Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:37:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315588 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #160 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 09:34:06 pm »


TRAO TRẢ NHÂN VIÊN DÂN SỰ

VŨ BÌNH VÀ DUY HÒA                      
                     
        Cuộc đấu tranh đòi phía Sài Gòn phải trao trả nhân viên dân sự hay gọi là tù chính trị của ta là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, quyết liệt và kéo dài trong thời kỳ Ban Liên hợp quân sự hai bên.

        Việc trao trả nhân viên quân sự trong thời kỳ Liên hợp quân sự bốn bên đã cơ bản xong. Chúng ta đã trao trả tất cả nhân viên quân sự, dân sự Mỹ mà chúng ta bắt, giam giữ. Chúng ta cũng đã trả cho phía Sài Gòn 5.016 tù binh. Còn lại 410 tù binh Sài Gòn mà ta chưa trả được là do địa điểm trao trả ở Đức Nghiệp (Gia Lai) bị quân Sài Gòn oanh tạc nên ta phải để lại trao trả vào thời kỳ hai bên.

        Phía Sài Gòn cũng đã trao trả phần lớn nhân viên quân sự cho ta, nhưng vẫn không đầy đủ theo như danh sách mà phía Sài Gòn đã trao tại Pa-ri, hôm ký hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27 tháng 1 năm 1973.

        Chúng giữ lại 242 người mà chúng nêu lý do là số người này xin "hồi chính", "xin ở lại với chính nghĩa quốc gĩa"(!)

        Ngay trong số chúng đã trao trả, khi kiểm tra chúng ta phát hiện có 2.478 người không đúng với tên trong danh sách ban đâu chúng trao tại Pa-ri. Ta còn phát hiện hàng trăm dân thường bị bắt trong các cuộc càn quét mà chúng cũng gắn cho cái tên là nhân viên quân sự.

        Sang thời kỳ Liên hợp quân sự hai bên, chúng ta biết rõ là bọn ngụy Sàì Gòn sẽ phá việc trao trả nhân viên dân sự - Thời kỳ bốn bên, chúng phải trao trả cho ta phần lớn nhân viên quân sự là do sức ép của Mỹ mà chúng phải thi hành.

        Đến vấn đề nhân viên dân sự thì ngay trong Hìệp định Pa-ri, tuy dừng những lời lẽ có vẻ thống thỉết nhưng cũng chỉ là kêu gọi và Mỹ thì cũng tìm mọi cách để tránh né trong hiệp định ghi vấn đề nhân viên dân sự do hai bên miền Nam Vìệt Nam giải quyết. Haí bên miền Nam Vlệt Nam sẽ Iàm việc đó trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gáng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng 90 ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.

        Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ của chúng buộc phải ký Hiệp định Pa-ri theo lệnh quan thầy Mỹ - Và chính chúng được sự hỗ trợ của Mỹ phá Hiệp định Pa-ri ngay từ đầu. Mỹ cũng chỉ mong lấy được tù bmh Mỹ và đưa được quân Mỹ về nước còn thì vẫn thi hành chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để Mỹ tiếp tục thực hiện mưu đồ của mình ở Việt Nam.

        Ngụy thì giữ đúng phương châm "4 không" mà chính Thiệu nêu ra là:

-   Không nhượng đất cho "Cộng sản";
-   Không trung lập;
-   Không liên hợp với "Cộng sản";
-   Không nói chuyện với "Cộng sản".

        Bọn nguy buộc phải ngồi vào bàn hội nghị, nhưng có bao giờ chúng nới chuyện nghiêm túc đâu. Chúng nói bừa, nói ẩu, cãi chày, cãi cối, nói hôm nay nhưng mai không thi hành, chỉ nói chứ không làm theo lời nói dó.

        Vấn đề hệ trọng nhất của Hiệp định Pa-ri là ngừng bắn mà bọn Thiệu đã phá một cách rất quyết liệt. Tên Nguyễn Văn Thiệu đã không giấu giếm mà tuyên bố thẳng thừng rằng Việt Nam cộng hòa sẽ thi hành điều khoản ngừng bắn khi:
      
        1. Quân đội Việt Nam cộng hòa không còn ủng hộ tôi.

        2. Khi quân viện Hoa Kỳ chỉ đủ để 1o việc phòng thủ.

        3. Khi quân 1ực Việt Nam cộng hòa không còn đủ sức bảo vệ các khu quan trọng tại miền Nam Việt Nam.

        Về vấn đề trao trả nhân viên dân sự, tên Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng: Không trao trả nhân viên dân sự, đây là tù chính trị mà trả tù chính tn là thả hổ về rừng. Đây cũng là thể hiện sự sợ hãi của chúng với những cán bộ chính trị, những cơ sở cách mạng của ta.

        Phái đoàn quân sự của chúng ta trong trại Đa-vít ngày đêm trao đổi bàn bạc tính toán về cuộc đấu tranh này. Ngay từ những phiên họp đầu tiên của hai bên, chúng ta đã chủ động đưa ra vấn đề trao trả nhân viên dân sự và suốt cả quá trình liên tục đấu tranh với phía Sài Gòn.

        Trong hội nghị cấp trưởng đoàn và Tiểu ban trao trả, có thể nói rằng bọn ngụy Sài Gòn cố tình dây dưa. Chúng bày ra đủ trò để tranh cãi một cách vô bổ những cái mà trong thời kỳ bốn bên đã thực hiện như địa điểm trao trả, thể thức trao trả, các điều kiện bảo đảm an toàn, v.v.., cốt là để kéo dài thời gian và cái chính là để không trao trả nhân viên dân sự của ta.

        Trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, chúng ta đòi rõ những đồng chí cán bộ mà ta thấy có thể nói công khai được thì bọn ngụy viện đủ lý do để tránh né, từ chối.

        Đoàn ta đòi chị Võ Thị Thắng, chúng lảng tránh rồi sau lại nói chị Thắng là phạm pháp hình sự, không phải tù chính trị.

        Ta đòi thả anh Huỳnh Tấn Mẫm, chúng lái sang chuyện anh Mẫm là đại biểu sinh viên hay đòi yêu sách cho học đường, đâu phải là tù chính trị.

        Ta đòi chị Trần Thị Lan, Trần Thị Huệ.., chúng trí trá nói rằng đây là những người hay biểu tình gây rối mất trật tự học đường, nếu các vị bảo là tù chính trị thì không phải nên chúng tôi không trả.

        Khi phía Sài Gòn đưa danh sách mà chúng trao trả thì trong đó có một số chúng tráo trở hồ sơ, chúng đưa người phạm pháp hình sự như trộm cắp, giết người buôn lậu, v.v... nói là tù chính trị trả cho ta.
  
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #161 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 09:35:57 pm »

        Trong cuộc đấu tranh này, chúng ta cố gắng khai thác những lợi thế mạnh tương đốì - Đó là Mỹ nóng lòng muốn nhận hài cất ngườỉ chết và tìm kiếm người mất tích - Đó là dư luận thế giới và trong nước lên án mạnh mẽ về vấn đề giam giữ và đối xử vô nhân đạo của chế độ Sài Gòn đối với tù chính trị. Họ lên tiếng đòi trả tự do cho tù chính trị, họ nêu cả những con số tù chính tn mà ngụy Sài Gòn đang giam giữ.

        ông Mục sư Tin lành người ý-Tullo Visay-nói là Việt Nam cộng hòa còn giam 200.000 tù chính trị, đài BBC đưa tin là Hội ân xá quốc tế đưa con số 70.000 đến 100.000 tù chính trị ở Việt Nam cộng hòa. Báo đối diện của Sài Gòn cũng nêu con số 200.000 tù chính trị đang trong các trại giam của Việt Nam cộng hòa, v.v...

        Chúng ta còn yêu cầu phía Sài Gòn cùng mời Hội đồng thập tự quốc tế và hồng thập tự một số quốc gia đến thăm các trại giam của hai bên.

        Phía Sài Gòn còn giở thủ đoạn nêu con số rất lớn nhân viên dân sự mà ta giam giữ của chúng. Thực ra số lượng những tên phản cách mạng, phản động, những loại gián điệp ác ôn, v.v.., thì chúng ta bắt không phải là ít - Nhưng chủ trương của ta là giáo dục họ một thời gian rồi thả cho họ về. Hơn nữa, chiến trường chia eắt, xen kẽ, chúng ta cũng không có điều kiện để giam giữ nhiều. Kẻ thù cũng biết rõ điều đó, nhưng chúng cứ nêu con số vống lên thật nhiều để lấy cớ rằng ta không trả số đó thì chúng không trả tù chính trị của ta. Trong phiên họp ngày 6 tháng 4 năm 1973, thông báo cho họ là ta còn giam giữ 637 nhân viên dân sự, họ thông báo chỉ giam giữ của ta có 5.081 người và đòi ta phải trả của họ là 67.000 người.

        Khi chúng ta đấu tranh mạnh mẽ và dư luận quốc tế, trong nước đòi hỏi mà họ buộc phải trả nhân viên dân sự thì họ trả rất nhỏ giọt và vẫn có nhiều lý do giả tạo, nhiều hành động để cản trở. Có thể nói rằng, gần như không có cuộc trao trả nào là suôn sẻ và cũng gần như cuộc trao trả nào chúng cũng cài những tên chiêu hồi để xin trở về với "chính nghĩa quốc gia"(!). Chính bọn chúng đã bị ngay những người cùng trong đợt trao trả tố cáo, lên án, vạch mặt và đả đảo - Chúng hết sức bẽ mặt và lm lặng rút lui.

        Tính chung trong toàn bộ giai đoạn hoạt động của Liên hợp quân sự hai bên, ta trao trả cho nguy Sài Gòn 410 nhân viên quân sự còn lại của thời kỳ bốn bên và 637 nhân viên dân sự. Họ trao trả cho ta 130 nhân viên quân sự và 5.075 nhân viên dân sự.

        Những cuộc trao trả nhân viên dân sự của ta diễn ra vô cùng xúc động. Các sĩ quan của phái đoàn quân sự ta và nhân dân chứng kiến những buổi đón tiếp các tù chính trị của ta trở về không thể cầm được nước mắt, bao nỗi uất ức trào lên càng nung nấu lòng căm thù những bọn đồ tể dã man của chế độ nguy Sài Gòn.

        Trung số nhân viên dân sự của ta được trao trả không nhiều, chỉ trên 5.000 người trong số hàng trăm ngàn đang bị giam giữ. Nhưng trong số đó có cả nam và nữ. Có chị khi bị bắt đang mang thai, sinh các cháu trong nhà tù, các cháu cũng ở tù với mẹ, khi trao trả các cháu mới 3, 4, 5 tuổi.

        Có những anh, chị bị bắt đã rất lâu từ những năm 1958-1959-1960, đã trải qua hàng chục nhà tù của Mỹ - nguy, nếm đủ các đòn tra tấn, đọa đày. Nhiều người bị mang tật suốt đời do bọn Mỹ - nguy tra tấn nhục hình, có một số đồng chí ta về đến vùng giải phóng bị ngất xỉu, không đi nổi vớì thân hình gầy còm, ốm yếu chỉ còn da bọc xương...

        Nhưng khí phách của các anh các chị thì thật là tuyệt vời Các anh các chị trương cờ cách mạng, hô đả đảo bọn cướp nước và bán nước. Có anh chị đứng lên vạch mặt kẻ thù thể hiện lòng căm thù cao độ đối với chúng.

        Những cán bộ và nhân dân ta có mặt tiếp đón các anh các chị tù chính trị trở về đều rất xúc động và cảm phục.

        - Xin kể một câu chuyện nhỏ trong buổi trao trả cuối cùng tại sân bay Lộc Ninh. Theo thỏa thuận của Ban Liên hợp quân sự hai bên thì ngày 7 tháng 3 năm 1973 có cuộc trao trả tại Lộc Ninh. Phía Sài Gòn trả cho ta 25 nhân viên dân sự và 97 nhân viên quân sự.

        Bộ phận trao trả của ta nắm danh sách thấy có tên chị Võ Thị Thắng - mọi người vui mừng, đem theo cả tờ báo có in hình của chị trước tòa án nguy Sài Gòn để đối chiếu xem chúng trả có đúng người hay không. Khi tiến hành bàn giao ở sân bay Lộc Ninh, lúc gọi đến người thứ 3 là chị Võ Thị Thắng thì đột nhiên viên trung tá nguy Sài Gòn Nguyễn Thế Thứ chạy tới ra lệnh cho binh sĩ phía họ là dừng lại không trao trả nữa và gọi trực thăng đưa tù chính trị trở lại Biên Hòa. Tổ trao trả của ta dứt khoát không cho đưa tù chính trị về Biên Hòa mà phải trao trả số đã đưa lên Lộc Ninh - Đây là quyết định đã được trưởng hai phái đoàn Liên hợp quân sự nhất trí nên không thể có ai thay đổi được.

        Tên Nguyễn Thế Thứ nói rằng, khi chiếc trực thăng trở tù chính trị lên đây trở về thì giữa đường bị Việt cộng bắn, một trung sĩ của phi hành đoàn bị chết nên chúng tôi được lệnh không trao trả nữa. Chúng ta kiên quyết đấu tranh, mời Tổ giám sát của ủy ban Quốc tế đến chứng kiến, chúng ta khẳng định việc trao trả ở đây không có lý do gì hoãn được và cũng không thể bắt tù nhân đi đâu được.

        Lệnh của chỉ huy các vị nói là không trao trả nữa là không có giá trị gì với cuộc trao trả này. Không thể đưa việc xảy ra ở chỗ khác để gán vào việc ở đây, và cũng không ai rõ là việc đó có hay không và xảy ra như thế nào, thiếu gì việc các vị bày đặt ra để phá hoại trao trả. Chúng tôi nói để các vị rõ rằng, nếu không tiến hành trao trả, không gọi danh sách tù nhân để bàn giao, cuộc trao trả không thành, các vị sẽ là người hoàn toàn chịu trách nhiệm. Các đồng chí ta nhấn mạnh, chúng tôi sẽ tổ chức họp báo ngay tại đây tố cáo âm mưu phá hoại trao trả của các vị một cách có hệ thống. Nếu tù nhân bất bình tự giải tán họ đả đảo sự lật lọng của các vị thì các vị không thể ngăn cản được, Ở đây không phải là trại giam của các vị.

        Cùng lúc đó, 25 tù chính trị và 97 tù quân sự hô to "đả đảo đế quốc Mỹ, đả đảo bọn tay sai ngụy Sài Gòn" với khí thế trào dâng, lòng căm thù sôi sục, các lời hô đả đảo bọn Mỹ - nguy vang lên mạnh mẽ, liên tục. Các anh, các chị tự động đứng lên đi sang phía các đồng chí Tổ trao trả của ta, bọn ngụy không dám làm gì.

        Trung tá nguy Nguyễn Thế Thứ mặt tái đi nói lẩm bẩm, các ông cậy quyền lãnh thổ của các ông, tù nhân của các ông; đông đảo cán binh của các ông làm áp lực nên buộc chúng tôi phải trao trả. Những tên khác im 1ặng, tiến bành làm nhanh gọn các loại thủ tục để trao trả 25 nhân viên dân sự, 97 nhân viên quân sự của ta được trả về trước sự đón tiếp đầy tình thương yêu của đồng chí, đồng đội, đồng bào tại sân bay Lộc Ninh


Trao trả tại Lộc Ninh


Trao trả tại Thạch Hãn
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 01:09:16 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #162 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 10:06:06 pm »

Xin chia xẻ thêm 1 thông tin thú vị.

Trong quá trình thi hành Hiệp định Paris về vấn đề trao trả tù binh, ta đã đấu tranh rất quyết liệt đòi chúng thả các tù binh chiến tranh và tù chính trị trong đó nổi lên vai trò rất quan trọng của các phái đoàn trong trại Đa-vít. Địch đã phải trao trả cho chúng ta hơn 31 nghìn người. Một trong số những người được trao trả ngày ấy bây giờ lại là người ký quyết định công nhận các phái đoàn trong trại Đa-vít là đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là chủ tịch nước Trương Tấn Sang!  
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #163 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 06:32:33 am »


GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ CHÍNH NGHĨA
ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN DƯ LUẬN
HỖ TRỢ CHIẾN TRƯỜNG
[1]
                       
                  
        Hiệp định Pa-ri chưa ráo mực thì tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu đã ra sức phá hoại một cách có hệ thống. Họ thẳng tay đàn áp các lực lượng yêu nước, lực lượng đối lập trong vùng kiểm soát của họ. Họ không từ một thủ đoạn nào để bưng bít sự thật trước dư luận trong nước và trên thế giới.

        Trong tình hình đó, quá trình hơn hai năm đấu tranh của ta tại Tân Sơn Nhất thực chất là đấu tranh dư luận và nó đã trở thành nhiệm vụ cơ bản xuyên suốt của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương.

        Lãnh đạo Đảng ta đã hiểu rõ từ đầu dã tâm và ý đồ của Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ hỗ trợ nên không trông đợi nhiều vào khả năng thi hành thông suốt toàn bộ Hiệp định Pa-ri. Tuy nhiên vì việc ký được Hiệp định là một thắng lợi quan trọng của ta, nó lại ràng buộc Mỹ vào và được một hội nghị quốc tế quan trọng bảo đảm nên ta cố         kiên trì đấu tranh để nó được thực hiện cho đến lúc rõ ràng không còn triển vọng gì hòa bình tiến tới được nữa; ta phải kiên quyết dùng hành động vũ trang để giữ vững thành quả và đạt mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Trong cuộc đấu tranh này, việc tranh thủ dư luận, cả dư luận ở miền Nam và dư luận quốc tế, là điều hết sức quan trọng, nhằm một mặt vạch trần âm mưu phá hoại của địch, mặt khác chứng minh sự thực tâm của ta, và đặc biệt là giải thích có lý có tình những hành động quân sự mà bất đắc dĩ ta phải tiến hành trên chiến trường trước sự phản trắc của địch. Nó là một bộ phận trong mặt trận chính trị và mặt trận ngoại giao đã nổi lên hàng đầu sau khi có Hiệp định Pa-ri để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế.

        Vì vậy đi đôi với đấu tranh thi hành Hiệp định, ta đã triển khai ngay từ đầu thế trận đấu tranh dư luận, bởi vì ngay từ khi Hiệp định Pa-ri sắp được ký kết Nguyễn Văn Thiệu đã bắt đầu phá bằng cái kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ' rồi.

        Nhiều cán bộ thông tấn báo chí nhiếp ảnh có năng lực và kinh nghiệm của Thông tấn xã Việt Nam, Thông tấn xã Giải phóng, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và Giải phóng, các báo lớn, cùng với một số nhân viên thông tin và tê lếch giỏi được chọn vào Tân Sơn Nhất, hình thành một Ban Thông tấn báo chí mạnh giúp đắc lực cho đoàn trên trận địa quan trọng này.

        Vận dụng 11 quyền ưu đãi miễn trừ đã được Ban Liên hợp quân sự bốn bên thỏa thuận, ta đã đòi được quyền tổ chức hàng tuần một cuộc họp báo vào sáng thứ bảy, và quyền liên lạc trực tiếp bằng điện thoại với các nhà báo.

        Sáng thứ bảy 17 tháng 3 năm 1973, Trung tướng Trần Văn Trà đã mở cuộc họp báo của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương, gần 100 nhà báo đã đến dự. Đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên của đại diện cách mạng với giới báo chí ngay tại Sài Gòn, và là dịp để ta trình bày với dư luận lập trường của ta thi hành Hiệp định và đòi các bên khác cùng nghiêm chỉnh thi hành. Sài Gòn là một trung tâm hội tụ đông đảo đại diện các tờ báo lớn, các đài phát thanh và truyền hình của nhiều nước, nhất là các nước tư bản lớn, vì trong thời điểm lịch sử đó miền Nam Việt Nam là tiêu điểm của tình hình nóng bỏng trên thế giới; lại là nơi mà Mỹ buộc phải chấp nhận rút quân, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Phần lớn trong số họ có cách nhìn và quan điểm khác ta trong nhiều vấn đề, một số thật sự ghét Cộng sản, chưa kể không ít "nhà báo" Việt Nam là người của phía Sài Gòn. Nhiều người trong số này có lẽ chưa biết gì về ta thật nên sau cuộc họp họ bàn tán: "Việt cộng đâu có ốm tong ốm teo (tức gầy đét), cha nào cũng sáng láng"... (Từ thời Ngô Đình Diệm đã lưu hành một giai thoại chế giễu "Việt cộng" đói khát gầy còm đến mức bảy "tên" cùng đeo vào một cọng đu đủ mà không gãy). Cũng có người, cả người nước ngoài và người trong nước, tỏ cảm tình (người Việt Nam thì kín đáo hơn), nêu câu hỏi chân thành và đúng đắn. Có phóng viên Việt Nam trong giờ giải lao tìm cách khéo léo nói nhỏ cho cán bộ ta biết tên A là của CIA, tên B thuộc Nha chiến tranh tâm lý...
  
         Trong thời kỳ Ban Liên hợp quân sự bốn bên, tuy phía Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định ngay từ đầu mà vẫn được Mỹ dung túng trong chừng mực không hại đến lợi ích của Mỹ, một số điều khoản quan trọng có được thực hiện (ngừng bắn chung lúc đầu, rút quân Mỹ và quân nước ngoài, trao trả nhân viên quân sự các bên và nhân viên dân sự nước ngoài), Ban Liên hợp quân sự còn bàn bạc giải quyết thiết thực công việc, các vi phạm Hiệp định của phía Sài Gòn ít nhiều còn bị kiềm chế, nên các cuộc họp báo cũng tương đối thuận chiều, các nhà báo tập trung theo dõi các vấn đề rút quân, trao trả, Hiệp định dù sao cũng có được thi hành.

        Bước sang Ban Liên hợp quân sự hai bên, tình hình có đổi khác, thời kỳ "thực hiện" coi như đã qua, nay nổi lên hàng đầu cuộc đấu tranh giữa ta và đối phương tố cáo nhau vi phạm Hiệp định, trước hết là vi phạm ngừng bắn. Trong khi các hành động quân sự của họ được đẩy mạnh trên các chiến trường. Đoàn Sài Gòn tại bàn hội nghị trong thời gian đầu một mặt làm ra vẻ sốt sắng bàn bạc các vấn đề do Hiệp định đặt ra, mặt khác lớn tiếng vu cáo ta vi phạm ngừng bắn.

        Về phía các nhà báo, không ai không biết Nguyễn Văn Thiệu chẳng hề giấu giếm ý đồ phá hoại Hiệp định, nhưng cũng không nhiều người tin rằng ta thực sự tôn trọng ngừng bắn. Nhất là những người không cảm tình với Cộng sản và cách mạng thì không quan tâm nhiều đến việc phía Sài Gòn vi phạm, mà chủ tâm nhiều hơn đến những cái gọi là vi phạm của ta.

        Cuộc đấu tranh trên trận địa này, nhất là thời kỳ đầu Ban Liên hợp quân sự hai bên, thật không dễ dàng. Đối phương lại có ưu thế vật chất về bảo đảm ăn ở và tiện nghi nghiệp vụ để tranh thủ các nhà báo, về khả năng phương tiện thông tin đại chúng, về quyền của kẻ "chủ nhà".

        Mỗi lần có một sự kiện vi phạm hoặc được nêu là vi phạm Hiệp định mà nhập nhằng về nguyên nhân giữa ta và địch (và thường là nhập nhằng vì không ai có mặt ở hiện trường để làm chứng), nhiều nhà báo tìm cách moi móc vặn vẹo để tìm xem ta vi phạm như thế nào, đến mức nào.
---------------------
[1] Trích trong cuốn: "Ban Liên hợp quân sự và trại Đa-vít những tháng ngày..., " Nxb Quân đội nhân dân. H. 1997.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #164 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 07:21:20 am »

        Ngay mới mấy ngày đầu làm việc của Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương, phía Sài Gòn đã kêu to lên về việc cứ điểm Tống Lê Chân bị ta vây hãm. Ngày 7 tháng 4 năm 1973, lại xảy ra vụ Ly Tôn, một máy bay lên thẳng của ủy ban Quốc tế do người Mỹ lái từ Quảng Trị đi Lao Bảo (nơi có tổ Ủy ban Quốc tê) đã cố tình bay chệch khỏi hành lang quy định, thọc sâu vàn vùng căn cứ của ta, và bị rơi, chết hai sĩ quan In-đô-nê-xi-a, hai sĩ quan Hung-ga-ri, hai sĩ quan liên lạc của ta. Phía Sài Gòn lợi dụng vụ này vu cáo ta chống lại Ủy ban Quốc tế. Cuối tháng 6 năm 1973, việc Đoàn Ca-na-đa tuyên bố rút khỏi ủy ban Quốc tế cũng là cơ hội để họ rêu rao ta không hợp tác. Ngày 8 tháng 6 năm 1973 có vụ cháy nhỏ trên chuyến bay từ Hà Nội vào, ngày 22 tháng 9 năm 1973 ta đánh diệt đồn Lệ Minh (Chư Nghé - Gia Lai), ngày 12 tháng 10 năm 1973 ta thu hồi vị trí Bạch Mã (nam Thừa Thiên) bị quân Sài Gòn lấn chiếm, ngày 5 tháng 11 năm 1973 ta pháo kích sân bay Biên Hòa, ngày 3 tháng 12 năm 1973 kho xăng Nhà Bè bị đốt cháy, ngày 18 tháng 1 năm 1974 với sự kiện Hoàng Sa, và rất nhiều sự kiện khác xảy ra trên các chiến trường, là những dịp đối phương lợi dụng mối quan hệ chủ nhà với Ủy ban Quốc tế và bộ máy thông tin đại chúng đồ sộ để vu cáo ta hòng lấp liếm tội phá Hiệp định của mình. Ngoài số bồi bút và tay chân được họ cài vào giới báo chí, lúc đầu không ít nhà báo nước ngoài vốn đã không mấy thiện cảm với "Cộng sản" cũng cho là ta cũng vi phạm, chí ít thì cả hai bên đều cùng có lỗi. Những tin tức và bình luận họ đưa ra có lợi cho ta không nhiều.

        Do liên lạc qua điện thoại được với đoàn ta, ngoài các cuộc họp báo ra, các nhà báo thường gọi điện thoại cho sĩ quan báo chí ta hỏi về bất cứ điều gì họ muốn biết, câu hỏi để thật sự tìm hiểu sự thật cũng có, và cũng nhiều câu hỏi để thăm dò tình báo, để tìm sơ hở qua các nội dung trả lời. Về sau ta biết được là phía Sài Gòn đã tổ chức ghi trộm tất cả các cuộe đàm thoại đó, họ đã ra một bản tin mật dùng trong nội bộ, lấy tên là "Tin Bắc đẩư', ghi lại các câu hỏi và trả lời giữa các nhà báo và cán bộ đoàn ta hàng ngày. Để xử lý được tốt và không vấp váp trong loại tiếp xúc này, cán bộ báo chí của ta phải có tính nguyên tắc và tính kỷ luật chặt chẽ trong phát ngôn, lại phải có phong độ cởi mở cần thiết trong ứng xử, để giữ tốt quan hệ và dần dần tranh thủ được người ta, không thể khô khan cứng nhắc.

        Buổi đầu chưa có kinh nghiệm, trong một số sự việc nổi cộm lên ta cững có lúng túng trong việc xoay xở đối phó với cả ba phía: Ủy ban Quốc tế, phía Sài Gòn và giới báo chí, nhất là với những sự kiện quan trọng mà đoàn chưa nhận được sự chỉ đạo xử lý của cấp trên.

        Mới tuần đầu bắt tay vào việc đã đụng ngay phải vụ Ly Tôn, máy bay Ủy ban Quốc tế rơi, người của Ủy ban Quốc tế chết, lại Ở trong vùng kiểm soát của ta. Vụ này trở thành một sự kiện quan trọng mà ta phải đối phó vì liên quan đến vấn đề an toàn của Ủy ban Quốc tế. Phía Sài Gòn hí hửng được dịp vu cáo. Báo chí thì muốn biết có phải phía ta bắn không, mà bắn Ủy ban Quốc tế là vi phạm nghiêm trọng. Đoàn In-đô-nê-xi-a (được Đoàn Ca-na-đa ủng hộ mạnh mẽ) sốt ruột vì có người chết, đòi phải bảo đảm cho họ và ủy ban Quốc tế đến ngay tận nơi để tìm kiếm. Hai giờ sáng ngày 8 tháng 4 năm 1973, Đại sứ Trưởng đoàn In-đô-nê-xi-a yêu cầu Trưởng đoàn ta cấp tốc đến gặp, có cả viên phó đoàn phía Sài Gòn đã ngồi sẵn đó rồi- Ta bày tỏ thông cảm nỗi xót xa và sự sốt ruột của phía In-đô-nê-xi-a, nhưng việc này đột ngột, ta chưa đượe tin tức, nên chỉ có thể ghi nhận và tích cực tìm hiểu rồi mới có ý kiến được, còn việc tìm kiếm thì chỉ có lực lượng vũ trang và dân quân du kích cùng đồng bào ta tróng vùng mới đủ khả năng và điều kiện lùng sục để tìm kiếm đượe chính xác. Mấy hôm sau nhận được thông báo sự việc, biết tỏng cái trò của bọn CIA, nhưng làm sao có thể nói toạc ra được? Ta dựa vào pháp lý các điều thỏa thuận về hành lang bay mà chỉ trong đó ta mới có trách nhiệm bảo đảm an toàn, còn Ở đây máy bay đã cố ý đi quá xa hành lang quy định mà không phải do lầm lẫn. Ta biểu thị chân thành thông cảm với sự mất mát của các đoàn có người chết (trong khi ta cũng có hai sĩ quan hy sinh), tạo điều kiện cho họ đưa thi hài về Sài Gòn chu đáo. Tổ ủy ban Quốc tế Gio Linh (phụ trách khu vực trong đó có địa phương Ly Tôn) đi điều tra đã xác định là tổ lái chiếc máy bay lên thẳng đã không tuân thủ hành lang bay được quy định. Ngày 27 tháng 4 năm 1973, Ủy ban Quốc tế trung ương cũng phải chấp nhận những kết luận của tổ ủy ban Quốc tế Gio Linh. Trong sự kiện này Đoàn Hung-ga-ri đã tỏ rõ hiểu được ta, không hề có thái độ hoặc lời nới phàn nàn oán trách. Chúng ta hết sức trân trọng tấm lòng của bạn. Còn về phía Mỹ, đây là thêm một lần để họ biết thêm về ta, nên họ im thin thít. Một thời gian khá dài về sau có mấy đoàn trong Ủy ban Quốc tế đòi mở rộng hành lang bay, nhất là Đoàn Ca-na-đa đòi mở rộng ra 10km. Ta không nhân nhượng.

        Ngày 18 tháng 1 năm 1974, xảy ra vụ Hoàng Sa (lúc đó do quân Sài Gòn đóng giữ và bị đánh chiếm), thì sáng thứ bảy 19 tháng 1 có cuộc họp báo do trưởng đoàn ta chủ trì để kiểm điểm một năm thi hành Hiệp định. Hôm đó nhà báo đến dự rất đông, bọn tay sai đối phương đội lốt phóng viên cũng tăng lên nhiều. Họ không mấy chú ý đến vấn đề một năm Hiệp định mà đều đổ dồn vào chất vấn; moi móc thái độ ta về vụ Hoàng Sa này.

        Đây là một vấn đê rất tế nhị, phải chờ sự chỉ đạo của cấp trên, nên tạm thời ta chỉ nói chung: đất đai Tổ quốc là thiêng liêng, Hoàng Sa đang do phía "chính quyền Sài Gòn" quản lý nên phải hỏi trách nhiệm của họ, còn về phần ta chưa nhận được tin tức, khi nắm được sự việc rồi sẽ bày tỏ thái độ sau. Vài hôm sau ta nhận được chỉ thị về tuyên bố ba điểin của Chính phủ Cách mạng lâm thời:

       1 Vấn đề chủ quyền và toàn vẹn 1ãnh thổ 1à vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.

        2. Trong vấn đề biên giới 1ãnh thổ, các nước 1áng giẽng thường có sự tranh chấp do lịch sử để lại, có khi rất phức tạp cần được nghiên cứu và xem xét kỹ.

        3. Các nước có 1iên quan cần xem xét vấn đề này theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt, giải quyết vấn đề bằng thương lượng.

        Trước thái độ này, các nhà báo không còn đặt thêm vấn đề gì nữa.

        Trong điều kiện hoạt động độc lập xa cấp trên, lại với đặc biệt và tính chất của cuộc đấu tranh, cán bộ trong đoàn nhất là những đồng chí có trách nhiệm chính, phải có tính tổ chức kỷ luật cao, lại phải nắm vững được đường lối chủ trương của Đảng để biết linh hoạt chủ động khi cần thiết. Nói chung khi gặp những tình huống quan trọng và không bình thường, thường phải tranh thủ điện xin cho được chỉ thị, có hôm bước lên xe đi họp hoặc sắp đến giờ họp báo rồi mới nhận được trả lời. Cũng có trường hợp phải tự mình quyết định cách xủ trí tốt nhất, vì đoàn ở tại trận, thường xuyên tiếp xúc và hiểu các loại đối tượng hơn.

« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2012, 07:58:51 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #165 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 09:36:34 am »

        Khoảng cuối tháng 6 năm 1973 (đã ở thời kỳ Ban Liên hợp quân sự hai bên) một chiếc máy bay lên thẳng của phía Sài Gòn đi Lộc Ninh phục vụ chuyến liên lạc thường kỳ của ta, trên đường về phi công đột nhiên hạ cánh xuống bên rìa quốc lộ 13 đoạn Tân Khai (phía bắc Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương, nay thuộc Sông Bé), chỉ vào một lỗ thủng bên hông máy bay, nói với sĩ quan liên lạc của ta rằng đó là do súng trường của phía ta từ mặt đất bắn lên. Sĩ quan liên lạc Sài Gòn lấy phấn đánh dấu lỗ thủng, lập biên bản và yêu cầu sĩ quan liên lạc của ta ký. Sĩ quan của ta không ký, vì: máy bay kêu ồn không nghe được gì khác; không có gì chứng tỏ là máy bay vừa bị bắn; cho dù có vừa bị bắn cũng không có gì chứng minh là phía ta bắn vì ở đây xen kẽ cả vùng ta và vùng họ. Vụ việc được phía đối phương đưa ra phản đối liên tiếp tại các phiên họp trưởng đoàn và lấy cớ này họ đình chỉ cả mấy chuyến bay liên lạc về Lộe Ninh. Họ còn làm công hàm kiện với Ủy ban Quốc tế. Đoàn ta phải cân nhắc giữa hai thái độ: nhận hay không nhận. Sự thật là có vết đạn mới, trước khi hạ xuõng Tân Khai máy bay đã ra ngoài hành lang quy định (quốc lộ 13) và bay trái phép trên không phận vùng kiểm soát của ta thì việc quân du kích của ta có bắn lên cũng là ehính đáng và bình thường. Không nhận và để kéo dài vụ này không lợi, gây nghi ngờ cho Ủy ban Quốc tế và giới báo chí đối với sự trung thực của ta. Vào cuối một phiên họp Ban Liên hợp quân sự giữa tháng 7 năm 1973, đồng chí phó trưởng đoàn ta (đi họp thay trưởng đoàn) chính thức thông báo: Ta đã nhận được tin là quân du kích của ta có bắn chiếc máy bay lên thẳng vì nó đi ra khỏi hành lang bay quy định khá xa, và lâu nay thường có nhiều chiếc máy bay ngụy trang bằng ký hiệu Ban Liên hợp quân sự và Ủy ban Quốc tế đi ném bom và bắn phá vùng giải phóng của ta, gây thiệt hại về người và tài sản, ta cũng đã nhiều lần tố cáo. Đối phương bị bất ngờ không phản ứng được gì, từ đó họ không nhắc đến việc này nữa, và theo các Đại sứ Ba Lan và Hung-ga-n trong Ủy ban Quốc tế, họ cũng rút đơn kiện ở Ủy ban.

        Một điều đáng chú ý là mọi động thái giữa đoàn ta với Đoàn Sài Gòn và với Ủy ban Quốc tế đều được giới báo chí theo dõi sát, đưa tin và bình luận.

        Thái độ đàng hoàng chính trực của ta trong trường hợp trên đây (cũng như trong một số trường hợp khác tương tự) đã bịt miệng những kẻ muốn nói xấu và được những người trung thực trong giới báo chí đồng tình.

        Ta có sức mạnh chính nghĩa, ta có thể mạnh pháp lý Hiệp định và từng bước thêm kinh nghiệm nên trong các sự kiện xảy ra ta đều có cách giải thích hợp tình hợp lý với thái độ thật sự tôn trọng dư luận. Bên cạnh đó còn có một yếu tố tâm lý tuy không lớn nhưng cũng có phần tác động của nó: để cùng đối phương phối hợp thi hành Hiệp định mà bốn bên đã cùng ký kết, eác đoàn đại biểu của ta.phải vào sống và hoạt động trong vùng kiểm soát của phía Sài Gòn. Những thủ đoạn và hành động của họ lợi dụng tình hình này để gây sức ép ngăn cản và hạn chế các hoạt động hình thường của ta đều bị các đoàn trong Ủy ban Quốc tế và các nhà báo chân chính chê trách.

        Về phía đối phương, bằng cả lời nới và hành động Nguyễn Văn Thiệu ngày càng tỏ rõ bất chấp Hiệp định Pa-ri, không giấu giếm ý đồ "đánh bật lực lượng Cộng sản còn xử sự với nhà báo thì của quyền hách dịch, khi không lợi cho mình thì không ngần ngại đưa ra những hạn chế trắng trợn mà không nước nào áp dụng với báo chí: cản trở không cho vào dự họp báo của đoàn ta, cắt liên lạc điện thoại của họ với ta- Từ ngày 13 tháng 4 đến ngày 1 tháng 6 năm 1974, trong tám tuần liền họ phá không để các cuộc họp báo của ta thực hiện được. Đó là chưa kể trong nhiều thời gian khác thỉnh thoảng họ lại ngăn cản một cuộc mà không cần nêu lý do gì cả. Họ còn có những hành động thô bạo xúc phạm khác: ngày 6 tháng 7 năm 1973 trục xuất đại diện báo Asahi Shimbun của Nhật vì đã dám nói lên sự thật "Việt Nam cộng hòa còn giam giữ hàng trăm ngàn tù chính trị”. Nghiêm trọng hơn, đầu năm 1975 cảnh sát Sài Gòn đã bắn chết nhà báo Pháp Paul Léandry ngay tại trước cửa văn phòng cảnh sát vì đưa tin không lợi cho chế độ Sài Gòn và cãi lại cảnh sát khi bị chất vấn.

        Chính vì những lẽ đó, càng ngày các nhà báo càng thấy rõ bộ mặt thật và ý đô phá Hiệp định có hệ thống của tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu, dần dần hiểu được và đồng tình với thái độ và hành động của ta, nếu không thì cũng tỏ ra thông cảm. Các bản tin và bình luận có lợi cho ta ngày càng nhiều hơn. Các nhà báo tỏ thiện cảm với ta cũng tăng lên. Ban chấp hành Hội nhà báo nước ngoài Ở Sài Gòn đã xin vào trại Đa-vít chào trưởng đoàn ta và bày tỏ cảm tình với đoàn. Trong một buổi họp báo, đến giờ giải lao một nhà báo Mỹ đến gặp đồng chí Thượng tá Dương Đình Thảo (ủy viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời chủ trì cuộc họp báo) trao một hộp bánh và nói: "Tôi biết các ông và nhân dân Việt Nam kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi không đem hoa đến được vì sẽ bị chính quyền Sài Gòn ngăn cản và gây khó khăn cho hoạt động nghề nghiệp của tôi. Mong các ông thông cảm và nhận, chúc vui vẻ trong ngày kỷ niệm ". Cũng trong dịp này có cặp vợ chồng nhà báo nước ngoài khác nán lại sau buổi họp báo để kín đáo tặng quà mừng ngày sinh của Hồ Chủ tịch. Có nữ phóng viên nướe ngoài mượn dịp dự họp báo để bí mật trao cho ta danh sách một số tù chính trị của ta bị phía Sài Gòn giam giữ. Nhiêu phóng viên nước ngoài xin được đl thăm vùng giải phóng, đã được ta tổ chức cho đi và khi về họ đã đưa tin và viết bài khá tốt. Một số người hết hạn trước khi về nước tìm cớ cố xin gặp trưởng đoàn ta chào từ biệt và nói những lời tốt đẹp.

        Cùng với những lẽ trên, sự thay đổi so sánh lực lượng và thế trận trên chiến trường đã là nhân tố quyết định sự chuyển biến một khối dư luận rộng rãi như vậy. Ai cũng biết Thiệu là kẻ gây sự trước ngay từ sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết. Ta ở hoàn cảnh buộc phải đánh trả để giữ vững những gì đã đạt được, lúc đầu cũng có gây hiểu lầm hoặc sự cố ý không đồng tình của một số nhà báo, nhưng rồi tình hình dần dần đổi khác. Cả thế và lực của ta trên chiến trường đều mạnh, càng lấn chiếm quân địch càng thua. Ta đánh trả đến một lúc thấy đã có sự chuyển hướng trong đánh giá của dư luận thì ngày 15 tháng 10 năm 1973, Bộ chỉ huy lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam công bố mệnh lệnh đánh trả vi phạm. Sau đó ta tuyên bố tiếp thêm là không chỉ đánh trả tại nơi vi phạm mà còn giành quyền trừng trị tại những nơi xuất phát.

        Sau các tuyên bố đó, ta đã pháo kích sân bay Biên Hòa (5-11-1973), đốt cháy kho xăng Nhà Bè (3-12-1973) và tiếp đó tiến lên diệt nhiều cứ điểm, chi khu và quận lỵ trên cả các hướng.

       Kho xăng Nhà Bè cháy rực liền mấy ngày đêm, thiệt hại rất nặng, gây xôn xao dư luận. Các nhà báo tới tấp gọi điện thoại hỏi sĩ quan báo chí đoàn ta. Tất nhiên "ta còn chờ tìm hiểu tin tức". Với trách nhiệm của người tại chỗ, đối diện với dư luận và đã có kinh nghiệm về tâm lý các nhà báo, phải trả lời thế nào đây cho hợp thực tiễn và có tính thuyết phục, không để người ta nghĩ là mình chối sự thật cũng không cho phép để người ta cho là mình vi phạm Hiệp định. Sự kiện lớn quá, khó đổ cho rủi ro hoặc phá hoại nội bộ, vả lại chiến công của anh em đặc công biệt động của ta rực rỡ quá, ta lại có thế mạnh "mệnh lệnh đánh trả" trong tay, thì việc gì phải tránh né? Đoàn ta bàn và chủ trương trả lời trong cuộc họp báo: Đúng là do quân ta đánh, thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam về việc đánh trả vi phạm đã được công bố ngày 15 tháng 10 năm 1973, sau đó được nói rõ thêm là không chỉ đánh trả tại chỗ mà còn giành quyền trừng trị tại các nơi xuất phát vi phạm. Nghe xong nhiều nhà báo nước ngoài gật gù và không ai hỏi thêm gì nữa.

        Tại một phiên họp Trưởng đoàn Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương sau đó, do đã biết thái độ của ta nên Đoàn Sài Gòn không đề cập đến, chỉ đến lúc giải lao, ngồi trong phòng nghỉ chung Phan Hòa Hiệp (Trưởng đoàn) mới chặc lưỡi than phiền "các vị chơi cú Nhà Bè ác quá, chúng tôi đau lắm". (Theo lệ từ thời Ban Liên hợp quân sự bốn bên, các phiên họp thường có nghỉ giải lao giừa chừng, các đoàn cùng sang một phòng nghỉ chung, uống nước, thư giãn và nói chuyện với nhau).

        Bị đánh ngày càng đau, Nguyễn Văn Thiệu lồng lộn lên, ra lệnh ném bom liên tiếp các khu giải phóng, huy động cả hải lục không quân đi đánh phá, và trả đũa vào hai đoàn đại biểu của ta tại Tân Sơn Nhất, phá các phiên họp liên hợp cắt điện thoại, cấm cung cấp báo chí cho ta, ngăn cản họp báo, đồng thời kêu gào thế giới lên án, nhưng sự hưởng ứng quốc tế ngày càng teo lại, Ủy ban Quốc tế cũng chăng thể làm gì được đế có những kết luận nhất trí cả bốn thành viên.

        Một điều có vẻ nghịch lý mà lại cũng lý thú là nếu trong buổi đầu của Ban Liên hợp quân sự hai bên, chỉ một vài hành động quân sự nhỏ với tính chất tự vệ chính đáng của ta cũng bị báo chí phanh phui phê phán cật vấn đủ điều, về sau này càng ngày ta càng đánh trả mạnh trên chiến trường thì ngược lại các bản tin và bình luận được tung ra bốn phương thế giới lại có tác dụng tuyên truyền có lợi cho ta nhiều hơn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #166 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 09:38:10 am »

         Ngày 22 tháng 3 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố sáu điểm đòi phải giải quyết gắn liền bốn vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau là ngừng bắn, tự do dân chủ, thành lập Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc đi đến tổng tuyển cử tự do. Về trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự bị bắt, phải hoàn thành trong vòng ba tháng, chậm nhất là 30 tháng 6 năm 1974. Đặc biệt nhân viên quân sự và dân sự bị bắt trước ngày 28 tháng 1 năm 1973 còn giam giữ thì phải trao trả không chậm trễ.

        Ngày 23 tháng 3 năm 1974, trưởng đoàn ta họp báo phổ biến tuyên bố nói trên, các nhà báo chủ yếu chỉ hỏi cho rõ ý ta, sau đó đưa tin và bình luận khá khách quan.

        Ngày 12 tháng 4 năm 1974, địch rút chạy khỏi đồn Tõng Lê Chân, từ đó phía Sài Gòn lại bắt đầu một đợt phản ứng trả đũa mới tương đối dài: phá rối trong các phiên họp Ban Liên hợp quân sự (cả cấp Trưởng đoàn và Tiểu ban), cướp lời, nói năng thô lỗ, bỏ họp nửa chừng; oanh tạc Lộc Ninh, Lộc Tấn và nhiều địa điểm khác trong vùng giải phóng, cắt các cuộc họp báo của ta trong tám tuần liên tục từ 13 tháng 4 đến ngày 1 tháng 6 năm 1974, cắt điện thoại, cắt các chuyến bay đi Lộc Ninh.

        Trước tình hình đó, trong phiên họp trưởng đoàn ngày 10 tháng 5 năm 1974 ta đến trao bản tuyên bố đình chỉ họp Ban Liên hợp quân sự hai bên cho đến khi họ chấm dứt phá hoại, khôi phục đầy đủ các quyền ưu đãi miễn trừ. Ngày 30 tháng 5 năm 1974, tại Tổ Liên hợp quân sự bốn bên Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời và Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng tuyên bố đình họp không thời hạn. Có thể việc này chạm trực tiếp đến lợi ích của Mỹ, cộng với sự công phẫn và đấu tranh của giới nhà báo nên ngày 7 tháng 6 năm 1974 viên trưởng đoàn phía Sài Gòn gửi công hàm cho trưởng đoàn ta hứa khôi phục chuyến bay Lộc Ninh, nối lại điện thoại, để ta thực hiện các cuộc họp báo, và đề nghị họp lại Ban Liên hợp quân sự.

        Sáng 8 tháng 6 năm 1974, đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn tổ chức lại cuộc họp báo sau tám tuần bị đứt quãng, hội trường lại đông đúc trong đó có 54 nhà báo nước ngoài. Ngày 11 tháng 6 năm 1974, phiên họp Trưởng đoàn được nối lại, phía Sài Gòn tỏ thái độ đấu dịu, ta đòi phải ký kết lại văn bản bảo đảm về các quyền ưu đãi miễn trừ, họ cũng chấp nhận. Ngày 13 tháng 6 năm.1974, chuyến bay liên lạc đi Lộc Ninh được khôi phục, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên cũng họp lại.

        Nhưng tình hình này diễn ra không lâu. Bị Mỹ ép, phía Sài Gòn phải tạm nhân nhượng nhưng vẫn tìm cách cưỡng lại.

        Tại cuộc họp trưởng đoàn ngày 18 tháng 6 năm 1974 họ bác bỏ bản dự thảo của ta về các quyền ưu đãi miễn trừ. Tại Tổ Liên hợp quân sự bốn bên viên đại diện Sài Gòn còn láo xược ném trả lại.

        Ngày 20 tháng 6 năm 1974, hải quân Sài Gòn bắn chìm chiếc tàu vận tải của Việt Nam dân chủ cộng hòa LC174 trên vùng biển quốc tế. Trong phiên họp ngày 21 tháng 6 năm 1974, viên trưởng đoàn Sài Gòn giành nói mấy giờ liền để phá cuộc họp.

        Tình hình đã rõ rệt là không còn khả năng đạt được kết quả gì tích cực tại bàn hội nghị nữa, ngày 22 tháng 6 năm 1974, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng 1âm thời tuyên bố đình chỉ họp Ban Liên hợp quân sự hai bên vô thời hạn. Ngày 8 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam, đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc của miền Nam Việt Nam, đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hòa bình hòa hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Pa-ri, đồng thời cũng tuyên bố chính thức đình chỉ mọi cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự hai bên và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, rút khỏi diễn đàn La Celle Saint Cloud ở Pháp. Ngày 11 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng ra tuyên bố tương tự.

        Thế là từ nay không còn hoạt động chung liên hợp và trực tiếp tiếp xúc chính thức giữa hai bên nữa. Do thế mạnh chính trị, ngoại giao và pháp lý của ta trong một bối cảnh chung tương đối thuận lợi, hai đoàn ta vẫn ở lại trại Đa-vít và tiếp tục hoạt động sôi nổi qua việc giữ quan hệ làm việc bình thường với Ủy ban Quốc tế, với hai đoàn bạn, nhất là tăng cường liên hệ với các nhà báo, và chính họ cũng muốn tăng cường liên hệ với ta.

        Lúc này bên Mỹ cũng đang gặp rối rắm chính trị: ngày 9 tháng 8 năm 1974, Ních-xơn phải từ chức nửa chừng do vụ Watergate; ngày 10 tháng 8 năm 1974, Garald Ford nhậm chức tống thống, tất nhiên phải tiếp tục chính sách và thái độ của Mỹ về Việt Nam đã được xác định từ khi ký Hiệp định Pa-ri, lại với tư thế của một người mới nắm việc, phải thận trọng trong từng bước đi.

        Nguyễn Văn Thiệu căm tức, những muốn tống các đoàn của ta đi, nhưng không còn mạnh và có thể làm gì được trái với lợi ích và sự khống chế của Mỹ. Họ ra sức cản trở hạn chế các hoạt động của hai đoàn ta, trước hết là cắt các chuyến bay liên lạc về Lộc Ninh: trong bảy tuần cuối năm 1974 họ cắt bốn chuyến, từ tháng 1 năm 1975 trong 18 tuần (cho đến tuần thứ tư tháng 4 năm 1975) họ chỉ thực hiện hai chuyến vào giữa tháng 1 năm 1975. Từ 20 tháng 1 năm 1975 trở đi họ hoàn toàn không bảo đảm cho ta đi về Lộc Ninh nữa. Tuy nhiên trong hai ngày 15 tháng 4 và 17 tháng 4 năm 1975 có hai chuyến máy bay lên thẳng đặc biệt của ủy ban Quốc tế vào Lộc Ninh để giải quyết việc ta trao trả một sĩ quan In-đô-nê-xỉ-a và một sĩ quan I-ran thuộc tổ Buôn Ma Thuột bị quân ta giừ từ ngày 11 tháng 3 năm 1975 khi giải phóng thị xã này. Ta cử người kết hợp đi nhờ hai chuyến bay đó, và trong hai chuyến này giải quyết được rất nhiều chuyện liên quan đến công việc chuẩn bị của đoàn ta trước ngày mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh. Với chuyến bay đi Hà Nội (do Mỹ chịu trách nhiệm), phía Mỹ thỉnh thoảng cũng làm khó dễ để xoa dịu Thiệu nhưng chỉ cắt vài chuyến với lý do kỹ thuật, còn thì việc liên lạc với Hà Nội nói chung vẫn được bảo đảm đến giữa tháng 4 năm 1975. Và như vậy ta vẫn không bị cắt cầu nối với hậu phương.

        Đối phương còn cố hạn chế việc ta đi lại với các đoàn Ủy ban Quốc tế là liên lạc với các nhà báo, nhưng việc này khó khăn hơn nhiều vì đây là vấn đề thái độ ngoại giao quốc tế của họ trong khi hơn bao giờ hết họ rất cần sự đồng tình, ít nhất cũng là sự quan tâm của dư luận thế giới đối với số phận của họ. Các đoàn trong Ủy ban Quốc tế rất cần giữ liên lạc với ta để theo dõi diễn biến tình hình nên có thể nói hàng ngày, có ngày nhiều lần, luôn luôn có đại diện của đoàn này hay đoàn khác vào tiếp xúc và làm việc với ta. Việc các trưởng đoàn ta đi vào thành phố gặp các đại sứ trong Ủy ban Quốc tế hoặc đi dự chiêu đãi tuy cũng gặp nhiều cản trở, nhưng không thể bị ngăn cản hoàn toàn.

        Còn về phía báo chí thì đây là thời kỳ họ có cơ hội làm ăn và lập công nhiều nhất, đưa những tin nóng hổi nhất, những phỏng đoán phong phú nhất và những bình luận sôi nổi nhất về tình hình đang chuyển biến từng ngày trên toàn miền Nam Việt Nam. Vì vậy họ rất sốt sắng giữ chặt liên lạc với ta.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #167 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 09:41:07 am »


*

*          *

        Ngày 6 tháng 1 năm 1975, ta tấn công thị xã Phước Long (nay thuộc Sông Bé) và núi Bà Đen (thuộc tỉnh Tây Ninh). Đây là trận đánh lớn đầu tiên giải phóng một tỉnh ly cách Sài Gòn không xa. Trận này có tác dụng thử sức ta và sức quân Sài Gòn trong việc đánh các thị xã thành phố, thăm dò phản ứng của Mỹ và dư luận quốc tế. Cả ba mặt đều thuận lợi. Tiếp theo một loạt các trận đánh khác vào chi khu quận lỵ, ngày 10 tháng 3 năm 1975 ta đánh thị xã Buôn Ma Thuột, chính thức mở đầu chiến dịch xuân - hè 1975.

        Một điều rất thú vị là từ ít lâu nay, nhiều nhà báo nước ngoài thường gọi điện thoại báo cho đoàn ta ở Tân Sơn Nhất biết tin về các trận đánh lớn ở các chiến trường, họ có phương tiện thuận lợi giúp nắm tin được sớm, nên đoàn ta thường nhận được tin thắng trận trước khi nhận được điện thông báo của cấp trên. Lần này cũng vậy, khoảng 10 giờ 30 ngày 11 tháng 3 năm 1975 một phóng viên Nhật đã gọi điện thoại cho sĩ quan báo chí ta cho biết là Buôn Ma Thuột bị đánh và có thể đã thất thủ rồi. Có lẽ đoàn ta ở trại Đa-vít là một trong số ít nơi xa mà biết được tin thắng lợi ở Buôn Ma Thuột sớm như vậy.

        Từ đó về sau nhiều nhà báo tự mình chủ động cung cấp cho ta những tin mới nhất ở chiến trường mà không hề chất vấn hoặc thắc mắc điều gì.

        Đây là thời kỳ vui sướng nhất của anh chị em ta ở trại Đa-vít, bởi vì nhiệm vụ cơ bản và khó khăn nhất là tranh thủ dư luận đã được thực hiện có kết quả, còn thắng lợi liên tục ở chiến trường thì đặt ra hy vọng (không ai nói ra lời nhưng đều hiểu cả lòng nhau) là ngày càng gần đến lúc được trở về với hậu phương, với gia đình, với tự do theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó.

        Và thế là kể từ chiến thắng Buôn Ma Thuột đã hình thành một tục lệ vui vẻ là hễ ta giải phóng một thị xã hay thành phố nào thì Ban Hậu cần (phối hợp chung cả hai đoàn) lại tổ chức một bữa tiệc (cũng chỉ dùng kinh phí trong tiêu chuẩn sinh hoạt thôi, vì được cấp trên chu cấp khá cao), có bia rượu, để cùng biểu thị niềm hân hoan vô hạn, với kỷ luật nghiêm ngặt là không được uống say.

        Thời gian từ 10 tháng 3 đến 17 tháng 4 năm 1975 không dài, nhưng đã diễn ra biết bao nhiêu sự kiện phấn khởi liên tục: 17 tháng 3 dứt điểm thị xã Kon Tum; 18 tháng 3 giải phóng thị xã Plây Cu và tỉnh Gia Lai; 19 tháng 3 Cheo Reo và tỉnh Phú Bổn (nay thuộc Gia Lai); 20 tháng 3 An Lộc và tỉnh Bình Long (nay thuộc Sông Bé); 24 tháng 3 thị xã và tỉnh Quảng Ngãi, thị xã Gia Nghĩa và tỉnh Quảng Đức (nay thuộc Đắc Lắc); 26 tháng 3 Huế và tỉnh Thừa Thiên; 27 tháng 3 Tam Kỳ và tỉnh Quảng Tín (nay thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng); 28 tháng 3 Hội An (Quảng Nam); 29 tháng 3 giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng; 1 tháng 4 thành phố cảng Quy Nhơn và tỉnh Bình Định, Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên; 3 tháng 4 Đà Lạt và tỉnh Tuyên Đức (nay thuộc Lâm Đồng), Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa; 17 tháng 4 Phan Rang và tỉnh Ninh Thuận.

        Bị thất trận dồn dập, đội hình rút chạy rối loạn từ Tây Nguyên xuống, từ miền Trung vào, địch không có thì giờ để dùng điện mật nữa, phải dùng điện rõ để báo cáo từ dưới lên và ra lệnh từ trên xuống. Bộ phận vô tuyến điện kỹ thuật của Đoàn A đã có cơ hội theo dõi sát tình hình qua mạng điện đàm đó, giúp cho đoàn báo cáo kịp thời lên cấp trên những tin tức mình nắm được.

        Ở Cam-pu-chia, ngày 12 tháng 4 sứ quán Mỹ rút khỏi Phnôm Pênh, và ngày 17 tháng 4 năm 1975 quân kháng chiến giải phóng hoàn toàn thủ đô Phnôm Pênh (tiếc rằng sau đó bọn Pôn Pốt lấy oán trả ân, chuyển bạn thành thù quay lại đánh ta và dìm dân tộc Cam-pu-chia dưới chế độ diệt chủng gần bốn năm liền cho đến mùa xuân 1979).

        Trong suốt thời gian tháng 3 và tháng 4 năm 1975 ta liên hệ càng chặt chẽ và thường xuyên với các nhà báo, và ngày thứ bảy 26 tháng 4 năm 1975, trùng hợp ngẫu nhiên với ngày mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí Võ Đông Giang đã chủ trì phiên họp báo cuối cùng bốn ngày trước khi Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng.

        Điều tưởng như ngược đời là nếu trước đây phía Sài Gòn hậm hực tìm mọi cách ngăn cản sự tiếp xúc của ta với báo chí và phá các cuộc họp báo, thì trong hai tháng cuối này họ lại để thông suốt điện thoại và để các nhà báo dễ dàng vào trại Đa-vít hàng tuần, kèm theo rất nhiều "nhà báo" người Việt Nam. Hóa ra trước thất bại liên tục của quân Sài Gòn và xu thế tấn công của ta, Mỹ - Thiệu phải tận dụng mọi biện pháp và cơ hội - trong đó mối quan hệ của đoàn ta với các nhà báo là một yếu tố quan trọng để tìm hiểu ý đồ của ta. Đặc biệt trong 3 phiên họp báo cuối cùng, phòng họp chật cứng vì người dự rất đông, phỉên nào cũng trên trăm. Người trung thực cũng như những kẻ đến điều tra cho Mỹ - Thiệu, ai cũng cố tìm hiểu xem ta sẽ đánh đến đâu, có tấn công vào Sài Gòn không, có thương lượng nữa không. Một chi tiết đáng nói nữa là trong hai phiên 19 và 26 tháng 4 năm 1975, có một "phóng viên" người Pháp tên Vanuxem của báo Ngã tư (Carrefour) nguyên là thiếu tướng chỉ huy lực lượng Com-măng-đô (biệt động quân) của Pháp tại miền Bắc hồi chiến tranh Đông Dương của Pháp. Trong thời gian sôi động nhất tại chiến trường từ tháng 2 năm 1975, chính Vanuxem tự nguyện hô hào phía Sài Gòn tổ chức lữ đoàn biệt kích "để đánh Việt cộng". (Tên này còn ở lại Sài Gòn sau 30 tháng 4 năm 1975 và định dự cuộc họp báo ra mắt của ủy ban Quân quản ngày 7 tháng 5 năm 1975, nhưng một số phóng viên Pháp phản đối và yêu cầu ta không phân phối giấy mời cho hắn).

        Sau khi Sài Gòn được giải phóng, các cơ quan thông tin bưu điện của Sài Gòn tan rã, tin tức bài vở của nhà báo không phát đi được. Sáng 1 tháng 5 năm 1975 một phóng viên nước ngoài đã có sáng kiến trương trên xe một lá cờ lớn xanh đỏ có ngôi sao vàng (cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời) cùng với một tấm biến "nhà báo" xin vào trại Đa-vít cho kỳ được, vừa chúc mừng ta thắng lợi vừa nhờ ta giúp phát bài đi bằng telex và vô tuyến điện để được sốt dẻo. Một số nhà báo khác cũng bắt chước tiếp tục vào theo. Cảnh tượng nhộn nhịp tưng bừng thật khó quên...

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #168 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 09:43:49 am »


HIỆP ĐỊNH PA-RI
VÀ SỰ TAN RÃ Ý CHÍ
CỦA QUÂN ĐỘI NGỤY SÀI GÒN
TƯ TlÊN                      
                     
         Tháng 4 năm 1975... Trong trận chiến đấu ở Phan Rang, tướng ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi bị quân giải phóng bắt làm tù binh và được đưa cấp tốc về hậu phương để lấy cung, kịp thời phục vụ làm kế hoạch tác chiến giải phóng Sài Gòn. Tôi được giao nhiệm vụ cùng tham gia làm việc với tướng Nghi để tìm hiểu tình hình có liên quan đến mặt công tác an ninh khi quân giải phóng tiến vào giải phóng Sài Gòn. Nhân lúc nghỉ giải lao, tôi đọc báo "Quân đội nhân dân" để thông báo tin tức chiến sự cho tướng Nghi rõ. Lúc này đang có cuộc đọ sức quyết liệt giữa quân giải phóng và quân đội ngụy Sài Gòn Ở mặt trận Xuân Lộc. Khi nghe tin tức chiến sự, tướng Nghi bỗng nhiên thở dài thốt ra miệng: "Lúc này mọi sự kháng cự chỉ uổng công vô ích. Trong hàng ngũ tướng lĩnh chúng tôi đã cảm nhận được sự thất bại kể từ sau khi ký kết thỏa hiệp Pa-ri. Tháng 1 năm 1973". Nhân đó tôi hỏi tướng Nghi: Các anh đánh giá thế nào về Hiệp định Pa-ri?

        Tướng Nghi nói: "Trong thỏa hiệp Pa-ri tuy có nhiều điều khoản khác nhau, nhưng rút lại chỉ có một điều khoản quan trọng nhất là: Mỹ rút lui để dổi lấy tù binh Mỹ và quân đội miền Bắc được hợp pháp hóa ở lại miền Nam. Từ đó, làm thay đổi hẳn cục diện chiến trường. Tuy biết vậy, nhưng ông Thiệu vẫn buộc lòng phải ký. Vì Mỹ đã quyết định rồi… thì ông Thiệu cưỡng sao nổi... Và suy đến cùng thì cả ông Ních-xơn cũng không còn con đường nào khác nữa. Vì chiến tranh đã đi vào nội tình nước Mỹ, nhân dân Mỹ không chấp nhận nữa rồi. Sau khi ký kết thoả hiệp Pa-ri, trong một cuộc họp giữa ông Thiệu và các tướng lĩnh. ông Thiệu bị các tướng lĩnh chất vấn, có người nêu câu hỏi: Mỹ rút rồi… sau này Việt cộng nó lại tổng tiến công nổi dậy nữa thì ông tổng thống tính sao?

        Ông Thiệu phân giải… nói: Tôi đã được sự bảo đảm từ chính Tổng thống Ních-xơn... Nếu xảy ra như vậy, thì quân Mỹ lại nhào dô liền à... Có gì mà các ông phải lo...".

        Nghe ông Thiệu giải thích, bề ngoài các tướng lĩnh không ai có ý kiến gì nhưng trong thâm tâm mọi người vẫn suy đoán ngược lại: Mỹ đã chọn con đường tháo lui rồi, làm sao mà dám quay trở lại nữa. ông Thiệu nói như vậy, cất để làm yên lòng các tướng lĩnh chứ làm gì có chuyện quân Mỹ lại nhào dô liền... ông Thiệu đã tự dối mình và dối cả cấp dưới... Từ đó, tôi có cảm nghĩ rằng: Ý chí chiến đấu của quân đội chúng tôi (tức quân đội nguy Sài Gòn) đã bắt đầu tan rã từ sau khi ký kết thỏa hiệp Pa-ri rồi. Con đường dẫn đến thất bại hoàn toàn, nay đang diễn ra đúng như chúng tôi đã dự đoán.


 
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2012, 11:40:02 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #169 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 11:42:58 am »


MỘT PHIÊN HỌP ĐẶC BIỆT
HAI BÀI PHÁT BIỂU: HAI BẢN CÁO TRẠNG

NGUYÊN HÙNG ĐÀO        

     Nguyên sĩ quan Báo chí của Phái đoàn Chính phủ Câch mạng lâm thời ghi lại phiên họp cuối cùng của Ban Liên hợp quán sự bốn bên trung ương.          
        
        Một trong những sự kiện đặc biệt được dư luận, nhất là dư luận trong nước quan tâm là cuộc họp cuối cùng của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương ngày 28 tháng 3 năm 1973. Nó đặc biệt vì nó khác hẳn so với tất cả các phiên họp khác trước và sau nó. Đó là phiên họp với hai bài phát biểu như hai bản cáo trạng "luận tội đối phương vi phạm có hệ thống và rất nghiêm trọng Hiệp định Pa-ri về Việt Nam và các Nghị định thư kèm theo. Có người còn bảo rằng đó là phiên họp rất đặc biệt vì hầu như mọi người dự phiên họp này đều có chung một cảm giác rằng: phía ta, Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Đoàn đại biếu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là chủ tọa của phiên tòa, đọc hai bản "cáo trạng" kịch liệt lên án phía Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn vi phạm hầu hết các điều khoản của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam; còn phía Mỹ và nguy quyền Sài Gòn như những "bị cáo" ngậm đắng nuốt cay, buộc phải ngồi ghe sự phê phán nghiêm khắc của đối phương.

        Trước khi chính thức họp, phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, quay phim và vô tuyến truyền hình đã được vào ghi hình của phiên họp cuối cùng này.

        Đánh giá tình hình hoạt động của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trong 2 tháng qua, Trung tướng-Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Trần Văn Trà, nêu rõ:

        “Trong 60 ngày qua, Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã làm hết sức mình trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên với thiện chí và lòng mong muốn các điều khoản của Hiệp định được nghiêm chỉnh và triệt để thực hiện.

        Trái lại trong thời gian qua, phía Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn đã cố tình vi phạm và phá hoại có hệ thống và rất nghiêm trọng những điều khoản cơ bản và cấp bách nhất của Hiệp định. Họ chỉ thi hành những điều khoản có lợi cho họ và những điều khoản bắt buộc họ phải thi hành.

        Như mọi người đều biết, vấn đề khẩn thiết nhất phải được thực hiện là ngừng bắn, đình chỉ chiến sự, chấm dứt chiến tranh. Về phần mình, các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam đã nghiêm chỉnh thực hiện các điều khoản ngừng bắn. Song, trái lại, được sự ủng hộ và đồng tình của Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục chiến tranh tạo nên một tình hình hết sức căng thẳng và vô cùng nguy hiểm ở miền Nam Việt Nam. Cho đến nay, nhân dân miền Nam Việt Nam chưa được hưởng một ngày hòa bình mà còn phải chịu không biết bao nhiêu đau thương tang tóc.

        Đối với các điều khoản của Hiệp định và Nghị định thư mà Hoa Kỳ có nghĩa vụ và trách nhiệm phải trực tiếp thi hành họ cũng vi phạm và chưa nghiêm chỉnh thực hiện. Hoa Kỳ đã chấm dứt các hoạt động quân sự trực tiếp của họ Ở miền Nam, rút quân Hoa Kỳ và quân đồng minh nước ngoài của Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Song họ không mang đi vũ khí và phương tiện chiến tranh, không chịu phá huỷ căn cứ quân sự. Họ đã chuyển nhiều nhân viên quân sự trá hình thành nhân viên dân sự. Họ đã ngang nhiên tuồn vũ khí và phương tiện chiến tranh một cách trái phép vào miền Nam Việt Nam. Rõ ràng là Hoa Kỳ vẫn tiếp tục dính líu về quân sự ở miền Nam Việt Nam dưới nhiều hình thức.

        Về tự do dân chủ, ngay cả trong việc thông thường nhất như tự do đi lại làm ăn sinh sống, chính quyền Sài Gòn cũng không chịu thi hành một điều khoản nào.

        Họ đã ráo riết thực hiện chương trình "Bình định", mở hàng vạn cuộc hành quân càn quét, vây ráp, bắt bớ, kìm kẹp, khủng bố tàn sát nhân dân, đàn áp vô cùng man rợ những người hoạt động ủng hộ hòa bình, đòi tự do dân chủ và hòa hợp dân tộc.

        Cho đến nay, chính quyền Sài Gòn chưa chịu trao trả một nhân viên dân sự nào trong số hàng chục vạn người mà họ đang giam giữ. Hoặc đưa ra xử án hàng loạt một cách trái phép, chuyển nhân viên dân sự thành thường phạm để dễ bề thực hiện âm mưu đen tối của họ. Vì họ mà đến nay, hàng chục vạn gia đình Ở miền Nam Việt Nam còn sống trong cảnh chia ly đau khổ, chưa được đoàn tụ.

        Chính quyền Sài Gòn còn gây nhiều khó khăn trong viêc trao trả các nhân viên quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Họ còn tìm cách giấu người không chịu trao trả hết.

        Họ đã có nhiều hành động ngang ngược, phá hoại việc triển khai và hoạt động của Ban Liên hợp quân sự bốn bên và gây khó khăn trở ngại cho hoạt động của Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

        Những hành động vi phạm và phá hoại đó đã phơi bày rõ ràng dã tâm và âm mưu của họ tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Hoa Kỳ Ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.

        Từ trước đến nay, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam luôn tỏ rõ thiện chí và hết sức tự kiềm chế trước những hành động vi phạm, phá hoại Hiệp định của phía Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn".

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM