Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:19:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315302 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #170 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 11:45:13 am »

        Trung tướng Trần Văn Trà đòi Chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn đình chỉ mọi hoạt động vi phạm và phá hoại Hiệp định phải tôn trọng và triệt để thi hành tất cả các điều khoản của Hiệp định. Chính quyền Sài Gòn phải đảm bảo cho Ban Liên hợp quân sự hai bên mọi điều kiện như đã quy định trong Điều 26 và 17 của nghị định thư về các Ban Liên hợp quân sự và thực hiện đúng những điều đã thoả thuận trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên về vấn đề này để tổ chức này có thể triển khai nhanh chóng và hoạt động có hiệu lực. Phải hợp tác và giúp đỡ Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thực hiện mọi nhiệm vụ của ủy ban này.

        Tiếp theo bài phát biểu của Trung tướng Trần Văn Trà, trong phát biểu của mình, Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Trưởng đoàn Đoàn đại biêu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nói:

       "Trong 2 tháng qua, Ban Liên hợp quân bốn bên trung ương đã làm được một số việc như: Ra lời kêu gọi chung về củng cố ngừng bắn, phối hợp giữa các bên thực hiện trao trả những nhân viên quân sự của các bên và thường dân của nước ngoài của các bên bị bắt ở Việt Nam, hợp tác với Ủy ban Quốc tế và giám sát việc rút quân đội Hoa Kỳ và quân đội Nam Triều Tiên tại một số địa điểm và đi điều tra một số vụ ngừng bắn, thoả thuận được 11 điểm về thủ tục, về bảo đảm các quyền ưu đãi và miễn trừ về ngoại giao cho các đoàn đại biểu trong Ban Liên hợp quân sự các cấp.

       Tuy nhiên, công việc của Ban Liên hợp quân sự bốn bên còn vấp phải nhiều khó khăn, trở ngại. Nhiều vấn đề rất quan trọng chưa được giải quyết, nhiều Điều khoản của Hiệp định và Nghị định thư chưa được thực hiện. Tiếng súng chưa chấm dứt; việc trao trả nhân viên dân sự Việt Nam chưa tiến hành được. Việc triệt phá các căn cứ quân sự nước ngoài ở miền Nam Việt Nam chưa được thực hiện theo đúng Điều 6 của Hiệp định. Việc quy định vùng do mỗi bên kiểm soát Ở miền Nam Việt Nam và những thể thức trú quân, các cửa khẩu và thể thức thay thế vũ khí, dụng cụ chiến tranh; việc quy định các hành lang, các tuyến đường và các quy định khác cho việc vận chuyển từ bên này qua vùng bên kia kiểm soát ở miền Nam Việt Nam đều chưa được giải quyết. Về mặt tổ chức triển khai bộ máy liên hợp xuống các khu vực và các tổ gặp nhiều khó khăn, hoàn toàn không được bảo đảm lại còn bị đe dọa nghiêm trọng, quyền ưu đãi miễn trừ không được thựe hiện.

        Thiếu tướng Lê Quang Hòa nêu rõ thái độ thiện chí và nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. "Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã làm rất tốt việc trao trả các nhân viên quân sự và dân sự nước ngoài khác bị bắt. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thực hiện đúng đắn việc trao trả nhân viên quân sự của chính quyền Sài Gòn.

        Về hoạt động sắp tới của Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương, miền Nam Việt Nam, Thiếu tướng Lê Quang Hòa mong rằng trong thời gian tới, hai bên miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự sẽ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, tạo nên không khí thuận lợi hiểu biết lẫn nhau, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm thực hiện triệt để ngừng bắn, củng cố hòa bình ngày càng vững chắc, thực hiện trao trả những nhân viên dân sự bị bắt và giải quyết những vấn đề cửa khẩu, hành lang, thay thế vũ khí… trên tinh thần hiểu biết lẫn nhaư".

        Thiếu tướng Lê Quang Hòa một lần nữa khẳng định: "Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa" miền Nam Việt Nam tiếp tục thi hành triệt để Hiệp định Pa-ri về Việt Nam và các Nghị định thư kèm theo và kiên quyết đòi Chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn cũng phải thi hành triệt để như thế. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ làm hết sức mình để hòa bình trên đất nước Việt Nam được củng cố vững chắc, để hòa bình và hòa hợp dân tộc được thực hiện, tiến tới một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và phồn vinh mà toàn thể nhân dân Việt Nam thiết tha mong đợi".

        Đại tá Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam một trong những người trực tiếp dự phiên họp cuối cùng này, đã có lần nói vởi tôi, đại ý rằng: Hội nghị trưởng đoàn là hoạt động thường xuyên và quan trọng nhất của hai đoàn ta. Mỗi cuộc họp là một cuộc đấu trí, đấu lý và đấu pháp quyết liệt giừa ta và đối phương. Nhưng mình thích nhất, khoái nhất là phiên họp cuối cùng của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương ngày 28 tháng 3. Cuộc họp này thể hiện rõ vị trí, thế mạnh của những người chiến thắng, thế yếu của kẻ chiến bại. Hai đoàn ta nổi bật lên hơn hẳn các cuộc họp trưởng đoàn trưởc đó. Anh Trần Văn Trà và anh Lê Quang Hòa trở thành 2 nhân vật trung tâm, thu hút sự chú ý của hội nghị đặc biệt này. Anh Giang còn bảo: Vì đây là phiên họp nên gọi là bài phát biểu, nhưng thực tế chẳng khác nào 2 bản "cáo trạng" luận tội đối phương trong một "phiên tòa". Chính quyền Sài Gòn vừa muốn duy trì hội nghị với âm mưu thăm dò phía ta, nhưng cũng rất ớn những cuộc họp cấp trưởng đoàn mà phiên họp Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương là phiên họp mà họ ớn nhất.

        Hai bài phát biểu quan trọng này của Trung tướng Trần Văn Trà và Thiếu tướng Lê Quang Hòa, thông qua hệ thống thông tin vô tuyến (Tê-lê-típ) được chuyển trực tiếp ngay cho Thông tấn xã giải phóng và Thông tấn xã Việt Nam (hãng thông tấn tuy hai mà một, tuy một mà hai này) nhận để rổi từ đó cung cấp cho các cơ quan thông tin đại chúng khác như báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam; Đài phát thanh giải phóng... đăng tải hoặc phát thanh bằng tiếng Việt hoặc bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Anh và tiếng Pháp… phối hợp đấu tranh chính trị và ngoại giao trên bàn hội nghị với dư luận trong nước và quốc tế.

        Tại phiên họp cuối cùng này của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương ngày 28 tháng 3 năm 1973, Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ghi đậm nét dấu ấn lịch sử trong cuộc đấu tranh chính trị ngoại giao trên bàn hội nghị không phải ở Pa-ri Thủ đô nước Cộng hòa Pháp mà ở ngay giữa sào huyệt địch mà không ít người cho rằng khó tìm thấy trong các cuộc đấu tranh ngoại giao trên chính trường quốc tế.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #171 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 01:58:49 pm »



AI LÀ THỦ PHẠM VỤ THẢM SÁT "CAI LẬY“

Đại tá HÀ CÂN      

     Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thởi Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Giữa tháng 3 năm 1974, vào giai đoạn ta và ngụy căng nhau, không còn hội họp gì nữa thì xảy ra một vụ làm chấn động dư luận: Ngụy quyền Sài Gòn vu cáo ta bắn đạn cối vào trường tiểu học cộng đồng Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) làm chết và bị thương nhiều em học sinh.

        Ngụy quyền gửi công hàm cho Ủy ban Quốc tế đòi đi điều tra vụ này. Công hàm của ngụy nói rõ đó là 1 quả đạn cối 82mm nhãn hiệu Trung Quốc.

        Các báo Sài Gòn đưa tin này với sự bình luận khác nhau. Các báo tay sai ngụy quyền chửi ta hết lời. Các báo khác lại nghi vấn, thắc mắc. Báo Đại dân tộc ra ngày 13 tháng 3 năm 1974 cho biết một phóng viên nhiếp ảnh đã bị canh giữ hết sức nghiêm ngặt và buộc phải đi xin phép tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, mới được chụp ảnh hiện trường. Báo Hòa bình ngày 14 tháng 3 năm 1974 viết: Ngay sau khi được tin các phóng viên đã đến trường tiểu học Cai Lậy, nhưng họ bị cấm ngặt không được chụp ảnh. Lúc có được phép, thì hiện trường đã được dọn dẹp để phi tang, không còn gì để chụp. Báo Thế giới (Le Monde) ngày 14 tháng 3 năm 1974 viết: Gần Cai Lậy pháo binh ông Thiệu vẫn thường bắn vào vùng đông dân. Các báo thắc mắc: Nếu nói là tội ác của Việt cộng, tại sao lại ngăn cản phóng viên đến tận nơi để phanh phui?
    
       Một số anh em trong Tiểu ban Quân sự của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời đặt vấn đề nghiên cứu: Tại sao đối phương khẳng định đó là 1 quả đạn cối 82mm? Tại sao địch đổ vấy cho ta mà lại muốn bịt mắt phóng viên báo chí? Ắt là có vấn đề trong vụ này.

        Chỉ huy đoàn ta đã điện về hỏi Bộ tư lệnh Miền về tình hình các căn cứ lõm của ta quanh thị trấn Cai Lậy. Mấy hôm sau, được "R" trả lời: Xung quanh thị trấn Cai Lậy, căn cứ gần chợ Cai Lậy nhất là 4km.

        Cơ sở ta đã đến tận trường tiểu học xem xét hố đạn thì chỉ thấy "bằng cái bát ô tô" và nhiều vết mảnh đạn trên tường.

        Tiểu ban quân sự đề xuất ý kiến: Đề nghị đoàn chấp nhận việc đi điều tra tại chỗ vì nghiên cứu những tư liệu đã có thì đây là một vụ mà đối phương dựng lên để vu cáo ta, che lấp tội ác của chúng. Mà đã dựng chuyện thì thế nào cũng có những điểm sơ hở. Ta có đi đến nơi thì mới phát hiện sơ hở để đập lại địch.

        Quá trình trao đổi công hàm giữa ta và ngụy cùng với Ủy ban Quốc tế cũng chứng tỏ ý đồ vu cáo của ngụy.

        Sự việc xảy ra ngày 9 tháng 3 năm 1974, đến ngày 11 tháng 3 năm 1974, phía ngụy quyền gửi cho ta một công hàm yêu cầu điều tra mà không ghi rõ tên và chức vụ người ký. Đương nhiên đoàn ta không chấp nhận. Ngày 12 tháng 3 năm 1974, ngụy bỏ phiên họp cấp trưởng đoàn.

        Ngày 15 tháng 3 năm 1974, trong phiên họp cấp trưởng đoàn, ta phê phán thái độ không hợp tác của ngụy quyền Sài Gòn. Ta gửi công hàm cho Ủy ban Quốc tế yêu cầu điều tra tại chỗ.

        Ngày 18 tháng 3 năm 1974, Ủy ban Quốc tế gửi công hàm yêu cầu hai bên Việt Nam hợp tác điều tra - ngụy quyền lẩn tránh.

        Ngày 19 tháng 3 năm 1974, ta gửi công hàm cho ngụy quyền đề nghị hai bên cử tổ sĩ quan cùng với Ủy ban Quốc tế đi điều tra.

        Ngày 22 tháng 3 năm 1974, trong cuộc họp cấp trưởng đoàn, một lần nữa ta lại đề nghị đi điều tra, nhưng ngụy quyền từ chối.

        Ngày 25 tháng 3 năm 1974, người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố. Đây là một vụ thảm sát hết sức dã man của ngụy quyền Sài Gòn nằm trong âm mưu của chính quyền Sài Gòn nhằm đánh lạc hướng dư luận đang lên án Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn vi phạm ngày càng nghiêm trọng các điều khoản trọng yếu của Hiệp định Pa-ri.

        Cuối cùng, các bên thỏa thuận ngày 30 tháng 3 năm 1974 Ủy ban Quốc tế sẽ đi điều tra, có sự tham gia của sĩ quan liên lạc hai bên Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 12:10:36 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #172 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 02:05:19 pm »

        Tôi được cử làm sĩ quan liên lạc với Tổ Quốc tế. Cùng đi với tôi có đồng chí Vũ Dũng, sĩ quan phiên dịch giỏi (nay là Thứ trưởng BỘ Ngoại giao). Trưởc khi đi, tôi đã trao đổi kỹ với đồng chí Đoàn Huyên về lý thuyết đường đạn. Anh Huyên là Phó tư lệnh Phòng không - Không quân phụ trách tên lửa, còn tôi đã học súng cối 120mm nên chúng tôi đã nhất trí những điểm cơ bản.

        Chúng tôi mang theo máy ảnh và máy ghi âm. Trong cặp của hai chúng tôi đều có độn thêm bìa các tông để làm mộc đỡ đòn, vì chắc chắn đối phương sẽ hành hung.

        Tổ điều tra của Ủy ban Quốc tế do Đại tá Grôm-bô-sơ (Hung-ga-ri) làm chủ tịch, các đoàn khác cũng do một đại tá dẫn đầu. Đoàn đi máy bay UH- 1 đến Mỹ Tho, bổ sung thêm thành viên rồi từ Mỹ Tho bay đi Cai Lậy. Hai bên quốc lộ 4 (nay là quốc lộ l), quang cảnh hoang vắng, ruộng đồng bỏ hoang. Máy bay hạ cánh xuống một đám đất trống phía đông thị trấn Cai Lậy rồi đi ô tô vào thị trấn. Trên đường rẽ vào trường tiểu học Cai Lậy có căng nhiều băng rôn đả đảo, vu cáo ta. Từng nhóm phòng vệ dân sự mặc đồ đen hò hét, yêu cầu dân chúng hô khẩu hiệu đả đảo Việt cộng.

        Tất cả các thành viên của tổ điều tra đều ngồi trên xe Scout hoặc Jeep có sơn chữ ICCS.

        Bước vào sân trường Cai Lậy, tôi chú ý tìm ngay cái gọi là 'hố đạn cối 82mm". Nếu không có cái biển đánh dấu thì không thể biết đó là cái "hố đạn" vì nó nông choèn, chỉ cần lấy mũi giày đá vài cái là có thể thành một cái hố như vậy. Thấy ngay đây không phải là một hố đạn cối vì nó không tròn, trái lại là hình bầu dục, dài 40cm, rộng 20cm, sâu 5cm, tôi chụp ảnh cái hố đó.

        Quan sát các bức tường: phía nam không có dấu vết gì, nhưng tường phía đông "hố đạn" chi chít vết nhỏ bằng đầu đũa, có thể là mảnh đạn cộng với đất đá bắn lên.

        Những điều quan sát được đã củng cố giả thiết "không phải là đạn cối 82mm" mà tiểu ban quân sự của ta đã xác định.

        Hơn 10 giờ, tổ điều tra bắt đầu làm việc cũng có tranh cãi giữa vị đại biểu có "cảm tình với ngụy quyền Sài Gòn" với Chủ tịch Ủy ban Quốc tế, nhưng rồi cũng nhất trí: "Hôm nay là cuộc điều tra chính thức của Ủy ban Quốc tế. Sau khi điều tra ở trường học sẽ đến bệnh viện thăm các em học sinh bị thương, xem bệnh án trong ngày hôm nay".

        Sau khi xem hiện trường, bắt đầu hỏi nhân chứng: Hiệu trưởng trường tiểu học Cai Lậy nói "Đang ngồi làm việc trong phòng, nghe thấy nổ quá lớn, khói tràn vào phòng, định thần lại thấy mình còn sống. Chạy ra sân thấy học sinh nằm sắp lớp, số bị thương nhẹ chạy vào văn phòng trường, chạy ra sân đến chỗ "hố đạn", lượm được cái đuôi đạn cối 82mm ở ngay tại hố nổ". Trời đất ơi, một hiện tượng chưa từng có: Một quả đạn cối nổ, đuôi văng thẳng đứng rồi rơi xuống đúng cái hố nổ, nơi quả đạn chạm đất. ông hiệu trưởng này đã bị lòi đuôi là kẻ vu khống. Khi bị tôi vặn hỏi, ông ta lại khẳng định: Tôi không lạ gì đạn cối 82mm nhãn hiệu Trung Quốc, trước tôi đi lính đã từng thấy, và đúng là tôi đã nhặt được cái đuôi đạn tại hố này.

        Người thứ hai là quận trưởng Cai Lậy, Trung tá Lê Văn Lý. Khi Chủ tịch Tổ Quốc tế hỏi: "Xin ông cho biết cự ly từ trường tiểu học Cai Lậy đến vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng lâm thời", y dương dương tự đắc: ở quận Cai Lậy không có vùng kiểm soát của Mặt trận giải phóng, nhưng rồi thấy hố, y vội chữa: Nhưng có du kích hoạt động! Khi một sĩ quan quốc tế hỏi: Ai báo cho ông biết tai nạn và lúc nào thì ông đến hiện trường? Tên thông dịch ngụy dịch láo là: ông có cho là tiếng nổ đó do giải phóng pháo kích không?

        Đồng chí Vũ Dũng phiên dịch của đoàn ta đã chỉnh đốn ngay tên thông dịch và nói cho tổ điều tra biết là nó dịch láo. Trước đó, đồng chí Dũng cũng đã chỉnh một nữ thông dịch không dùng đúng từ ngữ của Hiệp định làm cô đó sợ quá phải xin thay người khác.

        Một sĩ quan quốc tế mớm lời: Xin ông cho biết ai pháo kích và từ hướng nào?

       Một lần nữa tên quận trưởng lại khoác lác: "Không cần phải suy nghĩ, ai cũng biết là Việt cộng pháo kích và bắn từ hướng đông bắc tới".

        Tôi phản đối y dùng từ ngữ sai Hiệp định và yêu cầu phải nói đúng, y tlếp tục khai đúng là cốì 82mm tạo thành hố đạn hình bầu dục và đuôi văng về phía tây hố nổ.

        Khi được đề nghị giải thích thêm về hướng bắn, tên quận trưởng lại có dịp phô trương "bản lĩnh" của mình, liền vẽ trên bảng đen để giảng giải: Xem dấu đạn nổ chuồi xuống, mảnh đạn văng ra, đằng trước nhiều nên tôi xác định được hướng bắn. Điều này trái với lý thuyết đạn cối nên các thành viên Tổ Quốc tế đều cười ồ!

        Tôi đã chụp ảnh hình vẽ "minh họa" của tên quận trưởng vì thấy "hay" quá: Đường đạn súng cối mà nó vẽ y hệt đường đạn pháo bắn thẳng. Cuộc hỏi nhân chứng kết thúc lúc 15 giờ 10.

        Thấy bị "bể", không còn cách nào lấp liếm khác hơn là phá vỡ cuộc điều tra, chúng giở ngón nhà nghề "bảo bối" của bọn ngụy quân, ngụy quyền là hành hung.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #173 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 02:05:57 pm »

        Bước ra cửa phòng họp, đã thấy một đám lưu manh và phòng vệ dân sự mặc đồ đen từ một trụ sở cảnh sát xông ra hò hét, chửi bới. Chỉ vào Đại tá Hung-ga-ri và chúng tôi, chúng nó gào lên: Mấy thằng đầu sỏ Cộng sản đó, đánh cho một trận! Bọn côn đồ tập trung tấn công vào xe chúng tôi, chửi, ném đá và cản xe, một thằng mặc quần áo đen, bê một tảng đá to bằng một cái mũ cối, đập vào cửa kính bên phải xe. Tôi nói to: Dũng lấy cặp da đỡ, hòn đá bật ra ngoài. Mảnh kính vỡ, cứa vào cổ làm chảy máu ở cổ Trung tá l-ran ngồi sát cửa. Tôi lấy ngay bông, băng dính mang theo để cầm máu cho vị trung tá. Nếu đồng chí Dũng không đỡ được cú đó thì chắc chắn cái đầu của vị Trung tá I-ran đã vỡ toác.

        Trung tá No-vak (Hung-ga-ri), ngồi bên trái, lấy nắm đấm đập vào đầu lái xe, giục nó cho xe chạy. Các xe khác của Tổ Quốc tế cũng có nhừng cảnh giằng co, nhưng không mạnh bằng chỗ xe chúng tôi. Trong lúc bọn côn đồ hành hung, cản xe, cảnh sát và lính ngụy chỉ đứng nhìn, không can thiệp, còn sĩ quan liên lạc ngụy thì tránh mặt.

        Như đã dự kiến, lúc rời phòng họp, tôi đã gửi máy ảnh và máy ghi âm cho Trung tá No-vak, đề phòng tụi nguy có thể cướp giật thì mình mất hết tư hệu.

        Các đồng chí Hung-ga-ri có ý thức bảo vệ chúng tôi, thu xếp cho Dũng và tôi ngồi ghế sau, bên trái là Trung tá No-vak bên phải là Trung tá I-ran. Không hề trao đổi trước với nhau, nhưng các đồng chí Hung-ga-ri và chúng tôi đều đã đề phòng.

        Trở về Mỹ Tho, chúng tôi đề nghị tổ điều tra họp phản đối ngụy quyền Sài Gòn.

        Chủ tịch Tổ Quốc tế lên án Việt Nam cộng hòa tổ chức cuộc hành hung, cho nên Tổ Quốc tế dừng cuộc điều tra.

        Chúng tôi cũng lên án ngụy tổ chức hành hung thành vỉên Tổ Quốc tế và sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời và nêu rõ là:

        1 Khu vực trường tiểu học Cai Lậy được canh gác kỹ, xảy ra vụ hành hung là do nhà chức trách nguy quyển sắp xếp.

        2. Cảnh sát và binh sĩ ngụy không hề ngăn cản mà còn kích động bọn côn đồ ném đá làm bị thương 1 sĩ quan I-ran.

        3. Sĩ quan 1iên 1ạc Việt Nam cộng hòa tránh mặt.

        4. Lái xe 1à người của Việt Nam cộng hòa bố trí, cố tình không cho xe chạy để bọn côn đồ hành hung.

        Về đến ga Ủy ban Quốc tế Ở sân bay Tân Sơn Nhất, chúng tôi phải ở lại chờ xe ôm ra đón đưa về trại. Đồng chí No-vak chờ khi có xe ra đón chúng tôi mới đưa trả máy ảnh và máy ghi âm tôi đã gửi. Thật chu đáo.

        Trong cuộc họp báo vài ngày sau đó, tôi được đồng chí Võ Đông Giang giới thiệu trình bày: Sự thật về vụ thảm sát Cai Lậy.

        Trước đông đảo các nhà báo quốc tế và trong nước, chúng tôi đã trình bày những ý kiến, nhừng tư liệu thu thập được trong cuộc điều tra, những chỗ vô lý trong lời vu khống của quận trưởng Cai Lậy, mâu thuẫn giữa hai nhân chứng về vị trí đuôi đạn cối 82mm, mâu thuẫn ngay trong sự huênh hoang của quận trưởng Cai Lậy (đã hoàn toàn kiểm soát toàn quận, tại sao lại để du kích pháo kích vào quận lỵ giữa ban ngày)? Thái độ không hợp tác của phía Việt Nam cộng hòa với Ủy ban Quốc tế, tổ chức bọn côn đồ hành hung sĩ quan quốc tế và sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Kết luận rõ ràng là: Ngụy quyền Sàì Gòn đã gây ra vụ nổ thảm sát học sinh trường tiểu học Cai Lậy, rồi đổ vấy cho phía Chính phủ Cách mạng lâm thời, lại phá cuộc điều tra của Ủy ban Quốc tế.

        Tất cả các nhà báo đã hiểu đầy đủ, cặn kẽ, không có ai hỏi gì thêm.

        Toàn bộ bản tường trình hôm đó đã được Thông tấn xã Việt Nam phát đi. Phòng thông tin của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Pa-ri đã in thành 1 tập nhỏ: "Qui est l'auteur du massacre de Cai Lậy" (Ai là thủ phạm vụ thảm sát Cai Lậy) để góp phần đấu tranh dư luận.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #174 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 05:37:18 pm »



VỤ ĐIỀU TRA CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN
VI PHẠM NGỪNG BẮN
TẠI KHU VỰC PHẬT ĐÁ - SÁU ẦU

NGUYỄN QUANG BlỂU      

     Nguyên phiên dịch của Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự hai bên.      

        Những ai đã từng sống, chiến đấu Ở Quân khu 8 thời kỳ sau Hiệp định Pa-ri về chấm dữt chiến tranh và lập lại hòa bình Ở Việt Nam khoảng tháng 3 tháng 4 năm 1973, chắc không lạ gì khu vực giải phóng Phật Đá - Sáu Ầu thuộc tỉnh Kiến Tường xưa.

        Mặc dù đã ký Hiệp định, nhưng chính quyền Sài Gòn không muốn thi hành. Hiệp định chưa ráo mực, chúng đã tiến hành chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ" trên khắp chiến trường miền Nam, nhằm lấn chiếm những vùng giải phóng của ta, đánh bật quân ta ra khỏi những khu vực "lõm" mà ta đã đứng chân từ lâu; hoặc dùng không quân, pháo binh bắn phá vùng giải phóng, gây thương vong cho ta. Khu vực Phật Đá - Sáu Ầu thuộc tỉnh Kiến Tường là một trong những khu vực nằm trong diện này.

        Nhằm tố cáo trước dư luận quốc tế hành động lấn chiếm lãnh thổ, bắn phá vùng giải phóng, phá hoại Hiệp định của chính quyền Sài Gòn, ta quyết định chọn một vài vụ điển hình, yêu cầu ủy ban Quốc tế đi điều tra để đưa hành động vi phạm Hiệp định của bè lũ Mỹ - ngụy ra ánh sáng. Trong hàng trăm trường hợp như thế, ta đã chọn trường hợp ở Phật Đá - Sáu Ầu.

        Đồng chí Trung tá Quốc Khánh (Sáu Khánh) Tham mưu phó quân khu, được lệnh triệu tập lên Lộc Ninh, rồi từ Lộc Ninh vào Tân Sơn Nhất bằng máy bay trực thăng liên lạc tuần 2 chuyến Sài Gòn - Lộc Ninh để báo cáo tình hình với phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương Tân Sơn Nhất và làm công tác chuẩn bị cho cuộc điều tra.

        Tổ sĩ quan liên lạc của phái đoàn ta được lựa chọn đi xuống thị xã Mỹ Tho thuộc tỉnh Kiến Tường để cùng tổ ủy ban Quốc tế khu vực VI điều tra vụ vi phạm ngừng bắn này gồm Trung tá Sáu Khánh làm tổ trưởng, thiếu tá Việt Hương thuộc Tiểu ban Quốc tế, một đồng chí ở Tiểu ban thông tấn báo chí và tôi làm phiên dịch. Phía ngụy lấy sĩ quan liên lạc tại chỗ. Chúng tôi dự kiến có thể có.2 phương án xảy ra để lãnh đạo đoàn thông qua làm cơ sở trao đổi với các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan (hàng sáng phái đoàn ta đều có giao ban với sĩ quan hên lạc Phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong ủy ban Quốc tế để phối hợp hành động):

        Phương án 1: Xuống Kiến Tường, phía ngụy có thể chấp nhận cùng ủy ban Quốc tế tiến hành điều tra. Tình huống này khó có thể xảy ra (kinh nghiệm cho hay, từ ngày Ủy ban Quốc tế chính thức hoạt động chưa có cuộc điều tra vi phạm lệnh ngừng bắn nào thành công).

        Phương án 2: Xuống Kiến Tường, ngụy sẽ kiên quyết phá, không đi điều tra, lấy lý do an ninh không bảo đảm, hoặc bất kỳ một lý do nào đấy miễn là sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ dừng ở Mỹ Tho không dẫn ủy ban Quốc tế đi khu vực Phật Đá - Sáu Ầu được, như vậy cuộc điều tra sẽ thất bại. Khả năng này xảy ra là nhiều, nhưng nếu nó xảy ra tổ sĩ quan liên lạc của ta phải cùng các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan trong tổ Ủy ban Quốc tế khu vực VI ghi bằng được trong biên bản là phía ngụy đã cố tình phá hoại cuộc điều tra.

        Chúng tôi được máy bay trực thăng UH-l của ngụy chở xuống căn cứ quân sự Đồng Tâm, sau đó đi xe ô tô vào thị xã Mỹ Tho, đến khách sạn Mỹ Cảnh để tham gia họp với ủy ban Quốc tế. Bước xuống xe để đi vào khách sạn, tôi thấy dân chúng vây quanh chật kín lối vào để xem quân giải phóng như thế nào, có phải gầy như phía ngụy thường tuyên truyền "bảy tên Việt cộng trèo lên một cọng đu đủ mà không gãy". Đồng chí Sáu Khánh to, mập, trắng trẻo, đầu húi cua, khoảng 65-67kg, anh Việt Hương, cao lm70 nhưng không gầy, còn đồng chí thông tấn và tôi năm đó mới 26-27 tuổi, dân ngoài Bắc mới vào, đang sức ăn sức ngủ, da dẻ hồng hào trắng trẻo, đẹp trai. Chúng tôi đều mặc quân phục giải phóng may bằng vải Tô Châu, có cầu vai, đầu đội mũ cối Trung Quốc, có ngôi sao trên nền nửa đỏ, nửa xanh, vai đeo xắc-cốt da, chân đi giày da đen sĩ quan của Liên Xô. Chưa bao giờ người dân thị xã Mỹ Tho lại được chứng kiến một đội quân giải phóng dù chỉ có bốn người lại đàng hoàng giữa ban ngày tiến vào khách sạn dành cho Ủy ban Quốc tế. Tôi đi mà vẫn cảm nhận thấy có nhiều ánh mắt tò mò, đầy ngạc nhiên, xen lẫn sự khâm phục dõi theo. Có nhiều tiếng nói của người dân đứng hai bên đường trầm trồ ca ngợi: "Việt cộng béo khỏe, đẹp trai quá". Chúng tôi đồng loạt ngả mũ cối vẫy chào. Đám đông được thể xô đẩy, chen lấn, muốn tiếp cận chúng tôi gần hơn, nhưng ngay lập tức bị một trung ciội cảnh sát ngụy được huy động đến bao vây khách sạn, giải tán đám đông.

        Họ hoảng sợ, không muốn dân chúng tiếp cận, nói chuyện với chúng tôi.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 11:14:46 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #175 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 05:39:22 pm »

        Các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan đã được báo trước, ra cổng khách sạn, dẫn chúng tôi vào trong phòng họp. Phiên họp do phái đoàn Hung-ga-ri làm chủ tịch điều khiển. Viên đại tá tỉnh trưởng nằng nặc yêu cầu Ủy ban Quốc tế không cho đoàn chúng tôi ở tại khách sạn Mỹ Cảnh mà phải ra ở căn cứ Đồng Tâm cùng với sĩ quan liên lạc của họ. Đồng chí Sáu Khánh bác bỏ thẳng thừng đòi hỏi vô lý đó, với lý do trong giấy công tác mà Ban Liên hợp quân sự hai bên cấp cho đoàn chúng tôi có chữ ký của trưởng đoàn hai bên ghi rõ: tổ sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sẽ ở tại khách sạn Mỹ Cảnh, thị xã Mỹ Tho, tỉnh Kiến Tường trong suốt thời gian điều tra. Cuộc họp giằng co, kéo dài gần hết buổi chiều, không ngã ngũ. Đứng trước tình hình đó, chúng tôi hội ý với các đồng chí Hung-ga-ri nhận định: phía ngụy sẽ cố tình ngăn cản Ủy ban Quốc tế không cho đi điều tra, đồng thời đề nghị 2 phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan phối hợp hành động. Trong cuộc họp tiếp theo, phái đoàn Hung-ga-ri với tư cách là chủ tịch tuyên bố nếu sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra ở tại căn cứ Đồng Tâm thì ngay lập tức cả phái đoàn Hung-ga-ri sẽ bỏ sang ở khách sạn khác và sẽ không thanh toán tiền ăn ở của phái đoàn từ trước đến nay, đồng thời sẽ chỉ mặt, chỉ tên những nhân viên CIA được cài vào khách sạn nhằm mục đích theo dõi hai phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan. Chúng tôi nghe lời tuyên bố đó mà sướng trong lòng. Còn phái đoàn Ca-na-đa và In-đô-nê-xi-a thì đấu dịu.

        Với những lý lẽ sắc bén, đanh thép và thái độ cương quyết của đoàn chúng tôi và của các đồng chí Hung-ga-ri, viên đại tá tỉnh trưởng hết sức cay cú, đành rút lui, nhưng ra lệnh điều thêm lực lượng cảnh sát đến bao vâv khách sạn "nội bất xuất, ngoại bất nhập", không cho đoàn chúng tôi ra ngoài mua đồ ăn, không cho khách sạn bán bất kỳ thức gì cho đoàn chúng tôi, kể cả nước giải khát và thuốc lá Mọi sinh hoạt đều phải nhờ vào các đồng chí Hung-ga-ri. Các đồng chí đó cho chúng tôi mượn túi ngủ dã chiến trải xuống nền nhà ngủ vì khách sạn được lệnh không bố trí phòng, cho chúng tôi ăn đồ hộp dự trữ vì không mua được đố ăn.

        Sang đến ngày thứ hai tình hình không có gì chuyển biến, phía ngụy vẫn đòi chúng tôi ra ở căn cứ Đồng Tâm. Rõ ràng phía họ đã ra mặt phá bĩnh, không thực hiện cam kết tạo điều kiện cho ủy ban Quốc tế và sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành điều tra.

        Cái thứ đồ hộp ăn một bữa còn chịu được, ăn liền vài bữa không có rau xanh thấy xót ruột. Ở trên đất mình mà lại chịu nhịn đói, nhịn khát, có tiền trong túi mà không ra ngoài mua được đồ ăn, thức uống. Đầu giờ chiều anh Sáu Khánh cho gọi tôi, đưa tôi một ít tiền và bảo tìm cách mua mấy ổ bánh mì ba tê có rau và dưa chuột để tối ăn. Tôi đi xuống tầng hai định tìm một đồng chí Hung-ga-ri nhờ mua hộ nhưng không thấy, chỉ thấy hai sĩ quan In-đô-nê-xi-a đang thi đấu bóng bàn. Tôi bèn đứng xem. Cùng xem còn có 4-5 nhân viên khách sạn tuổi chừng 17-18, cả trai lẫn gái. Họ chăm chú theo dõi và trầm trồ khen ngợi mỗi khi đôi bên có nhừng quả đập hay. Kết thúc séc đấu, viên sĩ quan In-đô-nê-xi-a thắng cuộc, đưa vợt, mời tôi thi đấu. Tôi chấp nhận vì ở phái đoàn Tân Sơn Nhất tôi cũng là cây vợt có thứ hạng, đôi khi chúng tôi cũng tổ chức thi đấu với Ủy ban Quốc tế. Chỉ có khác là hôm nay thi đấu tại một khách sạn vùng địch chiếm đóng có khán giả trẻ tuổi là các em nhân viên khách sạn đứng xem cổ vũ. Tôi xác định phải thắng, không thể nào thua được vì thể diện của quân giải phóng trước khán giả vùng địch chiếm đóng. Vừa đánh tôi vừa quan sát nét mặt của các em cổ vũ, thấy họ từ ngạc nhiên, trầm trồ, đến vui mừng hớn hở, khi tôi kết thúc trận đấu với tỉ số 3-2 nghiêng về tôi. Tôi nghĩ bụng dịp may đã đến, mình có thể nhờ mấy em này mua hộ bánh mì ba tê có rau sống đây. Tôi trả vợt, cám ơn viên sĩ quan In-đô-nê-xi-a, tôi mời một em lại gần và nói:

       - Tôi nhờ mấy em mua giúp mấy cái bánh mì kẹp thịt có rau sống và mấy lon nước ngọt để tối ăn.

        Em ngần ngừ và trả lời:

       - Giám đốc khách sạn cấm không mua, không bán đồ cho mấy ông. Tụi tôi mua hộ, ổng phát hiện thì mất việc. Nói xong em chạy lại với đám bạn bè. Tôi thất vọng định quay lên gác nhưng lại thấy 2 em, một trai, một gái tiến lại gần và nói:

        - Chúng cháu đã bàn với nhau và quyết định có thể mua giúp chú. Thế chú mua mấy cái?
   
        - Sáu bánh mì ba tê có rau sống và sáu lon nước ngọt. Tôi đưa tiền cho các em và nhanh chóng lên báo cáo anh Sáu Khánh. Đợi một lúc thấy hai em mang bánh mì và nước ngọt vào phòng. Anh Sáu Khánh vui ra mặt, cám ơn và bắt tay các em. Như vậy là giữa vòng vây dày đặc của cảnh sát, với lệnh nghiêm cấm không giao lưu, không bán đồ, không mua đồ cho Việt cộng, bốn sĩ quan liên lạc của ta vẫn có đủ bánh mì ba tê kẹp rau sống và nước ngọt thưởng thức. Ở thế giới đã có ngoại giao bóng bàn, còn ở đây đoàn chúng tôi đã phá cấm vận của địch cũng bằng ngoại giao bóng bàn.

        Đúng lúc đó các đồng chí Hung-ga-ri báo biên bản làm việc của Ủy ban Quốc tế đã thảo xong, có chữ ký của bốn trưởng đoàn Ủy ban Quốc tế, phản đối chính quyền Sài Gòn, mượn cớ không bảo đảm an ninh, không hợp tác với Ủy ban Quốc tế, trì hoãn điều tra, vi phạm Hiệp định. Đúng là như dự kiến ban đầu, dù cuộc điều tra không được tiến hành, do có sự phá hoại của phía ngụy, nhưng ta đã ghi được điểm trước dư luận quốc tế. Như vậy mục tiêu của đoàn giao cho, tổ sĩ quan liên lạc chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc.

        Để cảm ơn sự đùm bọc và hợp tác chân tình của các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan, trước khi rời khách sạn Mỹ Cảnh về Tân Sơn Nhất, anh Sáu Khánh đã yêu cầu giám đốc khách sạn chuẩn bị một bữa chiêu đãi để mời chung Ủy ban Quốc tế. Bữa chiêu đãi chia tay để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp. Đoàn chúng tôi trở về Tân Sơn Nhất với tâm trạng phấn khởi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đó không bao giờ quên sự đùm bọc, giúp đỡ quý báu của các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan ở khu vực Mỹ Tho.

Hà Nội tháng 4 năm 2004           
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #176 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 07:44:47 pm »




(Đào Chí Công)

TRẠI ĐA-VÍT "ỐC ĐẢO CÁCH MẠNG"

NGUYỄN HỒNG VIỆT      
   
Ghi theo lời kể của Đại tá Đào Chí Công.      

        Trại Đa-vít, báo chí ngày đó gọi là "ốc đảo cách mạng".  Nơi đây đã diễn ra cuộc đấu trí, đấu lý căng thẳng và quyết liệt cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đất nước thống nhất.

        Suốt từ năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, các phái đoàn của ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên đã diễn ra nhiều cuộc họp báo, là một bộ phận của mặt trận đấu tranh dư luận góp phần buộc Mỹ - ngụy phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri. Có lẽ sôi nổi nhất là những ngày cuối tháng 4 năm 1975, phái đoàn của ta theo dõi tin chiến thắng của quân giải phóng qua rađio để tiếp tục đấu tranh với kẻ thù trên thế thắng của chiến trường. Tin chiến thắng trên chiến trường là niềm cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ ở trại kiên quyết tấn công kẻ thù. Càng những ngày cuối tháng 4 không khí ở trại Đa-vít càng sôi động. Trái tim mọi người rạo rực, tuy không ai bộc lộ qua cử chỉ, nét mặt, giữ không khí sinh hoạt bình thường, không để cho địch nghi ngờ, đồng thời bí mật đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra.

        Thời gian này, nguy quân đặt thêm các trạm gác để quan sát mọi hoạt động bên trong trại. Để che mắt kẻ thù, mọi người vui mừng trước chiến thắng chỉ thông qua ánh mắt, nhiều lúc muốn reo lên nhưng lại im lặng.

        Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy quân sự Miền rất quan tâm và lo lắng đến việc bảo vệ an toàn tuyệt đối cho cán bộ, chiến sĩ ta trong trại Đa-vít. Cùng với chiến thắng của quân giải phóng trên chiến trường, từ ngày 18 tháng 4 cán bộ, chiến sĩ trong trại Đa-vít chuẩn bị các phương án chiến đấu. Suốt đêm ngày, lợi dụng máy bay địch ở sân bay Tân Sơn Nhất khởi động, cất cánh, anh em tranh thủ cắt sàn nhà để chui xuống đào hầm (nhà ở trong trại Đa-vít được dựng tạm, sàn gỗ và lợp tôn hoặc fibrô xi măng). Xẻng cuốc không đủ anh em phải dùng lưỡi lê, dao găm, cọc màn bằng sắt đập dẹt làm xà beng. Nhiều chỗ đất cứng phải đổ nước cho mềm, dễ đào. Thế là chỉ trong thời gian ngắn trong trại Đa-vít đã hình thành hệ thống hầm hào, công sự liên hoàn, có hầm chỉ huy, hầm quân y.

        Ngày thứ bảy hàng tuần trong tháng 4 các cuộc họp báo của đoàn ta vẫn diễn ra đều đặn, cuộc họp báo vào sáng thứ bảy ngày 26 tháng 4 năm 1975 có rất đông các nhà báo quốc tế. Hơn 100 nhà báo tới dự. Không còn đủ chỗ họ phải đứng ra ngoài cửa chăm chú theo dõi cuộc họp báo do Đại tá Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn của ta chủ trì xem có điểm gì mới về chiến sự trên chiến trường. Nhiều nhà báo thăm dò xem quân giải phóng có tiến công vào Sài Gòn không. Có một nhà báo quốc tế không giấu được ý định đã hỏi Đại tá Võ Đông Giang:

        - Thưa đại tá, các ông có tiến công vào Sài Gòn - Gia Định không?

        Đại tá Võ Đông Giang trả lời:

        - Rất tiếc là Bộ chỉ huy của chúng tôi không có thói quen nói trước ý định của mình?
    
        Câu trả lời hóm hỉnh, chứa đựng nhiều ý nghĩa khiến các nhà báo không hỏi thêm điều gì. Và cũng chính họ cũng hiểu rõ điều gì sắp xảy ra. Trong giờ giải lao, các nhà báo tranh thủ xin chụp ảnh kỷ niệm với cán bộ chiến sĩ ta. Vì biết đâu, đây là buổi họp cuối cùng của đoàn ta tại trại Đa-vít. Và quả đúng như vậy.

        Đêm 28 tháng 4, mọi người trong đoàn được lệnh xuống hầm, sẵn sàng ở vị trí chiến đấu... Gần sáng pháo binh của ta bắn vào các mục tiêu quân sự của địch, càng lúc pháo càng cấp tập. Nằm dưới hầm mọi người nghe rõ tiếng đạn pháo rít trên đầu.

        Trưa ngày 29 tháng 4 có một đoàn khách đến trại giới thiệu là phái viên của phó tổng thống Sài Gòn Nguyễn Văn Huyền đến xin gặp trưởng đoàn ta. 14 giờ 30 phút lại có một đoàn khách, 17 giờ 30 phút đoàn khách thứ 3 gồm ba người khẩn khoản xin được gặp trưởng đoàn ta. Ba vị khách đó là luật sư Trần Ngọc Liễn, ông Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín. Ba vị khách được mời xuống hầm để bảo đảm an toàn, đều trố mắt ngạc nhiên trước hệ thống công sự, hầm hào mới được đào. Sau khi lấy lại bình tĩnh, ba vị khách cho biết họ được ông Dương Văn Minh mới lên nhận chức tổng thống chính quyền Sài Gòn cử đến gặp Đại tá Võ Đông Giang đề nghị trình với thượng cấp thương lượng để tránh thương vong và đổ nát cho Sài Gòn khi quân giải phóng tiến vào. Đại tá Võ Đông Giang giải thích rõ chính sách của ta cho ba vị và yêu cầu nói với ông Dương Văn Minh phải đầu hàng. Bây giờ không còn gì đế bàn, mọi vấn đề đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định rõ trong tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975.

        Các vị khách đã hiểu rõ lập trường của ta nên xin phép trở về Sài Gòn nhưng lúc này pháo ta đã bắn vào các mục tiêu quân sự càng cấp tập nên ba vị phải ở lại một đêm trong trại Đa-vít.

        Rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi nghe rõ tiếng gầm rú của xe tăng Quân Giải phóng vượt qua sân bay Tân Sơn Nhất tiến vào trung tâm Sài Gòn. Rồi tiếp đó là bộ đội giải phóng rầm rập tiến quân qua đường trước cổng trại Đa-vít. Lúc này tất cả cán bộ, chiến sĩ đều nhảy lên reo hò sung sướng. Chúng tôi ôm nhau trong niềm hân hoan, đôi mắt nhòa lệ. Bên ngoài trại Đa-vít không còn một bóng tên lính ngụy. Mặt đường la liệt quần áo, giày dép, mũ sắt, súng đạn... 9 giờ 30 phút đồng chí Hoàng Anh Tuấn và đồng chí Võ Đông Giang tiễn ba vị khách đã qua đêm trong trại Đa-vít về Sài Gòn thì gặp một đơn vị Quân Giải phóng áo nhuốm đỏ bụi đường, nét mặt rạng rỡ. Được chứng kiến tận mắt đội quân hùng dũng tiến vào thành phố, linh mục Chân Tín xúc động, dang rộng hai tay nói to: "Đây, giờ phút sung sướng nhất của dân tộc chúng ta".

        Cả đêm 30 tháng 4 năm 1975 hòa trong không khí đại thắng của quân dân ta, cán bộ, chiến sĩ trong trại Đa-vít thức thâu đêm cho tới lúc này mọi người thỏa sức reo hò.

        Với chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, đoàn ta tại trại Đa-vít chấm dứt nhiêm vụ.

        Hơn ba mươi năm trôi qua, kỷ niệm những năm tháng Ở trại Đa-vít không bao giờ phai mờ trong ký ức của cán bộ, chiến sĩ. Không trực tiếp cầm súng nhưng bằng trí thông minh linh hoạt nhạy bén, hai đoàn của trại Đa-vít đã góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc.

        Trại Đa-vít hôm nay chỉ còn dấu vết không thể nhận ra. Mong "ốc đảo cách mạng" được tôn tạo thành di tích lịch sử.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 11:21:00 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #177 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 08:25:30 pm »


TRẠI ĐA-VÍT
MỘT ĐỊA DANH KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Đại tá TẠ HƯNG      

     Nguyên là sĩ quan trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.      

       Trong mặt trận đấu tranh ngoại giao sau Hiệp định Pa-ri, có một cái tên - một địa danh - tuy nhỏ nhưng cũng đã ghi lại một dấu ấn đáng nhớ của những người lính làm nhiệm vụ đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri giữa sào huyệt của địch.

        Cái địa danh đó là "DAVIS CAMP" (Trại Đa-vít) là trụ sở của Ban Liên hợp quân sự bốn bên rồi hai bên sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Là người vinh dự được tham gia từ đầu đến cuối đơn vị đặc biệt này và sau đó tham gia Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, tôi muốn nhân dịp này - dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà - xin kể lại với bạn đọc một số kỷ niệm của thời kỳ đầu với ấn tượng sâu sắc không thể nào quên.
   
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #178 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 08:38:15 pm »


CUỘC HÀNH QUÂN VÀO TRẠI ĐA-VÍT

        Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sắp được ký kết. Trong Hiệp định có vấn đề thành lập ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên ở Trung ương (Sài Gòn) và các khu vực ở miền Nam Việt Nam. Lúc đó, tôi đang công tác tại Cục Nghiên cứu Tổng cục Chính trị được điều động đi làm nhiệm vụ mới và được phân công công tác trong đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội cũng như gia đình, bạn bè đến lưu luyến chia tay. Niềm vui rạng rỡ trên nét mặt và nụ cười của mọi người.

        Đêm 26 tháng 1 năm 1973, một đoàn xe U-oát xuất phát đưa chúng tôi đi vào Lộc Ninh để từ Lộc Ninh vào Sài Gòn. Sáng 27 tháng 1 năm 1973, chúng tôi dừng chân tại một khu rừng của Thanh Hóa, chuẩn bị đêm lại đi tiếp. Trưa ngày 27 tháng 1 năm 1973, đoàn nhận được điện khẩn của Tổng cục Chính trị là phải quay ra Hà Nội ngay vì Hiệp định Pa-ri sắp ký, đi dọc Trường Sơn vào sẽ không kịp. Đêm 27 tháng 1 năm 1973, thay vì đi vào Nam, chúng tôi lại trở ra Hà Nội. Ra đến Hà Nội, chúng tôi được biết, để kịp triển khai hoạt động, Mỹ đã đồng ý đưa hai đoàn ta vào Sài Gòn bằng máy bay C130 của Mỹ. 8 giờ 15 phút, thứ hai, ngày 29 tháng 1 năm 1973, chúng tôi rời địa điểm đi sân bay Gia Lâm để vào Sài Gòn. Tại sân bay Gia Lâm, hai chiếc C130 - một chiếc cho đoàn miền Bắc, một chiếc cho đoàn miền Nam - đã chờ sẵn. Đoàn miền Bắc do Thiếu tướng Lê Quang Hòa dẫn đầu, quân phục mới, quân hàm, quân hiệu chỉnh tề, đoàn lên đường với khí thế chiến thắng. Đoàn miền Nam chúng tôi lúc đó với danh nghĩa đi công tác nước ngoài về ghé qua Hà Nội, nay được lệnh của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào Sài Gòn công tác. Chúng tôi với quân phục giải phóng mới, mũ tai bèo mới, vali ngoại giao mới tiến về chiếc C130 dành riêng cho đoàn. 11 giờ 25 phút ngày 29 tháng 1 năm 1973, máy bay cất cánh. Chúng tôi vui mừng khôn xiết. Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội đã tạo điều kiện thuận lợi, tạo thế cho chúng tôi vào lòng địch để thực hiện một cuộc chiến đấu mới, một cuộc chiến đấu tuy không phải bằng súng đạn, song cũng không đơn giản và dễ dàng.

        14 giờ 45 phút cùng ngày, máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Qua cửa sổ máy bay, chúng tôi thấy xe quân cảnh của Mỹ, ngụy chạy tới tấp, rồi cả hai máy bay được bao vây bởi hàng rào lính dù trong tư thế sẵn sàng nổ súng. Trời nắng gắt, sân bay nóng ran. Một, hai, rồi ba giờ trôi qua chúng tôi vẫn không được rời máy bay. Chúng tôi ăn lương khô, uống nước bi đông mang theo và chờ đợi. Đoàn miền Bắc cũng vậy. Hai máy bay đậu gần nhau, việc liên lạc, phối hợp đấu tranh không khó khăn gì. Nguyên nhân chính chúng tôi chưa được rời máy bay là vì chúng tôi kiên quyết không chấp nhận điều kiện vô lý của phía ngụy Sài Gòn lúc bấy giờ. Họ yêu cầu chúng tôi phải làm giấy xin nhập cảnh, hai đoàn chúng tôi không chấp nhận. Việt Nam là một nước, người miền Bắc vào miền Nam việc gì phải nhập cảnh. Bọn ngụy Sài Gòn muốn thể hiện chủ quyền quốc gia của họ, còn chúng ta không bao giờ coi miền Nam dưới chế độ Sài Gòn là một quốc gia. Chúng ta là đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đến miền Nam Việt Nam để cùng các bên thi hành Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam.

        Cuộc đấu tranh tiếp tục qua đêm, ngày hôm sau chúng phải chấp nhận không làm thủ tục nhập cảnh và chúng phải đưa xe ra đón đoàn chúng tôi vào trại Đa-vít. Theo tin được biết thì đây vốn là khu kho của sân bay, sau thành trung tâm huấn luyện biệt kích: bọn mũ nồi xanh do Mỹ huấn luyện chuyên làm nhiệm vụ phá hoại, do thám ở các vùng biên giới; sau đó chuyển thành khu vực của không quân Mỹ thuộc tập đoàn không quân số 7. Cái tên trại Đa-vít có từ đó, nhà bằng gỗ thông, cưa xẻ từ Mỹ theo quy cách thống nhất, sàn gỗ cách mặt đất 50cm, xung quanh có quây lưới thép nhỏ, trần gỗ thông dán. Hơn 80 nhà lớn nhỏ đánh sốtừ T- 501 (phòng hành chính văn thư) đến số 582 (phòng giải trí).

        Thẳng cổng vào, bên phải sân lớn là bãi đậu xe và khu A (khu sĩ quan) có 11 nhà, nhà ăn, nhà tắm riêng. Phía đông, trên một khu chữ nhật là khu B bố trí 32 nhà ở của binh sĩ theo hình chữ U, ở giữa là nhà ăn, nhà kho, nhà bếp và nhà vệ sinh. Phía nam, trên một tam giác sát đường Lê Văn Lộc là khu C gồm những nhà phục vụ chung như nhà xem chiếu bóng của sĩ quan, phòng họp lớn, kho tiếp liệu, kho nhiên liệu, bãi đậu máy bay lên thẳng, nhà căng tin, nhà giải trí cho lính, bệnh xá, nhà Bóc-đen (hộp đêm) cho sĩ quan, sân quần vợt, tháp nước.

        Sân và đường lớn, nhỏ đều bằng xi măng. Đường chéo lớn ngăn cách khu B và khu C Mỹ đặt tên là đường Mi-si-gân. Một sự bố trí hợp lý hoá cao độ kiểu Mỹ cho một trại lính Mỹ Ở vùng nhiệt đới. Mọi khoảnh đất đều được tận dụng, có thuốc diệt chuột ở gầm nhà, có lưới thép phòng muỗi và rắn độc...

        Một sự ngăn cách lớn giữa sĩ quan và binh lính của một quân đội đế quốc, cách bức nhau trong sinh hoạt và hưởng thụ. Màu sắc lính tẩy còn đây đó: những bức tranh phụ nữ khỏa thân dán trên tủ sắt; vài bức họa sơn dầu thô kệch sặc mùi thực dân; hàng lô tập playboy tục tĩu, chuyện trinh thám giật gân, truyền đơn van xin lính Mỹ cai nghiện hê-rô-in bên những ống tiêm hê-rô-in bằng nhựa đã bóp hết thuốc vào mạch máu, và khủng khiếp hơn là những bông băng dính đầy máu và mủ Ở các xó gầm tủ, thùng rác, hố rác... Một người lái xe nhắc chúng tôi: các ông phải đốt cho kỹ, phải tẩy uế cho thật dữ các nơi rửa mặt, nhà tắm, nhà vệ sinh của bọn này kẻo lây bệnh đó. Anh em ta làm vệ sinh kịch liệt hơn một tuần lễ mới tạm sạch. Ỏ mỗi căn nhà đều có một biển gỗ lớn treo ở trên cửa ra vào, in những hàng chữ: Khi bị tấn công không được đứng, ngồi, đi hoảng hốt và phải bò ngay ra hầm, đội nậm lên đầu, nghe theo lệnh của trung đội trưởng. Hầm bao quanh các dãy nhà. Hầm của quan sâu hơn của lính, có kèo gỗ và vỉ sắt Ở trên, đắp thêm bao cát, đất, xi măng pha cát Hầm lính ở gần sân bóng rổ có khắc một loạt dấu hiệu phản chiến hình tròn có ba mũi súng chụm nhau. Phía trong hầm, những hàng chữ nguệch ngoạc: '!Đây là địa ngục, ngày thằng Đích chết ở đây: 16-5-1972 - lạy chúa! Tôi sẽ lên thiên đàng vì tôi đã ở địa nguc này rồi!".

        Trại Đa-vít - nơi hai đoàn đại biểu quân sự của ta Ở và làm việc trên 800 ngày đêm là như thế đó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #179 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2012, 08:52:17 pm »


TRƯỞNG ĐOÀN TRẦN VĂN TRÀ VÀO SÀI GÒN

        Đoàn miền Nam bay từ Hà Nội vào là bộ phận của đoàn tiền trạm. Sáng 31 tháng 1 năm 1973, các phó đoàn của ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên họp bàn việc đón Trung tướng Trần Văn Trà, trưởng phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cương vị và uy tín của mình, việc đồng chí Tư Chi (Trần Văn Trà) vào Sài Gòn được dư luận quan tâm, kể cả các phái đoàn trong ủy ban Quốc tế giám sát và kiểm soát (ICC) cũng như các đoàn Mỹ, nguy.

        Theo thỏa thuận thì đáng lẽ phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn từ vùng giải phóng Ở miền Nam vào Sài Gòn từ ngày 28 tháng 1 năm 1973. Địa điểm hẹn cho máy bay lên thẳng của Mỹ đến đón là sân bay Thiện Ngôn, phía bắc Tây Ninh.

        Sau khi báo cho địch ngày giờ đón, đoàn phái một bộ phận trinh sát đến Thiện Ngôn, dựa vào công sự sửa sang lại, chờ địch trước, trong và sau giờ hẹn. Toàn đoàn ung dung ăn Tết Quý Sửu trước, chờ có tin báo về sẽ ra sân bay vào Sài Gòn.

        Ăn Tết trước, cũng đã một vài lần trong lịch sử chiến đấu của dân tộc diễn ra như vậy. Quang Trung - Nguyễn Huệ khao quân ăn Tết trước năm Kỷ Dậu (1789). Rồi xuân 1968 cũng ăn Tết trước khi Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân. Và lần này ăn Tết trước để vào giữa sào huyệt quân thù đòi chúng thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Đúng giờ hẹn, không có trực thăng Mỹ nào đến đón mà có 2 máy bay của địch bay lượn vài vòng rồi thả một số loạt bom quanh sân bay. Đây là một sự phản trắc của kẻ thù. Phản trắc để ngăn chặn sự có mặt đối với một phái đoàn của Ban Liên hợp quân sự bốn bên mà Hiệp định Pa-n đã xác định.

        Ta càng thêm cảnh giác và thấy rõ nhiệm vụ khó khăn và phức tạp của mình. Đoàn ta kịch liệt lên án và phản đối. Chúng hẹn ngày 1 tháng 2 năm 1973 đưa trực thăng, Mỹ ra đón tại Lộc Ninh.

        Lộc Ninh trước đây là một cứ điểm kiên cố do Quân đoàn 3 nguy phụ trách, trong chiến dịch Nguyễn Huệ, ta đã tiêu diệt cứ điểm cấp chiến đoàn này và diệt nhiều trung đoàn xe tăng thiết giáp và các chiến đoàn sừng sỏ khác. Ỏ đây đã bắt sống nhiều sĩ quan, binh lính nguy trong đó có tên đại tá nguy Nguyễn Công Vĩnh.

        Lộc Ninh là biểu tượng chiến thắng của ta, nỗi nhục thất bại của địch. Trực thăng Mỹ ra đón đoàn ta ở đây để từ địa điểm vinh quang này chúng ta hiên ngang đi vào trung tâm đầu não của địch.

        Sáng 1 tháng 2 năm 1973 (tức 29 Tết Nguyên đán), tại sân bay Lộc Ninh, hàng ngàn nhân dân, cán bộ, chiến sĩ ta với cờ hoa và biểu ngữ trong tay lưu luyến tiễn đồng chí Tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam vào làm việc tại Sài Gòn. Các sĩ quan và phi công Mỹ, nguy làm nhiệm vụ đón đồng chí Tư Chi tỏ ra ngạc nhiên và bối rổi trước sức mạnh và tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời và lực lượng vũ trang thân yêu của mình. Từ sân bay Lộc Ninh, những chiếc trực thăng treo cờ bốn bên đã đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Đại diện ICC, đại diện các đoàn trong ủy ban quân sự bốn bên cùng nhiều cán bộ của hai đoàn miền Bắc, miền Nam có mặt tại Sài Gòn ra đón đồng chí Tư Chi và các cộng sự của ông. Trong bộ quân phục giải phóng màu xanh ô liu, với nụ cười tươi tắn và tư thế của người chiến thắng, đồng chí Tư Chi lần lượt chào các quan khách, đồng đội và không quên giơ tay vẫy chào lại những người của phía bên kia đứng rất xa đang hướng về buổi đón tiếp đồng chí. Các tin tức, báo chí đã đưá tin đậm nét và đăng các hình ảnh người Tư lệnh lực lượng vũ trang của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trở lại Sài Gòn với cương vị và trọng trách mới. Thế là 1 tháng 2 năm 1973, đoàn miền Nam đã tập hợp đầy đủ lực lượng từ các hướng về: Hà Nội vào, Ở "R" ra, Ở Pa-ri về và còn có các đồng chí đã từng chiến đấu trên các chiến trường miền Nam và cả một số đồng chí hoạt động ở nội thành Sài Gòn nữa. Trưởng đoàn Trần Văn Trà, các phó đoàn Đặng Văn Thu, Bùi Thanh Khiết, Võ Đông Giang, Nguyễn Văn Sĩ, Trần Quốc Minh quây quần bên cán bộ, chiến sĩ của mình chuẩn bị vui đón xuân và bước vào cuộc chiến đấu mới không kém phần khó khăn và phức tạp.

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM