trường hai miền Nam - Bắc, cộng với sự đấu trí quyết liệt trên bàn đàm phán và sự đoàn kết ủng hộ nhiệt tình của nhân dân thế giới, là một thành quả ngoại giao đánh - đàm xuất sắc. Chặng đường tiếp theo thực thi Hiệp định Pa-ri lại là một chặng đường khúc khuỷu, gian truân khác, đã thể hiện chiến lược chiến thuật đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao tuyệt vời của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

        Đối với tôi được chứng kiến và trực tiếp góp phần nhỏ bé vào giai đoạn đấu tranh này, từ Pa-ri đến trại Đa-vít, đến ngày thắng lợi cuối cùng - đó là niềm vinh hạnh lớn lao nhất trong đời tôi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #123 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 02:48:39 pm »



MỘT CUỘC ĐẤU TRANH
Ở NHÀ LAO TAM HIỆP

NGUYỄN VÀN KHẢ                  
           
        Câu chuyện này xảy ra khi phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam chúng tôi đang công tác ở trong trại Đa-vít giữa thành phố Sài Gòn.

        Lúc 22 giờ ngày 11 tháng 2 năm 197'3, Đại tá Trần Vĩnh Đắt, Trưởng tiểu ban trao trả của ngụy Sài Gòn gọi điện cho đồng chí Lê Trực, trưởng tiểu ban trao trả của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, báo một tin đặc biệt: "Trên 900 tù binh bên phía quý vị không chịu đi trao trả nên ngày mai không thể trao trả số người đó như đã thoả thuận của các trưởng phái đoàn trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên".

        Đồng chí Lê Trực hỏi lý do tại sao mà số người này không chịu đi trao trả, hiện đang ở trại giam nào? Trần Vĩnh Đắt trả lời rằng: "Chúng tôi chỉ được giám đốc trại giam Tam Hiệp ở Biên Hoà báo cáo như vậy, chúng tôi không hiểu tại sao? Chỉ biết rằng họ đòi được gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng lâm thời”.

        Theo thỏa thuận của bốn trưởng phái đoàn trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên thì 8 giờ sáng ngày mai 12 tháng 2 năm 1973, cuộc trao trả đầu tiên được tiến hành. Ta trao trả trên 100 tù binh Mỹ ở sân bay Gia Lâm, 27 tên Mỹ ở sân bay Lộc Ninh và họ phải trao trả 935 người của ta bị bắt tại sân bay Lộc Ninh và ở một địa điểm tại Quảng Trị.

        Ban lãnh đạo đoàn chúng tôi liền triệu tập một cuộc họp. Mọi người tham gia thảo luận sôi nổi về sự kiện này. Cuối cùng, anh Trần Văn Trà kết luận hai khả năng: Một là địch phá hoại và hai là anh em ta không tin có việc trao trả nên đòi gặp cho được phái đoàn ta.

        Chúng ta cử một đoàn sĩ quan đến thẳng trại giam Tam Hiệp trực tiếp xem xét tại chỗ để căn cứ vào thực tiễn mà xử lý. Yêu cầu số một là phải làm cho cuộc trao trả được tiến hành theo đúng tiến trình mà các trưởng đoàn đã thoả thuận. Bất kỳ trường hợp nào cũng không được hoãn việc trao trả. Đồng thời với việc cử phái đoàn đến trại giam Tam Hiệp sáng mai, Trung tướng Trần Văn Trà trưởng đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, trưởng Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ triệu tập Hội nghị các trưởng đoàn để giải quyết vấn đề này.

        Đoàn đi Tam Hiệp, tôi được cử làm trưởng đoàn. Tôi tên chính là Nguyễn Văn Khả, nhưng hồi hoạt động trong Nam với tên là Vũ Nam Bình, thường gọi là Vũ Bình. Bấy giờ tôi đang giữ chức phó trưởng tiểu ban trao trả của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Cùng đi với tôi có đồng chí Nguyễn Văn Bốn làm phó đoàn. Bên đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà là anh Hoàng Thương và anh Lục. Cùng đi với chúng tôi còn có một số phóng viên, báo chí, quay phim, chụp ảnh và một vài cán bộ khỏe mạnh, chắc chắn, bình tĩnh, vững vàng để hỗ trợ đoàn. Chúng tôi báo cho phái đoàn Mỹ và phái đoàn nguy cử người đi theo và đến đón đoàn vào 6 giờ sáng cùng lên Biên Hoà. Chúng tôi mang theo một ít thuốc lá Thăng Long, Điện Biên và một ít gói chè miền Bắc để có dịp thuận lợi thì tặng anh em ta ở trại giam.

        Chỉ còn hai giờ nữa là ô tô của đoàn Mỹ-nguy đón chúng tôi lên Biên Hoà. Với cương vị là trưởng đoàn, tôi nằm nghĩ miên man về cuộc xử trí ngày mai. Tôi thấy vẫn chưa có một cái gì là cái bảo bối chắc chắn nhất cho mình, tức là một "cái gậy" gì đây, một nội dung gì mà từ đấy mình có thể đối phó được với sự xảo quyệt của kẻ thù. Tôi suy nghĩ đến việc có nên báo cáo với ngoài Trung ương, đề nghị hoãn trao trả trên 100 tên Mỹ ở ngoài Bắc và 27 tên Mỹ ở Lộc Ninh để bắt chúng phải trả người của ta thì ta mới trả Mỹ hay không?...

        Xem đồng hồ đã 4 giờ rưỡi sáng, tôi mạnh dạn lên phòng anh Trà. Anh cũng chưa ngủ và anh Lê Quang Hoà cũng đang có mặt. Tôi liền báo cáo ý kiến của mình. Các anh cho gọi thêm mấy anh có liên quan đến để bàn. Sau khi bàn bạc, anh Trà kết luận là chúng ta đã báo cáo ra Trung ương cách đây trên một giờ. Bây giờ điện ra báo cáo là việc trao trả ở Hà Nội như thế nào do Trung ương quyết định, nhưng riêng 27 tù binh Mỹ được trả ở Lộc Ninh vào 9 giờ sáng nay xin được hoãn lại. Ta báo cho Mỹ biết là chúng ta tạm hoãn đến khi nào có chuyến máy bay đầu tiên chở người bị bắt của ta hạ cánh xuống sân bay Lộc Ninh, lúc ấy mới bắt đầu làm thủ tục trao trả 27 quân nhân Mỹ bị bắt...

        Vì lý do gì không rõ, bọn sĩ quan của Mỹ-nguy hơn 9 giờ mới đến đón đoàn chúng tôi lên Tam Hiệp. Đinh Công Chất, thiếu tá sĩ quan an ninh quân đội nguy và một trung tá Mỹ dẫn chúng tôi đi. Ngồi trên ô tô, mắt nhìn ra ngoài, nhưng hầu như tôi chẳng chú ý gì đến quang cảnh, vì trong đầu óc tôi đang suy nghĩ, xếp sắp những nội dung phương pháp xử trí khi đến nhà lao Tam Hiệp. Chúng ta sắp đến trại giam Tam Hiệp rồi" - Thiếu tá Chất nói với tôi như vậy!

        Nhìn ra ngoài thấy rất nhiều quân cảnh nguy, súng lăm lăm trong tay, cứ mười lăm đến hai mươi mét có một tên, tên nào ngó bộ cũng hung dữ. Tôi hỏi Thiếu tá Chất: "Họ làm cái gì đấy". Thiếu tá Chất trả lời là hình như họ bảo vệ cho cuộc trao trả hôm nay đấy! Tôi mỉm cười thốt lên: họ bảo vệ ai đấy nhỉ?

        Vào đến cổng trại giam, có khoảng một đại đội quân cảnh cùng với súng trong tay hình như họ đang phải đề phòng một chuyện gì nguy hiểm lắm? Xuống xe, Đinh Công Chất dẫn tôi vào một hội trường lớn. Có mấy sĩ quan nguy ra đón. Đinh Công Chất giới thiệu chúng tôi với một trung tá nguy, ngực gắn chữ Phong và nói đấy là giám đốc trại giam Biên Hoà.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #124 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 02:53:25 pm »


        Tên Phong nói một câu bâng quơ là các ông đến xem số người của các ông không chịu đi trao trả. Tôi trả lời gì với câu nói đó?

        Tôi hỏi một câu: ở đây ai là người có trách nhiệm nói chuyện với phái đoàn của chúng tôi? Người đó phải nói với chúng tôi cho đúng đắn, rõ ràng và chính xác. Nhìn tên Phong, thấy sắc mặt có biến đổi. Tôi nói tiếp: Hôm nay là ngày các bên tiến hành trao trả người bị bắt chuyến đầu tiên. Nếu ở đây mà trở ngại việc trao trả người của chúng tôi thì ảnh hưởng đến toàn bộ việc trao trả ngày hôm nay. Chúng tới đến đây để gặp tất cả những người bị bắt của chúng tôi để hiểu rõ tại sao anh em chúng tôi theo như các ông báo cáo là không chịu đi trao trả, không chịu về với Chính phủ Cách mạng lâm thời.

        Đinh Công Chất nói với Phong là sẵn sàng trả lời những câu hỏi của Trung tá Vũ Bình để giải quyết sự việc nhanh chóng. Tên sĩ quan Mỹ đến thì thầm với Phong.

        Tôi hỏi: Tất cả số anh em của chúng tôi bị giam giữ ở nhà lao này đã được phổ biến nghị định thư trao trả chưa? Và đã phổ biến cho 935 anh em được trao trả ngày hôm nay như thế nào?

        Tên Phong lúng túng trả lời rằng: Tối hôm qua chúng tôi đã cho cán bộ tâm lý chiến xuống phổ biến về trao trả cho anh em rồi nhưng họ nhất định không đi? Họ đòi gặp các ông, tôi cũng không biết họ đòi gặp các ông để làm gì?

        Thế là dấu hiệu đầu tiên đã hé ra. Tôi xác định phải đánh một cú phủ đầu. Tôi nói to để cho tất cả số sĩ quan nguy đang ngồi ở đó cũng nghe được.

        Hôm qua, tức ngày 11 tháng 2 năm 1973, các ông mới nói đến vấn đề trao trả với anh em chúng tôi ở nhà lao này. Các ông biết không; Điều 13 của nghị định thư về việc trao trả nêu rõ rằng: trong vòng 5 ngày sau khi ký nghị định này, các bên sẽ công bố và thông báo toàn văn nghị định thư đến tất cả những người bị bắt nói trong nghị định thư này mà bên mình đang giam giữ. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, nghị định thư trao trả đã được ký. Đây là một sự vi phạm Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Tôi, thay mặt phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cùng với phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà nghiêm khắc lên án và cảnh cáo Ban giám đốc trại giam Tam Hiệp - Biên Hoà đã vi phạm Điều 13 của Nghị định thư trao trả".

        Bọn sĩ quan nguy ở xung quanh đó im phăng phắc. Chúng chăm chăm nhìn vào tôi. Tên Phong không nói lại một câu nào nữa.

        Tôi nêu tiếp, chúng tôi yêu cầu được gặp tất cả 935 anh em của chúng tôi mà các ông trả trong đợt này. Chúng tôi cần gặp tất cả và ở ngay tại đây. Chúng tôi sẽ phổ biến cho anh em biết nghị định thư trao trả và nói rõ về đợt trao trả này. Chỉ có làm như thế thì anh em chúng tôi mới thông suốt và lúc đó họ mới nhận đi trao trả. Bọn sĩ quan nguy nhìn nhau, chúng nhìn tên trung tá Mỹ và tên Thiếu tá Đinh Công Chất. Chúng sửng sốt trước vấn đề chúng ta đưa ra, nhất là việc ta yêu cầu gặp 935 anh em ở tại đây.

        Tên Trung tá Phong, giám đốc nhà lao Tam Hiệp hạ giọng với thái độ khẩn cầu nói: Xin trung tá và các vị cho phép chúng tôi được đưa những anh em đại diện của từng khu vực đến gấp các vị. Phong nói thêm là tất cả anh em lên đây sẽ không bảo đảm được an toàn. Anh Tư Bốn nói: Không bảo đảm an toàn cho ai? Và tại sao là không bảo đảm an toàn?

        Tên Phong tỏ vẻ nhăn nhó nói là: Anh em bên quý vị dữ lắm, nếu 900 người đến đây thì không an toàn cho chúng tôi. Anh Tư Bốn lại nói: Các ông ở đây có biết bao quân cảnh với súng ống thế kia mà sợ anh em của chúng tôi à!

        Tên giám đốc trại giam năn nỉ rằng: Anh em bên phía quý vị họ căm thù chúng tôi lắm, số quân cảnh ở đây vẫn không bảo đảm, họ có thể nhảy vào cướp súng mà bắn chúng tôi. Xin các vị thông cảm cho chúng tôi.

        Trao đổi với anh Tư Bốn, anh Hoàng Thương và anh Lục xong, tới hỏi: "Những người mà các ông gọi là đại diện của từng khu vực là người các ông cử ra hay là do anh em chúng tôi cử ra". Tên Phong trả lời ngay: Thưa, đúng là người của anh em cử ra chứ không phải chúng tôi cử.

        Chưa thể tin các ông được - tôi nêu ra hai vấn đề sau đây: Nếu tôi phát hiện một vấn đề nàn dù là nhỏ nhất không phải là người của anh em chúng tôi cử ra thì tôi sẽ hủy bỏ cuộc gặp, lúc đó các ông phải đế chúng tôi gặp tất cả 935 người. Nếu không gặp được 935 người, tức là không có việc trao trả hôm nay. Và như vậy, cũng sẽ không có việc trao trả 27 quân nhân Mỹ ở Lộc Ninh hôm nay.

        Nhìn sang phía sĩ quan Mỹ và sĩ quan nguy trong đoàn trao trả, tôi hỏi: "Các ông có đồng ý với ý kiến của chúng tôi không"? Họ không dám trả lời và nhìn vào Phong, giám đốc trại giam. Phong nói rằng: Nếu những người đại diện không đúng là những người do anh em cử ra, chúng tôi sẽ thực hiện theo ý kiến của các vị …

        Chúng tôi chờ anh em ta tới... Nhìn từ xa xa, thấy anh em ta thân hình gầy còm, đi chậm chạp, có người đi khập khiễng. Chúng tôi quan sát rất kỹ anh em ta để tìm ra một điều gì là người của ta hay của địch. Khi anh em gần tới anh Tư Bốn, anh Hoàng Thương và các đồng chí đưa tay ra nhưng anh em không bắt tay, tình hình khá căng thẳng, qua ánh mắt và nét mặt thấy toát lên là những con người kiên cường mãnh liệt.

        Chúng tôi rất xúc động nhưng cũng suy nghĩ ngay đây là người của ta, đồng thời cũng phán đoán là anh em còn ấp ủ một điều gì đó đang chờ cơ hội để bộc lộ. Cũng có thể là anh em chưa tin chúng tôi là phái đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Việt Nam dân chủ cộng hoà.

        Sau khi giới thiệu vài nét tóm tắt về đoàn của chúng tôi, tôi đi thẳng vào một câu hỏi đã được tính toán kỹ. Tôi nói: Tôi hỏi các đồng chí, chỉ một câu thôi, nếu có, các đồng chí nói là có, nếu không, nói là không, không cần nói thêm một ý nào nữa. Mười hai anh em nhìn thẳng vào tôi tôi hỏi: "Các đồng chí đã được phổ biến nghị định thư trao trả chưa ?" Vừa dứt lời tất cả 12 đồng chí đồng thanh nói không có. Thật là tuyệt vời, các đồng chí của ta đây rồi. Một đồng chí giơ tay lên và xin có ý kiến. Tôi mời đồng chí đó nói. Đồng chí nói rằng: Khoảng vài tuần nay, chúng tôi có nghe một vài sĩ quan ở trại giam này nói chuyện với nhau về Nghị định Pa-ri gì đó. Hoàn toàn không có ai phổ biến về trao trả, về hiệp định. Chúng tôi yêu cầu phái đoàn phổ biến cho chúng tôi biết về Hiệp định Pa-ri.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #125 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 02:54:00 pm »


        Thế là rõ, đây chính là các đồng chí của ta, những đồng chí kiên cường, bất khuất. Ngừng một phút, nén xúc động.

       Tôi nói ngay hai điều với 12 đồng chí:

        - Điều thứ nhất là hôm qua Ban giám đốc trại giam này báo cáo lên với các phái đoàn Liên hợp quân sự rằng anh em không chịu đi trao trả, không chịu về với cách mạng Trung tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Lê Quang Hoà và các sĩ quan hai phái đoàn chúng tôi không tin điều đó. Nay xuống đây, chúng tôi hỏi giám đốc trại giam thì được trả lời là tối hôm qua mới cho cán bộ tâm lý chiến xuống nới về trao trả. Như vậy Ban giám đốc trại giam này đã vi phạm Hiệp định Pa-ri. Từ khi ký nghị định thư đến nay là đã qua 16 ngày mà họ không phổ biến nghị định thư trao trả đến các đồng chí. Tôi thay mặt hai phái đoàn của ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên lên án và cảnh cáo Ban giám đốc nhà lao này về việc vi phạm đó.

        - Điều thứ hai, là tôi rất xúc động và thông cảm với các đồng chí. Chính là các đồng chí không tin về cuộc trao trả này nên mới đòi được gặp phái đoàn của ta. Không tin vào việc trao trả, không phải lỗi của các đồng chí mà đây là một sự cảnh giác cần thiết. Chính là do kẻ thù đã từng lừa dối các đồng chí. Có trường hợp họ nói cho người này người kia chuyển trại nhưng là đi thủ tiêu. Các đồng chí đã rất vững vàng và tỉnh táo. Chúng tôi hoan nghênh các đồng chí. Nói đến đây tôi thấy nét mặt của anh em phấn khởi hẳn lên. Các đồng chí trong hai đoàn của chúng tôi cũng rất vui. Thuốc lá Thăng Long, Điện Biên và chè Ba Đình được anh Hoàng Thương, anh Tư Bốn đưa tặng các đồng chí. Đây là món quà của miền Bắc, của cả nước tặng các đồng chí. Các phóng viên quay phim, chụp ảnh, báo chí hoạt động chụp, quay ghi hình liên tục...

        Đến đây tôi thấy phải bắt đầu làm một việc quan trọng đó là phổ biến nghi đinh thư trao trả cho 12 đồng chí. Tôi ngoảnh lại nói với các sĩ quan Mỹ - nguy rằng: Các ông không phổ biến nghị định thư cho anh em của chúng tôi, nên tôi phải phổ biến tại đây. Nếu những người này thông suốt và cả 12 đồng chí của chúng tôi mang theo những nghị định thư về báo lại với anh em ở trại thì mọi người mới đi trao trả.

        Tên giám đốc trại giam không muốn tôi phổ biến tại đây trước mấy chục sĩ quan nguy và hàng trăm lính quân cảnh Chúng chỉ muốn anh em về nới lại như tôi đã nói là đủ. Nhưng không dừng lại ở đây được, tôi nghĩ bụng, ta phải tấn công tiếp. Tôi cầm quyển Nghị định thư và đọc rõ ràng dõng dạc, dừng lại từng chỗ cần thiết nói rõ thêm. Bọn sĩ quan Mỹ - nguy rất sốt ruột nhưng chúng phải ngồi im để nghe. Hàng trăm lính quân cảnh lúc này ngồi cả xuống, lắng nghe gần như không nhúc nhích.

        Tôi nhấn mạnh điều Nghị định thư quy định phải trao trả hết những người bị bắt, không được từ chối, không được trì hoãn với bất cứ lý do gì, đặc biệt làm nổi bật về những người bị bắt phải được đối xử nhân đạo. Họ được bảo vệ và chống lại mọi hoạt động bạo lực xúc phạm đến tính mệnh và thân thể, nhất là việc giết hại họ bằng mọi hình thức, việc làm cho họ bị tàn phế, việc tra tấn nhục hình và mọi hành động xúc phạm đến nhân cách phẩm giá con người. Họ phải được ăn, mặc, ở đầy đủ và được chăm sóc về y tế theo nhu cầu của tình hình sức khỏe.

        Cả mười hai đồng chí nhìn tôi, nhìn mọi người trong hai phái đoàn ta với tình đồng chí rất thân thương. Dõi theo nội dung trình bày của tôi, các đồng chí phấn khởi khi thấy ta thắng lợi, địch thua to, và phải trao trả hết những người bị bắt. Nhưng khi tôi nói đến các bên phải đối xử nhân đạo với người bị bắt thì các đồng chí biểu hiện sự phẫn uất căm thù đối với kẻ địch.

        Như dồn nén bấy lâu nay, tôi vừa dứt lời và phát nghị định thư trao trả cho anh em thì hàng chục cánh tay giơ lên và xin phát biểu ý kiến. Gần như đồng chí nào cũng phát biểu, các đồng chí vạch mặt kẻ thù, lên án kẻ thù một cách rất sâu sắc, với một thái độ rất căm phẫn, đồng thời đề nghị một số ý kiến, có thể nói là làm cho kẻ thù phải hoảng sợ, phải nhục nhã; có tên không dám ngẩng mặt lên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #126 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 02:55:26 pm »


        Đại ý có những nội dung các đồng chí phát biểu như sau:

        - Chúng tôi không đi trao trả hôm nay mà đòi gặp được phái đoàn của chúng tôi là vì chúng tôi không tin các ông. Các ông lừa dối chúng tôi nhiều lần lắm rồi nên hoàn toàn không tin được.

        - Chúng tôi đồng ý đi trao trả, càng nhanh càng tốt, nhưng phải trả gọn từng trại, không được chọn nhặt lẻ tẻ; những người ốm nặng phải được trả trước.

        - Từ trong trại ra đến xe ô tô, chúng tôi không cần các ông cáng hoặc dìu anh em chúng tôi. Việc đó chúng tôi tự làm: Ai còn hai chân giúp người một chân, ai còn hai tay giúp người một tay, ai còn cả hai chân hai tay thì khiêng cõng người ốm. Cả thời gian giam giữ, các ông hành hạ chúng tôi, bây giờ làm ra vẻ nhân đạo lắm!

        - Những quần áo mới mà các ông phát, chúng tôi không thèm mặc, ăn mặc rách rưới, hôi hám, bẩn thỉu suốt cả quá trình chúng tôi bị giam; nay khoác áo mới cho chúng tôi để biểu thị là mình tốt... Thôi, hãy bỏ cái kiểu ấy đi.

        - Chúng tôi yêu cầu những xe ô tô đưa chúng tôi ra sân bay không được cắm cờ "ba que" hoặc có sơn cờ "ba que".

        Bọn sĩ quan nguy ngồi tím mặt, một số tên nhìn trừng trừng vào anh em ta, nhưng một số tên mặt cúi gầm.

        Tôi quay lại nói với bọn sĩ quan nguy rằng: Các vị có ý kiến gì về những đề nghị của các đồng chí chúng tôi không?

        Tên Phong nói xin chấp nhận những ý kiến đó. Những lá cờ cắm từ trước, nếu các ông không muốn thì chúng tôi cất đi.

        Đinh Công Chất có ý kiến là: Nếu các vị không chấp nhận quần áo thì thôi, nhưng tôi đề nghị với Trung tá Vũ Bình là bên phía trung tá cũng đừng phát quần án mới cho người bị bắt của chúng tôi.


        Tôi liền trả lời Đinh Công Chất rằng: Việc không nhận quần áo mới, không đi xe ô tô có cờ "ba que", không yêu cầu cáng hoặc dìu các người bị thương, bị ốm là do chính những người bị các ông giam giữ và đối xử với họ nên họ đề nghị như vậy. Còn số tù binh mà chúng tôi bắt giam giữ, tôi tin chắc rằng họ sẽ phấn khởi nhận những bộ quần áo của cách mạng để làm kỷ niệm. Tại sao ông Chất lại thay họ để đề đạt ý kiến đó?

        Lại một đồng chí nữa đứng lên dõng dạc nói to: Tôi xin được nói thẳng với các vị phụ trách trại giam này rằng: Các vị đừng có gài những tên phản động trà trộn trong số trao trả về vùng giải phóng của chúng tôi. Các vị cố tình gài thì chúng tôi sẽ xử trí ngay trước khi xuống đất vùng giải phóng của cách mạng.

        Tên Phong đứng lên nói là chúng không dám làm điều đó.

        Tôi thấy cuộc gặp gỡ đã đến lúc kết thúc được rồi. Lúc này là 14 giờ ngày 12 tháng 2 năm 1973, nếu khẩn trương thì có thể trao trả được 1 đến 2 chuyến máy bay lên Lộc Ninh. Cả hai phái đoàn chúng tôi đứng xen lẫn với 12 anh em để chụp ảnh và quay phim. Chúng tôi ôm nhau mà nước mắt cứ trào ra. Thương các đồng chí ta quá chừng, rất phục tinh thần chiến đấu của các đồng chí ta, một đồng chí ghé tai tôi và nói: Chụp ảnh quay phim như thế này là bảo đảm lắm rồi, kẻ thù ức lắm nhưng không dám thủ tiêu chúng tôi đâu.

         Tất cả mọi người trong hai phái đoàn của ta đều lên máy bay với trên 100 anh em trao trả chuyến đầu tiên để xuống sân bay Lộc Ninh. Ngồi trên máy bay C. 130, anh em hát vang những bài ca cách mạng.

N.V.K             
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2011, 04:37:42 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #127 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 04:15:38 pm »



Sân bay Biên Hòa tại thời điểm xảy ra vụ Tam Hiệp


Nhà tù Tam Hiệp năm 1973

« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2011, 04:24:17 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #128 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 04:18:35 pm »


Nhà tù Tam Hiệp năm 1973


Nhà tù Tam Hiệp năm 1973
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #129 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 04:26:15 pm »


Cuộc gặp giữa tù binh với Ban liên hợp Quân sự 4 bên tại nhà tù Tam Hiệp

Chứng tích nhà tù Tam Hiệp ngày nay

« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2011, 04:32:06 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM