Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:00:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315453 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #150 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 07:08:23 pm »


2. LỘC NINH

        Chiều ngày 19 tháng 2 năm 1973, hai chiếc trực thăng có sơn ký hiệu màu da cam đưa Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đỗ xuống sân bay Lộc Ninh. Một sĩ quan quân giải phóng tại sân bay mời Tổ Liên hợp vào nhà nghỉ ngơi, uống nước, hút thuốc trong khi chờ ô tô quân giải phóng đưa đoàn vào thăm trại giam.

        Sau 50 phút chạy qua thị trấn, xóm ấp và rừng cao su, đoàn xe đến trại. Một cán bộ quân giải phóng, trưởng trại giam ra đón Tổ Liên hợp, mời vào nhà ăn một ít hoa quả tươi cho đỡ mệt. Anh giới thiệu cho sĩ quan liên hợp biết tình hình trại giam. Ỏ đây có nhiều sĩ quan binh lính thuộc nhiều binh chủng trong quân đội Sài Gòn bị bắt giữ. Anh cho biết sức khỏe tù binh nói chung là tốt. Có một số mắc bệnh sốt rét, đã được điều trị. Một số mắc bệnh lậu từ khi còn ở trong quân đội Sài Gòn cũng được bác sĩ quân giải phóng chữa cho sắp lành. Gạo ăn đủ no, thức ăn có cá, thịt, rau tùy bữa. Hàng ngày có từ 30 đến 40 gia đình đến thăm những tù binh này. Trong trại có đài thu thanh cho anh em nghe tin tức.

        Sau khi thăm tất cả nơi ăn, chốn ở trong trại, các sĩ quan Việt Nam cộng hòa và Hoa Kỳ công nhận lời nói của trưởng trại là đúng, vì chính họ đã gặp gỡ các tù binh khi họ đang nấu cơm, cắt tóc, ngồi chơi, nghe đài.

        Một lát sau, trong khi nói chuyện với các đại biểu tù binh, Thiếu tá Trung phía Sài Gòn hỏi:

        - Người chủ trại cử các anh ra đây hay các anh tự cử lấy?

        - Chúng tôi, tù binh tự cử đại biểu.

        - Các anh có khỏe không?

        - Khỏe.

        - Ăn có no không?

        - No.

        - Biết Hiệp định đình chiến từ bao giờ?

        - Từ 24 giờ đêm ngày 27 tháng 1 năm 1973.

        - Các anh đã được học về Nghị định thư trao trả chưa?

        - Rồi.

        Thấy không còn gì để thăm dò, vặn hỏi nữa, mọi việc làm ở đây đều đúng theo tinh thần hiệp định, Thiếu tá Trung và Thiếu tá In-man mời cả Tổ Liên hợp lại. Thiếu tá Trung phía Sài Gòn phát biểu:

        - Tôi xin nói cuộc đi thăm trại giam hôm nay tiến hành kết quả tết.

        Thiếu tá In-man tiếp:

        - Xin cảm ơn ông trưởng trại giam đã đón tiếp chúng tôi tử tế và tạo điều kiện cho cuộc đi thăm đạt kết quả tết đẹp.

        Trong khi Tổ Liên hợp lên xe trở ra sân bay Lộc Ninh, đại úy Tạ Thành Danh, sĩ quan Việt Nam dân chủ cộng hòa cho Thiếu tá Trung và Thiếu tá In-man biết sáng 18 tháng 2, sáng 19 tháng 2, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đi thăm trại giam Phú Quốc đã bị phía Sài Gòn phá đám, phải bãi bỏ hoạt động.

        Thiếu tá Hoa Kỳ im lặng, Thiếu tá Trung nói: "Hay Tổ Liên hợp ta xuống Phú Quốc xem sao?".

        Không hiểu sao lúc bấy giờ trung úy Dương, một sĩ quan Sài Gòn cứ nhìn chằm chằm vào mặt Thiếu tá Trung.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #151 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 07:08:53 pm »


3. HÀ NỘI

        Tại Hà Nội, ngày 18 tháng 2 năm 1973, Đoàn đại biểu Ban Liên hợp quân sự bốn bên đã ra thăm nơi giam giữ phi công Mỹ và quan sát việc trao trả 20 phi công Mỹ ở sân bay Gia Lâm. Đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ và trở về Sài Gòn trong đêm hôm ấy.

        Tại Sài Gòn, trưa 19 tháng 2 năm 1973, trong cuộc họp các trưởng đoàn quân sự bốn bên ở khu vực Tân Sơn Nhất, tướng Út-uất, Trưởng đoàn Hoa Kỳ đã hai lần cảm ơn các đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà về thái độ đàng hoàng tử tế trong khi tiếp Đoàn đại biểu Ban Liên hợp quân sự ra Hà Nội để thăm trại giam, dự cuộc trao trả và đi thăm thủ đô Hà Nội.

        Tướng Út-uốt kết luận: "Đó là một cuộc tiếp đón mẫu mực ".

        Đại biểu Hoa Kỳ nói như vậy, lúc ra nghỉ 15 phút, tướng Dư Quốc Đống, phía Việt Nam cộng hoà đã đến gặp Thiếu tướng Lê Quang Hoà và nói rằng: "Tôi đã được báo cáo đầy đủ, tôi xin ghi nhận và hoan nghênh cuộc tiếp đón nồng hậu của Hà Nội đối với Đoàn đại biểu Liên hợp bốn bên trong chuyến đi ra Hà Nội".

        Đoàn đại biểu Liên hợp đã được đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đưa vào thăm trại giam phi công Mỹ và gặp gỡ các phi công Mỹ đang sinh hoạt bình thường. Các đại biểu quốc tế, đại biếu phía Hoa Kỳ và Sài Gòn cũng đã tự do hỏi han đại biểu các phi công Mỹ bị bắt giam là Thiếu tá Pai-ri và Đại úy ép-bốp. Các câu trả lời đã thỏa mãn các câu hỏi. Ở trại giam này, việc đối xử với người bị bắt hoàn toàn đúng với Hiệp định Pa-ri.

        Sau đó, trong khi chờ đợi đi quan sát việc trao trả ở sân bay Gia Lâm, Đoàn đại biểu Ban Liên hợp quân sự bốn bên và Đoàn đại biểu Ủy ban Quốc tế đã được mời đi tham quan phong cảnh Hà Nội. Các đại biểu đã đi xem đường phố, đi quanh hồ Hoàn Kiếm, thăm Công viên Thống nhất xanh tươi hoa lá. Các đại biểu thấy rõ Hà Nội tự do, trật tự, thanh lịch. Các đại biểu quay phim chụp ảnh tùy thích. Hà Nội không như Sài Gòn chằng chịt dây thép gai, bốt gác và đâu đâu cũng lố nhố mũ sắt của quân cảnh vũ trang.

        Khi về ăn cơm trưa tại khách sạn Hoà Bình, sĩ quan đại biểu Ca-na-đa đã cảm ơn đại diện Việt Nam dân chủ cộng hoà, Trung tá Rốp-sơn Trưởng đoàn Hoa Kỳ đã nâng cốc chúc sức khỏe các đại biểu, cảm ơn sự nhiệt tình và mến khách của Việt Nam dân chủ cộng hoà, cảm ơn cuộc đi quan sát trại giam và tham quan thành phố, cảm ơn những người phục vụ và xin ghi nhớ những kỷ niệm tốt đẹp hôm nay. Đại biểu phía Sài Gòn thì ngồi im.

        Sau đó các đại biểu ra sân bay Gia Lâm dự cuộc trao trả phi công gọn gàng, trật tự, có đông đảo các nhà báo trong nước, nước ngoài được tự do chụp ảnh, lấy tài liệu. Sự việc đã rõ ràng, mọi hoạt động của Đoàn đại biểu quân sự bốn bên và Đoàn đại biểu ủy ban Quốc tế đã đước bảo đảm chu đáo.

        Thiêu tá Phạm Huấn, sĩ quan Sài Gòn trong Đoàn đại biểu Việt Nam cộng hoà ra Hà Nội hôm ấy, trước sự thật lớn lao, không dám nói năng bậy bạ.

        Sự việc thế nào thì đã có câu kết luận của tướng Út-uốt và tướng Dư Quốc Đống, cấp trên của Huấn rồi. Chỉ có điều là tới hôm sau (19-2) trở về Sài Gòn, Huấn đã lên đài phát thanh rên rỉ: "Tôi vốn là người Hà Nội. Chuyến đi thăm này làm cho tôi thấy cô đơn, thấy đau đớn, Hà Nội không như 19 năm về trước, năm 1954 khi tôi từ giã " Huấn luyến tiếc cái thời làm nô lệ cho thực dân Pháp và hắn lải nhải ca ngợi cái kiếp làm nô lệ mới cho Mỹ hiện nay của hắn.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #152 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 09:47:34 pm »


NHỮNG ÁNH MẮT SÀI GÒN

NGUYỄN DANH          
       
        Đến Sài Gòn ngay sau ngày ngừng bắn nhưng mãi đến trưa 4 tháng 2 năm 1973, chúng tôi mới có dịp gặp mặt với đông đảo đồng bào. Hôm ấy theo lời mời của Đại sử Mi-sen Gô-vin, Trưởng đoàn Ca-na-đa, Chủ tịch ủy ban Quốc tế, hai đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà trong Ban Liên hợp quân sự đến dự cuộc họp mặt với ủy ban Quốc tế.

        Các đại biểu quân giải phóng mặc quân phục màu xanh lá cây, đội mũ cứng, đeo quân hiệu ngôi sao vàng trên nền đỏ và xanh. Các sĩ quan quân đội nhân dân mặc quân phục mùa đông, lấp lánh quân hàm trên vai áo, quân hiệu sao vàng trên nền đỏ.

        Từ phòng họp trong căn cứ Hoa Kỳ ở sân bay Tân Sơn Nhất đoàn xe của hai đoàn đại biểu ta có xe quân cảnh chính quyền Sài Gòn dẫn đường, đi theo đường Công Lý, rẽ qua đường Hiền Vương, đường Trần Quốc Toản, qua Pê-tơ-ruýt-ký đến trụ sở phái đoàn Ca-na-đa tại số 1 đại lộ Lý Thái Tổ. Xe chạy nhanh, nhưng tất cả những gì chúng tôi thấy được đã một lần nữa giúp chúng tôi khẳng định thêm lòng tin vô hạn đối với lòng yêu nước và ý chí cách mạng của đồng bào. Một người đàn bà ngồi sau chiếc xe máy hon đa - lúc ấy đang bị dẹp sang một bên đường để nhường lối cho đoàn xe - vừa trông thấy Trung tướng Trần Văn Trà và các đồng chí ngồi cùng xe đã đưa tay lên kéo vài người đàn ông ngồi phía trước.

        - Giải phóng", "giải phóng"! Chị vừa lắc mạnh vai người đàn ông vừa reo lên. Tiếng reo mừng rỡ bật lên đột ngột, vượt qua hết thảy mọi âm thanh hỗn độn của đường phố Sài Gòn bay đến với chúng tôi. Nhiều đồng chí trong đoàn ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên ấy đã không nén được xúc động. Xe đi dần vào trung tâm thành phố, người đi lại càng đông, những biểu hiện tình cảm càng dồn dập, sâu đậm. Một bác xích lô dừng xe bên vệ đường lúc đầu bác chỉ đứng yên, nhưng chợt nhận ra chúng tôi, bác vội đưa tay ra vẫy vẫy. Một anh lính trẻ Sài Gòn quay lại nói gì với người cảnh sát đứng cạnh. Người cảnh sát ngoảnh mặt ra phía khác, còn anh lính trẻ thì đứng thẳng, đưa tay cất mũ trên đầu xuống, mặt hướng ra phía đoàn xe.

        Hàng vạn cặp mắt nhìn chúng tôi. Những cặp mắt mở to, lấp lánh một niềm vui bất chợt. Có người chớp chớp mắt, có người cười, có người gật gật đầu. Ở quãng cuối đường Trần Quốc Toản, một thanh niên đeo kính trông thấy quân hiệu của các đoàn ta, vội nhảy từ trên xe máy xuống, luýnh quýnh không biết làm gì. Cuối cùng anh đứng thẳng, hướng về đoàn xe, một bàn tay úp lên phía trái ngực. Chúng tôi mỉm cười chào anh. Chưa đến lúc chúng ta ôm chầm lấy nhau, nói với nhau những điều sâu kín của lòng mình. Nhưng ơi anh bạn trẻ của Sài Gòn anh dũng, chúng tôi nghe rõ nhịp đập của trái tim anh và trái tim của hàng triệu người dân Sài Gòn yêu nước.

        Chính quyền Sài Gòn bố trí dày đặc cảnh sát, mật vụ quanh ngôi nhà trụ sở phái đoàn Ca-na-đa, bịt chặt mọi lối ra vào. Nhưng, khi xe các đoàn ta vừa dừng bánh, hàng trăm phóng viên các báo, các hãng thông tin, điện ảnh nước ngoài và của Sài Gòn đã ùa tới. Tất cả ống kính máy ảnh, máy quay phim, ống thu máy ghi âm chĩa vào Trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Thiếu tướng Lê Quang Hoà, Trưởng đoàn đại biếu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Có người bị cảnh sát cản không đến gần được, phải từ xa chĩa ống thu máy ghi âm, miệng hét to câu phỏng vấn.

        Tươi cười, thoải mái, Trung tướng Trần Văn Trà dừng lại một lúc trước hành lang, vẫy chào và nói chuyện với các nhà báo. Đồng chí cảm ơn ủy ban Quốc tế, cảm ơn các đại biểu dư luận, nêu bật thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, nêu quyết tâm thi hành nghiêm chỉnh hiệp định đã ký kết. Thiếu tướng Lê Quang Hoà cùng nói chuyện một lúc với các nhà báo.

        Một nhà báo Sài Gòn đánh lừa cảnh sát, cố len được vào gần. Nét mặt hả hê, anh bấm máy lia lịa. Khi đến gần chúng tôi, anh nói: - Đã quá mấy anh ơi! Anh còn định nói nữa, nhưng đã bị hai lính quân cảnh đến xóc nách lôi.đi. Chân bước đi mặt vẫn ngoảnh lại, anh cười và nháy mắt chào tạm biệt.

        Một nhà báo nước ngoài cũng gặp chúng tôi. ông ta nói:

        - Sự xuất hiện của các ông ở đây là một điều kỳ diệu. Tôi đã thấy những cặp mắt người Sài Gòn nhìn các ông. Những cái nhìn ấy mạnh gấp trăm lần những thứ kia.

        Ông ta hất hàm về phía những cảnh sát, những lá cờ sọc và những khẩu hiệu đang chăng đầy đường.

        Quả thế thật. Có lẽ trên thế giới không một nơi nào lắm khẩu hiệu, lắm cờ, lắm cảnh sát, mật vụ bằng Sài Sòn hiện nay.

        Nhưng hoà bình, độc lập, dân chủ, hoà hợp dân tộc là suy nghĩ, tình cảm và mục tiêu vươn tới của đồng bào Sài Gòn mà không gì có thể ngăn nổi.

        
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #153 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 08:28:07 am »


NHỮNG NHÂN VIÊN
QUÂN SƯ VÀ DÂN SỰ HOA KỲ
ĐƯỢC TRAO TRẢ ĐỢT CUỐI CÙNG

NGUYỄN HÙNG ĐÀO            

     Nguyên sĩ quan báo chí của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hỏa miền Nam Việt Nam.    
  
        Một trong những hoạt động được ghi nhận là sôi động nhất, diễn ra trên diện rộng (một địa điểm ở miền Bắc và nhiều địa điểm ở miền Nam) với thời gian dài nhất, là hoạt động trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự của các bên bị bắt trong chiến tranh.

        Mỗi cuộc trao trả là một cuộc đấu trí, đấu lý và đấu pháp quyết liệt giữa ta và đối phương mà lần nào phía ta cũng là người chiến thắng.

        Xin ghi lại sau đây đợt trao trả cuối cùng đối với nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ mà ý nghĩa của nó đã vượt xa nghĩa đen thông thường của cặp động từ "trao trả".

TRAO TRA ĐỢT CUỐI CÙNG
NHÂN VIÊN QUÂN SỰ VÀ DÂN SỰ HOA KỲ
BỊ BẮT TAI MIỀN NAM VIỆT NAM CHO PHÍA HOA KỲ

        Lẽ ra đợt trao trả này được diễn ra trước đó, tức ngày 24 tháng 3 năm 1973, nhưng phía Hoa Kỳ âm mưu trì hoãn việc rút quân nên lật lọng bằng cách đưa ra đòi hỏi phi lý, đã bị phía ta bác bỏ, buộc họ phải chấp nhận thời gian trao trả lùi lại 3 ngày.

        Vậy Hoa Kỳ âm mưu trì hoãn việc rút quân và gây trở ngại hoàn thành việc trao trả nhân viên quân sự của họ bị bắt và bị giam giữ thế nào?

        Trong cuộc họp tối ngày 21 tháng 3 năm 1973, của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương, phía Hoa Kỳ đã thỏa thuận với phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là đến sáng ngày 23 tháng 3 năm 1973 sẽ trao danh sách các nhân viên quân sự Hoa Kỳ được trao trong đợt 4, tức là đợt cuối cùng. Ngày 24 tháng 3, sẽ trao trả các nhân viên quân sự Hoa Kỳ bị bắt ở miền Nam Việt Nam, ngày 25 tháng 3, sẽ trao trả các nhân viên quân sự Hoa Kỳ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam. Cũng trong thời gian đó, Hoa Kỳ hoàn thành về cơ bản việc rút các lực lượng của họ khỏi miền Nam Việt Nam. Số lính còn lại làm việc trong Ban Liên hợp quân sự đến hết thời hạn này cũng sẽ rút ra hết.

        Nếu làm đúng như thỏa thuận nói trên thì việc trao trả các nhân viên quân sự Mỹ bị bắt cũng như việc rút quân sẽ được hoàn thành một cách tốt đẹp và đúng thời hạn như hiệp định đã quy định.

        Đột nhiên, sáng ngày 22 tháng 3 năm 1973, phía Mỹ đã lật ngược hoàn toàn thỏa thuận. Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Mỹ trong công hàm gửi Trung tướng Trần Văn Trà và Thiếu tướng Lê Quang Hoà đã đòi phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phải đưa cho họ danh sách và trao trả cho họ tất cả tù binh Mỹ và nhân viên dân sự của Mỹ bị bắt trên toàn chiến trường Đông Dương, chứ không phải riêng số tù binh bị bắt trên chiến trường Việt Nam. Họ còn nói là có được như vậy họ mới rút hết số quân còn lại ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong một công hàm khác cùng ngày, Mỹ cũng không nói rõ là số quân Mỹ còn lại trong cơ quan liên hợp quân sự và một số nơi khác có rút hết sau ngày 28 tháng 3 hay không?

        Chính phủ Mỹ, một trong các bên giữ bản Hiệp định trong tay biết rất rõ Hiệp định Pa-ri và các Nghị định thư không hề có một điều khoản nào cho phép Mỹ gắn việc trao trả tù binh Mỹ bị bắt ở các nước khác ngoài Việt Nam với việc rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã bác bỏ đòi hỏi vô lý này của Mỹ.

        Cuối cùng Mỹ đành chấp nhận chỉ được phép lùi lại 3 ngày, tức ngày 27 tháng 3 năm 1973.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #154 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 08:29:13 am »

        Xin ghi lại những diễn biến chính của đợt trao trả cuối cùng nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ bị bắt tại miền Nam Việt Nam cho phía Hoa Kỳ nhằm giúp chúng ta nhớ lại dư luận trong nước và thế giới một lần nữa ghi nhận lòng nhân đạo truyền thống của nhân dân ta và thái độ nghiêm chỉnh thi hành hiệp định của phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Ngày 27 tháng 3 năm 1973, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội), ông Lê Khoan Hồng, ủy viên Đoàn đại diện đặc biệt Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Việt Nam dân chủ cộng hoà và Thiếu tá Bùi Văn Thanh, được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ủy nhiệm đã trao cho Chính phủ Hoa Kỳ 32 nhân viên quân sự và dân sự của họ bị bắt ở miền Nam Việt Nam. Đây là đợt thứ 4 và là đợt trao trả cuối cùng các nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ bị Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam bắt và giam giữ.

        Lúc 11 giờ 30 phút, máy bay chở Tổ Liên hợp quân sự bốn bên và Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm.

        Các vị trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên trung ương và ủy ban Quốc tế hoàn toàn nhất trí về chương trình cuộc trao trả do đại diện của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đưa ra.

        Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã trao cho đại diện phía Hoa Kỳ bản danh sách những nhân viên quân sự và dân sự của họ được trao trả đợt này.

        Đúng 15 giờ, cuộc trao trả bắt đầu với sự chứng kiến của Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát, hàng trăm nhà báo, phóng viên quay phim, vô tuyến truyền hình trong nước và nước ngoài.

        Cuộc trao trả tiến hành nhanh gọn 25 nhân viên quân sự trong đó có 1 lính, 5 hạ sĩ quan, 5 chuyên viên, 3 thiếu úy, 3 trung úy, 6 đại úy và 2 thiếu tá gồm đủ các quân chủng trong quân đội Hoa Kỳ và 7 nhân viên dân sự Hoa Kỳ lần lượt lên máy bay. Họ là số nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ cuối cùng được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trao trả đúng như Nghị định thư về việc trao trả những nhân viên quân sự và dân sự nước ngoài bị bắt. Tất cả họ đều bị quân và dân miền Nam bắt sau cuộc Tổng tiến công hồi Tết Mậu Thân, trong đó người cuối cùng bị bắt là Phi-líp A-lân Kin-xlơ, thiếu tá, số lính 073.30.2438, lái máy bay hải quân Mỹ, bị bắn rơi và bị bắt ngày 26 tháng 1 năm 1973, một ngày trước khi ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Anh ta rất mạnh khỏe và phấn khởi vì đã thoát chết và được trở về sau hai tháng bị giam giữ. Tất cả 32 người trên đều bị thương, có nhiều người bị thương rất nặng. Nhưng họ đều được các thầy thuốc quân giải phóng cứu chữa, đến nay các vết thương đều đã lành, sức khỏe họ rất tất. Đa-nhi-en Hê-ri Hê-phin, chuyên viên bậc 4; Giôn Uy-liên Pa-xơn, đại úy Tom I-ô-si-hi-xa Cô-ba-si-gô-oa, chuyên viên bậc 5 cùng đi trên một máy bay bị trúng đạn của quân giải phóng bốc cháy, máy bay rơi vào rừng. Khi bị bắt ba tên này hoàn toàn mê man bất tỉnh. Tám ngày sau khi về đến trại giam, họ mới tỉnh, và mới biết là bị bắt. Họ được quân giải phóng hết lòng cứu chữa. Họ đều tỏ lòng biết ơn sâu sắc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã cứu sống và đối xử hết sức nhân đạo đối với họ.

        Đa-nhi-en Hê-ri Hê-phin xúc động nới với cán bộ quân giải phóng: "Các ông đã "tái sinh" cho tôi. Đời tôi không bao giờ quên ơn này". Trong nhà giam, Rô-bớt Phlếch On-xơn, nhân viên dân sự bị bắt ngày 2 tháng 2 năm 1968 tại Thừa Thiên rất chịu khó học tiếng Việt. Anh ta đã nói lên lòng biết ơn của mình đối với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Hôm nay được trở về anh ta còn cố xin đem theo chiếc nón lá và chiếc điếu cày Việt Nam làm kỷ niệm.

        15 giờ 15 cuộc trao trả kết thúc, đại diện phía Hoa Kỳ nói cuộc trao trả đã được tiến hành đúng kế hoạch thỏa thuận. ông Lê Khoan Hồng phát biểu ý kiến một lần nữa khẳng định quyết tâm của nhân dân Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh hiệp định này, nhanh chóng tiến hành trao trả các nhân viên dân sự bị bắt.

        Như vậy, từ ngày 15 tháng 2 năm 1973 đến ngày 27 tháng 3 năm 1973, trong 4 đợt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã trao trả cho phía Hoa Kỳ toàn bộ số nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Tổ Liên hợp quân sự bốn bên và ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đều chứng kiến các cuộc trao trả được tiến hành nhanh, gọn, tốt.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 12:23:03 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #155 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 08:30:00 am »


TRAO TRẢ ĐỢT CUỐI CÙNG
NHỮNG TÊN GIẶC LÁI MỸ ĐÃ TỪNG GÂY NHIỀU TỘI ÁC
ĐỐI VỚI NHÂN DÂN MIỀN BẮC NƯỚC TA
CHO PHÍA HOA KỲ

        Lúc 15 giờ 20 phút ngày 29 tháng 3 năm 1973, An-phơi Nao-ớt Ac-niu, người cuối cùng trong bản danh sách dài những nhân viên quân sự Hoa Kỳ bị quân và dân ta bắt và giam giữ ở miền Bắc nước ta được Chính phủ ta trao trả cho phía Hoa Kỳ, bước lên chiếc máy bay C.141, số hiệu 50238 trở về Mỹ.

        Từ tên trung úy án-va-rết bị quân và dân Quảng Ninh bắt ngày 5 tháng 8 năm 1964 ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh phá hoại tàn bạo của đế quốc Mỹ đến tên Thiếu tá An-phơi Nao-ớt Ac-niu bị bắt ngày 28 tháng 12 năm 1972 tại Hà Tây, con số nhân viên quân sự Hoa Kỳ và đồng minh của họ bị bắt và được trao trả toàn bộ.

        Trong 2 ngày liên tiếp 28 và 29 tháng 3 năm 1973, sân bay Gia Lâm (Hà Nội) khá nhộn nhịp. Đợt cuối cùng ngày 29 tháng 3 này Chính phủ ta trao trả cho Hoa Kỳ 107 nhân viên quân sự. Lẽ ra, số 107 nhân viên quân sự này đã được sớm về đoàn tụ với gia đình họ từ ngày 25 tháng 3 năm 1973 như kế hoạch mà Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương đã thông báo, nhưng do thái độ ngang ngược và những đòi hỏi vô lý của phía Hoa Kỳ cản trở nên hôm nay họ mới được rời khỏi trại giam, chậm một ngày so với quy định của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        107 tên giặc lái đều bị bắt ở hầu hết các địa phương trên miền Bắc từ Quảng Bình đến Lạng Sơn. Tất cả chúng đều là bọn giặc lái máy bay đến gây tội ác với nhân dân chúng ta trong thời kỳ đế quốc Mỹ phiêu lưu gây trở lại cuộc chiến tranh phá hoại dã man ở miền Bắc nước ta. Trong hơn một năm kể từ 18 tháng 12 năm 1971 đến ngày 31 tháng 12 năm 1972 đã có 122 tên giặc lái bị tóm cổ. Con số này gần bằng 1/3 số giặc lái quân và dân ta bắt trong 4 năm chiến tranh phá hoại trước đây. 16 loại máy bay, kể cả máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Hoa Kỳ F.111A cánh cụp cánh xòe và B.52G, máy bay chiến lược siêu đẳng đã bị phơi xác khắp đồng ruộng núi rừng hoặc rơi xuống biển ở miền Bắc và ngay cả trên đường phố của thủ đô Hà Nội.

        Một trong những cảnh nhộn nhịp nhất là phóng viên báo chí trong nước và ngoài nước tranh thủ ghi lại những hình ảnh tên giặc lái Mỹ không phải lúc ngồi trên máy bay ấn nút cắt bom gây tội ác bị bắn rơi, bị tóm cổ vào trại giam mà là lúc đã vào trại giam, đến sân bay Gia Lâm, biết chắc là đã thoát chết nên phấn khởi lên máy bay Hoa Kỳ để về Mỹ. Trong số hàng trăm nhà báo có mặt hôm đó người ta thấy có rất nhiều phóng viên các hãng thông tấn AFP. UPI, AP, các hãng vô tuyến truyền hình NBC, CBS, ABC, phóng viên của nhiều báo lớn ở Mỹ: Nữu ước Thời báo, Ngôi sao Hoa Thịnh Đốn... Số nhà báo nước ngoài này chẳng những họ ghi nhiều hình ảnh đợt trao trả cuối cùng ở sân bay Gia Lâm, diễn ra nhanh, gọn rất nhộn nhịp nhưng rất trật tự mà còn ghi lại rất nhiều hình ảnh nơi ăn ở, nơi giam giữ những tên giặc lái như: sân bóng rổ, bóng chuyền, phòng đọc sách trong khu vực trại giam khi họ được phép cùng với ủy ban Quốc tế và Tổ Liên hợp quân sự đến tận nơi giam giữ cuối cùng bọn giặc lái Mỹ trước khi trao trả. Họ đều tỏ ý rất hài lòng, có người lấy làm ngạc nhiên về chính sách tù binh của phía ta và lòng nhân đạo của nhân dân ta đối với bọn giặc lái Mỹ đã từng gây quá nhiều tội ác đối với nhân dân chúng ta.

        Đúng 14 giờ 30 phút, Trung tá Nguyễn Phương đại diện phía Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố cuộc trao trả bắt đầu. Các tên giặc lái Mỹ xếp hàng chờ đến lượt gọi tên mình. Khi tên giặc lái cuối cùng vào hẳn trong máy bay thì hai chiếc máy bay C.141 lần lượt cất cánh rời đường băng đưa những tên giặc lái được Chính phủ và nhân dân ta cho trở về với gia đình và đất nước họ.

        Phát biểu ý kiến về cuộc trao trả, Đại tá Giêm-đen- nét, đại diện phía Hoa Kỳ tỏ lời cảm ơn Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tạo mọi điều kiện cho cuộc trao trả tiến hành tốt.

        Trung tá Trần Tấn, đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đại úy Hoàng Duy Hòa, đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trung tá Nguyễn Văn Thọ đại biểu quân sự Việt Nam cộng hoà, Đại tá Rút-xen, đại biểu quân sự Hoa Kỳ trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên trung ương đều ghi nhận cuộc trao trả hoàn thành đúng thời gian quy định, đúng về thể thức đã thỏa thuận. Các vị trong ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát cũng tỏ ý hài lòng về kết quả cuộc trao trả này.

        Qua 4 đợt mà đợt ngày 29 tháng 3 năm 1973 là đợt cuối cùng, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã trao trả cho phía Hoa Kỳ toàn bộ số nhân viên quân sự của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ bị quân và dân ta bắt giam ở miền Bắc nước ta.

        Như vậy là ngày 29 tháng 3 năm 1973 là ngày tất cả những nhân viên quân sự và nhân viên dân sự Hoa Kỳ bị bắt và giam giữ trên cả hai miền Nam - Bắc nước ta đã được trao trả cho phía Hoa Kỳ.

        Có một vấn đề đặt ra là tại sao Mỹ lại ngang ngược đòi hỏi một cách rất phi lý là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời phải trao trả họ tất cả tù binh Mỹ bị bắt trên toàn chiến trường Đông Dương.

        Chúng ta hiểu rõ rằng, đây là một mưu đồ nham hiểm của Mỹ, họ kiếm cớ, tạo ra lý do để lại một bộ phận quân Mỹ không rút đúng thời hạn cùng với các hành động khác để tiếp tục dính líu về quân sự ở miền Nam nước ta.

        Chúng ta kiên quyết lên án, vạch trần mưu đồ của Mỹ và thẳng thừng bác bỏ đòi hỏi phi lý đó, Mỹ đã phải chấp nhận, không dám dây dưa việc rút quân, phải nhận số nhân viên quân sự và dân sự bị bắt ở Việt Nam ngày 29 tháng 3 năm 1973 đồng thời cũng đúng ngày 29 tháng 3 năm 1973 những tên lính cuối cùng của Mỹ phải rút khỏi Việt Nam.



Giặc lái Mỹ ra sân bay Gia Lâm về nước

« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 01:12:15 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #156 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 05:55:16 pm »



NHỮNC CÂU CHUYỆN CÒN NHỚ MÃI

VŨ NAM BÌNH                      
                     
CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT

        Theo sự thỏa thuận của bốn bên ký kết Hiệp định Pa-ri, ngày 28 tháng 1 năm 1973 hai đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam có mặt ở Sài Gòn.

        Phía đối phương hẹn đưa trực thăng của Mỹ ra đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn ngày 28 tháng 1 năm 1973, tại địa điểm sân bay Thiện Ngôn, phía Bắc Tây Ninh.

        Đoàn chúng tôi đã chuẩn bị chu đáo cho việc vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Đồng thời vẫn rất tỉnh táo đề phòng mọi sự phản trắc của kẻ thù. Quá trình đấu tranh để đi đến ký được Hiệp định Pa-ri đã chứng minh biết bao nhiêu lần kẻ thù phản trắc, lật lọng đổi thay.

        Đồng chí Trần Văn Trà đã nói với chúng tôi rằng: Cảnh giác và luôn đề phòng với Mỹ và nguy Sài Gòn không bao giờ thừa cả, chỉ sợ chúng ta không đủ tỉnh táo để đối phó với những mưu đồ xảo quyệt và ty tiện của chúng mà thôi.

        Còn 4, 5 ngày nữa mới tết nhưng chúng tôi tổ chức ăn một cái tết ở vùng căn cứ với các đồng chí đồng đội thật tưng bừng mừng thắng lợi của Hiệp định Pa-ri và sau đó đi vào cuộc đấu tranh mới.

        Ăn tết trước, vua Quang Trung cũng đã cho quân sĩ ăn tết trước để tiến quân đại phá quân Mãn Thanh. Tết Mậu Thân 1968 quân ta cũng ăn tết trước để đi vào cuộc tổng tấn công nổi dậy trên toàn miền Nam nhằm đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và cũng sau cuộc tổng tiến công đó, Mỹ phải xuống thang chiến tranh, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta.

        Sau gần 5 năm, hôm nay chúng ta lại ăn tết trước để tiến quân trên mặt trận đấu tranh mới - đấu tranh ngoại giao quân sự - tại địa điểm Ở giữa cái gọi là thủ đô của nguy Sài Gòn.

        Đồng chí Trần Văn Trà đã chỉ đạo cho cơ quan tham mưu phái một bộ phận trinh sát đến tại sân bay Thiện Ngôn từ sáng sớm 28 tháng 1 năm 1973. Yêu cầu bộ phận trinh sát này phải có công sự bảo đảm, phải tinh tường nhạy bén nắm tình hình mọi động tĩnh trên khu vực xung quanh Thiện Ngôn. Cừ 15 phút phải báo cáo về một lần.

        Đúng vào lúc cuối bữa tiệc Tết, mọi người đều nghe thấy mấy loạt bom nổ ở hướng sân bay Thiện Ngôn. Thế là có chuyện rồi.

        Ngay sau đó, chúng tôi được thông báo: "Đúng vào giờ mà Mỹ hẹn đưa trực thăng ra đón đoàn chúng tôi, tổ trinh sát báo cáo là không thấy có trực thăng nào cả. Chỉ có 2 máy bay của địch, bay lượn vài vòng trên sân bay Thiện Ngôn rồi thả những loạt bom xuống sân bay. Các mảnh bom và mảnh các loại xác xe tăng thiết giáp của địch bỏ lại ở sân bay bay tung toé xung quanh hầm công sự của các đồng chí trinh sát. Sau những loạt bom, tình hình vẫn im ắng, không có trực thăng nào đến".

        Thật là nực cười - Kẻ thù của chúng ta như thế đó.

        Một cuộc bàn tán rất sôi nổi về sự kiện vừa xảy ra. Ai cũng cho rằng chúng ta đã đúng, rất đúng khi xem xét về kẻ thù.

        Bọn xâm lược Mỹ đã trực tiếp vào đây gần 20 năm và một đội quân xâm lược trên 50 vạn tên cũng đã trực tiếp chiến đấu 10 năm rồi mà Mỹ đã phải chịu thua - Đã phải ký Hiệp định Pa-ri và điều quan trọng nhất là phải rút hết quân Mỹ, quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 60 ngày.

        Quân Mỹ phải rút ra, còn quân ta ở lại nguyên trạng thì nhất định ngụy sẽ chết. Vì vậy ngụy Sài Gòn kiên quyết phản đối ký Hiệp định Pa-ri - Nhưng ngụy phải theo lệnh của quan thầy Mỹ nên phải ký. Ngụy buộc phải ký nên chúng sẽ phá quyết liệt Hiệp định Pa-ri.

        Hành động thả bom vào địa điểm đón đoàn đại biểu quân sự của ta là một hành động phá hoại cụ thể.

        Chúng không muốn có phái đoàn quân sự của ta giữa Sài Gòn.

        Nhưng chúng ngăn cản làm sao được. Đây chỉ là một hành động phản ứng đê hèn mà thôi. Nhất định Mỹ phải đón đoàn ta vào Sài Gòn.

« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 12:13:56 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #157 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 05:56:10 pm »

        
        Việc rút quân Mỹ, việc nhận những tù binh Mỹ bị ta bắt và giam giữ là một yêu cầu bức thiết của nhân dân Mỹ. Chính quyền Mỹ buộc phải thực hiện, chậm ngày nào mà Ban Liên hợp quân sự bốn bên không làm việc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến rút quân và trao trả. Chúng ta kịch liệt lên án và phản đối kẻ thù về sự việc ném bom vào đúng địa điểm và đúng giờ hẹn đón đoàn đạl biểu quân sự của ta.

        Chúng ta yêu cầu phía đối phương phải nhanh chóng đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời vào Sài Gòn để bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên thi hành Hiệp định Pa-ri.

        Chúng ta nói rõ địa điểm đón là sân bay Lộc Ninh, ngày đón là 1 tháng 2 năm 1973.

        Lộc Ninh trong chiến tranh là một cứ điểm kiên cố cấp chiến đoàn của quân đoàn 3 nguy để án ngữ vòng ngoài bảo vệ Sài Gòn.

        Cứ điểm kiên cố này đã bị quân ta tiêu diệt năm 1972 trong chiến dịch "Nguyễn Huệ" - Ta tiêu diệt hoàn toàn chiến đoàn đồn trú tại đây và diệt nhiều đơn vị bộ binh xe tăng thiết giáp của địch đến ứng cứu. Ta đã bắt sống toàn bộ cơ quan chỉ huy Chiến đoàn 8 nguy, trong đó có tên Đại tá Nguyễn Công Vĩnh chiến đoàn trưởng.

        Từ đó, Lộc Ninh là vùng giải phóng khá trù phú, có đông dân và nó đã trở thành một trung tâm chính trị của vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ và cực nam Trung Bộ.

        Lộc Ninh là biểu tượng chiến thắng của ta.

        Lộc Ninh cũng là nỗi nhục thất bại của địch.

        Đã một lần đánh hụt thất bại ở Thiện Ngôn. Việc có mặt đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Sài Gòn là cấp thiết.

        Nhất định kẻ thù phải ra đón đoàn ta và phải đón tại sân bay Lộc Ninh - Không thể khác được và cũng không thể chậm trễ hơn nữa.

        Đối phương phải chấp nhận làm đúng theo yêu cầu của ta.

        Các cơ quan của ta ở vùng giải phóng chuẩn bị rất tốt cho cuộc tiễn đưa Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời vào Sài Gòn.

        Ngày 1 tháng 2 năm 1973, đúng như giờ đã hẹn, những chiếc trực thăng Mỹ bay đúng theo đường bay và tầm cao do ta quy định đến vùng trời Lộc Ninh, lượn một vòng trên vùng trời và lần lượt hạ cánh theo đội hình thứ tự từ đầu Bắc sân bay.

        Như một ngày hội lớn, từ sáng sớm, rất đông đồng bào ở Lộc Nmh và vùng phụ cận cùng nhiều cán bộ, bộ đội lần lượt kéo đến sân bay Lộc Ninh để tiễn đoàn đại biểu quân sự thân yêu của mình đi vào cuộe đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri. Một rừng cờ cách mạng cầm trong tay, treo trước của các nhà, trên các cành cây dọc đường, nét mặt của mọi người rạng rỡ hân hoan với khí thế chiến thắng cùng đội ngũ chỉnh tề tiến vào sân bay mớĩ lúc một đông biến thành một cuộc mít tinh lớn tiễn đoàn đại biểu quân sự của ta và hoan nghênh thắng lợi của Hiệp định Pa-ri.

        Cuộc mít tinh ngắn gọn, sôi nổi và rất hào hùng. Những sĩ quan lái máy bay người Mỹ đứng lặng lẽ nhìn, hẳn là họ cũng cảm nhận được khí thế của quần chúng cách mạng. Còn các sĩ quan nguy lại khác, họ ngồi lỳ trong máy bay mà không dám ra ngoài, họ nghĩ gì đây nhưng chắc là tức tối bực bội lắm.

        Trưởng đoàn Trần Văn Trà thay mặt đoàn chúng tôi phát biểu cảm ơn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đã tiễn đưa thân tình và trọng thể, hứa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và xứng đáng với niềm tin mà đồng bàn đồng chí đã gửi gắm.

        Tất cả chúng tôi, những sĩ quan chiến sĩ trong đoàn hết sức xức động. Biết rằng kẻ thù sẽ còn phá hoại nhiều hơn nữa, còn lật lọng phản trắc trên nhiều vấn đề và sẽ gây khó khăn trở ngại cho sự thực hiện nhiệm vụ của phái đoàn ta, nhưng không ai trong chúng tôi thể hiện một sự nao núng nào.

        Từ vị trí chiến thắng này, chúng tôi hiên ngang đi vào giữa sào huyệt của địch, tiến hành mặt trận đấu tranh mới - đấu tranh ngoại giao quân sự - để thi hành Hiệp định Pa-ri về Viêt Nam.



Trung tướng Trần Văn Trà trong buổi mít tinh tại sân bay Lộc Ninh tiễn đoàn B vào Đa-vít làm nhiệm vụ
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 12:32:01 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #158 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 05:58:40 pm »


CÂU CHUYỆN THỨ HAI

       Trong một cuộc họp của cấp trưởng đoàn Ban Liên hợp quân sự hai bên đã diễn ra một câu chuyện rất lý thú. Hôm nay là ngày đồng chí Võ Đông Giang Phó đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời đi họp thay trưởng đoàn. Mấy bữa họp trước đó, vấn đề trao trả nhân viên dân sự là vấn đề rất gay cấn. Chúng ta đã vạch rõ sự vi phạm Hiệp định Pa-ri của ngụy Sài Gòn. Họ cãi chày cãi cối và chống chế một cách yếu ớt.

        Lần này, hai đoàn đại biểu quân sự vừa vào chỗ họp, Phan Hoà Hiệp chuẩn tướng trưởng đoàn của ngụy Sài Gòn chủ động nêu ra một vấn đề không ăn nhập gì với những nội dung mà hội nghị cấp trưởng đoàn đang còn bàn trong mấy phiên họp vừa qua.

        Phan Hoà Hiệp nói nội dung về lai lịch của đồng chí Võ Đông Giang. Hiệp thao thao bất tuyệt nêu ra rằng: "Ông phó đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời mang tên là Võ Đông Giang nhưng ông không phải là Võ Đông Giang, ông cũng không phải là đại tá. Chính ông tên là Phan Bá, ông là Vụ trưởng của Bộ Ngoại giao Bắc Việt. Trong thời kháng Pháp, ông là liên Bí thư tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum rồi ông ra miền Bắc làm ngoại giao. Ông không ở trong quân đội ngày nào.

        Chúng tôi biết rất rõ về ông. Các ông lấy vải thưa che mắt thánh, nhưng không giấu được chúng tôi đâư".

        Nói xong, Hiệp ngồi im.

        Quan sát thái độ của Hiệp và bộ hạ của nó hôm đó, chúng tôi thấy chúng có vẻ đắc chí về các tin tức mà Hiệp vừa nói. Chắc chúng nghĩ rằng với tin tức mà Hiệp vừa nói, Võ Đông Giang sẽ lúng túng, không chối cãi vào đâu được Nhưng đồng chí Võ Đông Giang của chúng ta rất bình thản. Anh tiếp tục ngậm tẩu hút thuốc lá.

        Sau một lúc, bằng giọng nói chắc, gọn và rõ, anh Giang hỏi Phan Hoà Hiệp rằng Hiệp còn gì nói thêm nữa không, sẵn sàng nghe tiếp tin tức lý thú mà Hiệp vừa nói. Tiếp theo, anh Giang hỏi luôn là, có phải Phan Hoà Hiệp đưa nội dung này ra để bàn trong hội nghị hôm nay hay chỉ là một câu chuyện tầm phào.

        Hiệp ấp úng, lúng túng ậm ậm ờ ờ rằng tôi nêu vấn đề vậy thôi và cũng để ông biết là chúng tôi đã biết rõ như thế.
  
        Đồng chí Võ Đông Giang, vẫn với thái độ bình tĩnh, ngồi ỉm một lúc khá lâu.

        Một số sĩ quan đi họp cùng anh Giang hôm đó ghi những mẩu giấy đưa cho anh Giang. Sau hội nghị, được biết các đồng chí sĩ quan ghi rằng đây là đòn khiêu khích, anh hãy bác bỏ hoàn toàn. Riêng tôi biết rõ lai lịch Phan Hoà Hiệp nên ghi vội vài dòng cho anh Giang. Hiệp là con một người Pháp, mẹ Việt Nam, Phan Hòa Hiệp là phiên âm từ chữ Franẹois Hiệp. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Hiệp là lính của Đệ tam sư đoàn. Khi Pháp đánh trở lại, sư đoàn này tan rã và đầu hàng Pháp.

        Hiệp cũng nằm trong số đó...

        Anh Võ Đông Giang, lại một lần nữa hỏi Hiệp có nói thêm gì không. Hiệp không nói gì nữa.

        Anh Giang chậm rãi nói, bây giờ đến lượt tôi phát biểu.

        Anh Giang nêu ra 3 ý kiến cụ thể.

        Một là, trước hết và ngay lập tức sau cuộc họp này ông Phan Hoà Hiệp chuẩn tướng của quân đội Việt Nam cộng hoà hãy cách chức tất cả những tên tình báo nào đưa cho ông cái tin về lai lịch của tôi mà ông vừa nói. Đây là tin bịa đặt nên phải cách chức những tên đưa tin đó.

        Hai là, nếu ông chuẩn tướng muốn lấy tin tức này để thành một nội dung thảo luận trên diễn đàn của cấp trưởng đoàn hôm nay thì tôi đồng ý. Chúng ta sẽ cùng nhau lật ngửa con bài. Ông Hiệp trình bày hết những gì mà ông có về lai lịch của tôi. Và tôi cũng sẽ trình bày tại đây và ngay bây giờ về lai lịch của ông chuẩn tướng. Xin nói rằng lai lịch của ông chuẩn tướng không đẹp đẽ gì đâu và tôi cũng dám chắc rằng nhiều người bên quý vị và ngay những người của phía quý vị ngồi tại đây cũng không hiểu rõ lai lịch chính trị của ông chuẩn tướng đâu.

        Ba là, nếu đưa tin tức làm câu chuyện tầm phào, đi đến cãi cọ nhau một cách vô bổ để lảng tránh hoặc làm mất thời gian bàn bạc việc chính yếu thì đó chỉ là trò lố bịch. Không thể lảng tránh vấn đề mà ta đang bàn bạc là vấn đề trao trả nhân viên dân sự được đâu. Đó không phải là tư cách của những nhà ngoại giao quân sự để bàn việc thực thi Hiệp định Pa-ri mà các bên đã ký kết. Ở diễn đàn cấp trưởng đoàn này không có chỗ cho việc đưa ra tin tức theo kiểu đó. Hãy bỏ kiểu đó đi.

        Phan Hoà Hiệp và đồng bọn ngồi im phăng phắc, chúng không dám nhìn thẳng vào đoàn ta nữa.

        Phan Hoà Hiệp bẽ bàng gỡ thế bí nên nêu ý kiến là hội nghị tạm nghỉ giải lao 15 phút, sau vào tiếp tục.

        Ngồi trong phòng nghỉ giải lao, Hiệp nói với anh Giang là các ông phê phán tôi dữ quá. Tôi chỉ là lính đánh nhau, là loại võ biền thôi chứ đâu có được làm ngoại giao như đại tá..

        Câu chuyện đấu tranh giữa Võ Đông Giang và Phan Hoà Hiệp là một câu chuyện khá lý thú, tôi ghi lại để chúng ta cũng nhớ lại.


Đại tá Võ Đông Giang
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 12:46:15 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #159 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 06:19:12 pm »


CÂU CHUYÊN THỨ BA

        Quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết trong vòng 60 ngày, Mỹ phải hủy tất cả các căn cứ quân sự, Mỹ không được tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp nội bộ của miền Nam Việt Nam là điều khoản rất quan trọng của Hiệp định Pa-ri.

        Trong hội nghị cấp trưởng đoàn của bốn bên, lần nào hai trưởng đoàn của ta là Trung tuớng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Lê Quang Hoà cũng yêu cầu phía Mỹ phải báo cho Ban Liên hợp quân sự biết kế hoạch rút quân Mỹ và quân chư hầu, kế hoạch phá hủy các căn cứ quân sự... để Ban Liên hợp quân sự phái các Tổ Liên hợp quân sự đến theo dõi, kiểm tra giám sát.

        Thiếu tướng trưởng đoàn quân sự Mỹ Út-uết ậm ừ rồi tảng lờ sang vấn đề khác. Hai trưởng đoàn ta nhắc lại rằng việc này không thể cho qua được mà phái đoàn Hoa Kỳ phải báo cáo rõ để Ban Liên hợp quân sự thi hành nhiệm vụ.

        Trong một cuộc họp tiếp theo, Út-uết trưởng đoàn quân sự Mỹ trịnh trọng tuyên bố rằng, Hoa Kỳ đã nghiêm chỉnh thi hành hiệp định và đã rút ra khỏi miền Nam Việt Nam 8.000 quân của Mỹ và đồng minh.

        Hai trưởng đoàn ta lập tức phản đối quyết hệt. Các trưởng đoàn ta nêu rõ rằng chúng ta không chấp nhận một sự thông báo hời hợt của phía Hoa Kỳ. Có cái gì để chứng minh cho việc rút quân Mỹ và chư hầu là có thật. Phải chăng những con số mà Thiểu tướng Út-uốt nêu ra là bịa đặt. Thiếu tướng Trưởngđoàn Lê Quang Hoà tuyên bố rằng bất cứ một cuộc rút quân nào của Hoa Kỳ và đồng minh, nếu không thông báo trước, không có sự theo dõi giám sát tại chỗ của Ban Liên hợp quân sự bốn bên cững như sự kiểm soát giám sát của ủy ban Quốc tế thì không con số nào, không cuộc rút quân nàn là có giá trị cả.

        Trung tướng Trần Văn Trà khẳng định rằng, đến hôm nay, chúng tôi xác định rằng chưa có một người lính Mỹ nào hay quân của một nước đồng minh nào của Mỹ đã rút khỏi miền Nam Việt Nam từ sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri.

        Út-uết ngồi im chịu trận.

        Trưởng đoàn nguy Sài Gòn là Dư Quốc Đống lại đỡ đòn cho quan thầy Mỹ một cách hết sức vụng về. Đống nói rằng các ngài (ý nói hai trưởng đoàn ta) có cần kiểm tra giám sát đâu. Các ngài đòi hỏi như vậy chẳng qua là các ngài muốn quay phim, chụp ảnh rồi tuyên bố với thế giới rằng quân Mỹ đã thua, quân Mỹ phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam.

        Thật đáng thương hại cho trưởng đoàn ngụy Sài Gòn, một thân phận của kẻ tay sai khi đang bị quan thầy bỏ rơi mà phải nói lên điều đó.

        Chỉ một thời gian ngắn, ngay cuộc họp tiếp theo, ngày 16 tháng 2 năm 1973, Mỹ phải gửi công hàm cho ta và phải chính thức để các Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đến các địa điểm quan sát, kiểm tra việc rút quân Mỹ và chư hầu. Các sĩ quan của hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời chững chạc trong bộ quân phục cầm danh sách do nhà chức trách Mỹ cung cấp đọc từng tên sĩ quan và binh lính Mỹ, chư hầu rút quân cho đến những tên sĩ quan và binh lính cuối cùng.

        Các lần kiểm tra giám sát rút quân, sĩ quan ta phát hiện thấy không có tên nào mang theo vũ khí trang bị gì cả. Sĩ quan ta chất vấn, chúng trả lời là vũ khí trang bị đã mang theo đường biển. Đây là sự bịp bợm.

        Còn vấn đề phá căn cứ quân sự, chúng ta cũng yêu cầu Mỹ phải báo cáo rõ cho Ban Liên hợp quân sự biết để kiểm tra. Út-uốt trả lời rằng đã bàn giao các căn cứ quân sự của Mỹ cho Việt Nam cộng hoà từ trước khi có Hiệp định Pa-ri. Hiện chúng cũng phải ở nhờ các căn cứ của ngụy Sài Gòn. Thật là trơ trẽn, đến lúc phải cuốn gói thì kẻ xâm lược lại càng nói bừa nới ẩu theo đúng tính cách của nó.

        Cho đến ngày 29 tháng 3 năm 1973, thật chính xác là hồi 17 giờ 30 phút giờ Sài Gòn (16 giờ 30 phút giờ Hà Nội) của ngày 29 tháng 3 năm 1973 những tên lính Mỹ cuối cùng đã cút khỏi miền Nam Việt Nam. Các sĩ quan của hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và của Chính phủ Cách mạng lâm thời đã có mặt tại chỗ để kiểm tra giám sát những tên lính cuối cùng đó.

        Đúng ngày 29 tháng 3 năm 1973 ấy, vai trò quân sự của Mỹ ở Việt Nam đã chấm dứt và nó được đánh dấu bằng một buổi lễ âm thầm cuốn lá cờ của Bộ chỉ huy Mỹ, tư lệnh Mỹ tướng Uây-en và đại sứ Mỹ Bân-cơ đã đứng chào lá cờ ấy cùng với 42 quân nhân Mỹ đại diện cho 4 quân chủng của Mỹ đứng để duyệt binh trong buổi lễ 15 phút này.

        Sau đó, đúng một giờ, 42 quân nhân Mỹ này đáp một máy bay phản lực chở họ ra khỏi miền Nam Việt Nam cùng với 2.500 người nữa trong số những lính Mỹ cuối cùng đó.

        Đại tá không quân Đê-vít ô-đen là người cuối cùng rời khỏi miển Nam Việt Nam.

        Về sự kiện ngày 29 tháng 3 năm 1973, xã luận báo Nhân dận số 6914 ngày 31 tháng 3 năm 1973 đã viết: Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc quân viễn chinh của chúng phải rút hết khỏi nước ta. Ngày 29 tháng 3 năm 1973 đánh dấu một cái mốc lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam ta.

        Kể từ 115 năm nay, lần đầu tiên trên toàn bộ lãnh thổ nước ta, quân đội xâm lược của các đế quốc đã bị quét sạch. Đó là kết quả rực rỡ của cuộc chiến đấu lâu dài đầy hy sinh gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của nhiều thế hệ người Việt Nam... Tên lính cuối cùng của Mỹ và cũng tức là của cáe nước đế quốc rút khỏi nước ta. Đối với bọn xâm lược Mỹ cũng như bọn xâm lược Pháp và cả bọn phát xít Nhật nữa, những kỷ niệm về Việt Nam thật là chua chát...

       … Lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc và của loài người tiến bộ chắc rằng hàng nghìn đời sau cũng sẽ ghi mãi những chiến công của người Việt Nam: Một dân tộc nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ...".



Điểm danh từng tên xâm lược cuối cùng


Đại tá không quân Đê-vít ô-đen là người cuối cùng rời khỏi miển Nam Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 12:55:49 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM