Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:53:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315605 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #200 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 08:02:08 pm »

        Ngay sau khi lá cờ cách mạng tung bay trên tháp nước giữa trại Đa-vít. Cánh quân giải phóng, khoảng hai mươi em, tuổi mười tám, đôi mươi, giọng nói miền Bắc, xé hàng rào sân bay Tân Sân Nhất, băng vào doanh trại của đoàn. Người các em đen sạm vì nắng mưa, bụi đường, đi dép cao su, trong mang tất, lưng đèo bòng, toòng teng vài bộ quần áo, thắt lưng chặt đạn B40, tay cầm súng, chiếm các ụ, nóc hầm, gốc cây. Các em được lệnh tiêu diệt địch và bảo vệ đoàn. Lúc đó tôi không rõ các em thuộc quân đoàn nào, sư đoàn nào, tiểu đoàn nào. Vì sinh mạng, cuộc sống của chúng tôi, mà các em có thể có người đã hy sinh. Vì sự sống còn của chúng tôi, trong khi vạch kế hoạch chiến đấu, Bộ tư lệnh chiến dịch phải đắn đo, suy nghĩ, chỉnh pháo, căn chính xác tọa độ để không gây thương vong cho chúng tôi Nghĩ đến đây lòng tôi se lại và biết ơn. Nghĩa tình của các chiến hữu chiến đấu trên cùng một mặt trận đánh Mỹ là như thế đó. Thật là xúc động. Mười giờ, tôi đang ở cổng gác, thấy một đoàn người trong đó có Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Đại tá Võ Đông Giang tiễn ba ông Nghị của Sài Gòn. Đó là giáo sư Châu Tâm Luân, linh mục Chân Tín, luật sư Trần Ngọc Liễn cùng nhau đi trên con đường ra cổng.

        Tôi nghĩ ngay một điều là, chính chiều tối hôm qua (29-4-1975) họ còn là những người của phía bên kia xin vào gặp đại diện phái đoàn quân sự của cách mạng để thăm dò, đề nghị với phái đoàn ta điều gì đó...

        Khi họ vừa vào thì pháo ta bắn dữ dội vào những điểm mà quân ta tấn công. Họ xin ở lại với chúng ta, chờ cho khi ngớt tiếng súng thì ra về. Nhưng quân ta tấn công dồn dập vì đêm nay cuộc tổng công kích vào Sài Gòn hết sức mãnh liệt.

        Thế là họ thấy ra về sẽ nguy hiểm nên xin ở trong căn hầm của Quân giải phóng suốt cả đêm 29 tháng 4 năm 1975.

        Sự kiện này thật là lý thú. Nằm trong hầm của ta, chắc chắn là họ theo dõi được nhịp độ thần tốc cuộc tấn công của quân ta vào sào huyệt cuối cùng của kẻ thù.

        Rồi miên man, tôi nghĩ tới nghĩ lui. Khi chúng ta mới vào cái trại Đa-vít này, kẻ thù bằng mọi mưu mô bỉ ổi, mọi hành động côn đồ để uy hiếp, dọa nạt, khiêu khích chúng ta. Chúng ra sức ngăn chặn những hoạt động của chúng ta và bằng mọi cách để hạn chế chúng ta tiếp xúc với phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí và không tiếp xúc được với nhân dân Sài Gòn.

        Thế mà những ngày cuối cùng của chiến tranh, trụ sở của phái đoàn ta Ở trại Đa-vít lại biến thành nơi mà từ Đại sứ Mỹ Ma-tin đến những tên đầu sỏ nguy quân nguy quyền Sài Gòn dồn dập tìm đến để thăm dò, để cầu cạnh phái đoàn ta làm cầu nối báo cáo với Nhà nước ta để chúng mong gỡ gạc được phần nào sự thất bại thảm hại của chúng.

        Những suy nghĩ này của tôi nó xuất hiện ngay trong buổi sáng sớm ngày 30 tháng 4 năm 1975 và tôi rất lấy làm sung sướng tự hào trong giờ phút đầu tiên của ngày toàn thắng. Mười giờ bốn mươi phút, đồng chí thiếu tướng trưởng đoàn Hung-ga-ri trong ủy ban Quốc tế chen, lách đám đông ngoài phố vào được doanh trại, chúc mừng thắng lợi của quân dân ta. ông bỏ qua những thông lệ ngoại giao, bế bổng Đại tá Võ Đông Giang, đi một vòng từ đầu nhà đến cuối nhà. Trong ba năm từ 28 tháng 1 năm 1973 đến 30 tháng 4 năm 1975; hai phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan đã cùng Ban Liên hợp quân sự Trung ương đấu tranh tích cực để thi hành Hiệp định. Đoàn Hung-ga-ri nhiệt tình, sôi nổi, giúp ta tinh thần lẫn vật chất khi phía chính quyền Sài Gòn gây khó khăn cho ta. Trong giờ phút gay go, ác liệt nhất của chiến dịch Hồ Chí Minh, hai phái đoàn bạn vẫn ở cạnh đoàn ta. Chỉ có bạn bè thực sự chân thành thì mới có cuộc hội ngộ như buổi sáng hôm ấy.

        Mười một giờ ba mươi phút, chúng tôi được đoàn thông báo: "Vào mười hai giờ ba mươi hôm nay sẽ có chuyến bay từ Tân Sân Nhất ra Hà Nội, anh em tranh thủ biên thư về nhà". Tôi vội vàng ghi được hai dòng gửi cho bố mẹ vợ vì không có thời gian biên cho bố mẹ mình, mặt khác lúc này còn bao nhiêu suy nghĩ bung lung. Tôi báo tin cho gia đình biết là miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng, tôi vẫn còn sống trong trại Đa-vít.

        Hơn một trăm năm nay, hôm nay mới có chuyến bay cửa ta đi suốt từ Nam ra Bắc. Chuyến bay mở đầu, sau hơn một giờ đất nước được hoàn toàn giải phóng. Chuyến bay báo tin cho toàn dân biết đất nước đã hoàn toàn được giải phóng.

        Tôi tin rằng đã có nhiều đồng chí trong hai phái đoàn quân sự của chúng ta và các nhà văn, nhà báo viết về Ban Liên hợp quân sự Trung ương cho cháu, con mai sau biết. Viết về những người con ung dung, thư thái trong tác phong, thông minh, nhanh nhẹn, kiên cường trong đấu tranh với địch; chung thủy, vẹn tròn với dân với Đảng, để lại dấu ấn trong lịch sử đấu tranh của dân tộc.

        Riêng với tôi vào dịp 30 năm toàn thắng, Bắc Nam sum họp một nhà xin ghi lại vài dòng cảm nghĩ mà tôi thấy là không bao giờ có thể quên được buổi sáng 30 tháng 4 năm 1975 ở trại Đa-vít, Tân Sơn Nhất.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #201 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 09:13:53 pm »


ỦY BAN QUỐC TẾ
[1]
     
I

        Song song với cơ quan Liên hợp quân sự, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát cũng được thành lập theo quy định của Điều 18 Hiệp định Pa-ri và của Nghị định thư về Ủy ban Quốc tế, với nhiệm vụ kiểm soát và giám sát việc thi hành một số điều khoản của Hiệp định bằng cách:

        "- Theo dõi việc thực hìện qua liên lạc với các bên và quan sát tại chỗ ở những nơi cần thiết;

        - Điều tra các vụ vi phạm những điều khoản thuộc thẩm quyền kiểm soát và giám sát của ủy ban;

        - Khi cần thiết, hợp tác với Ban Liên hợp quân sự trong việc ngăn ngừa và phát hiện vi phạm các điều khoản nói trên".

        Ủy ban Quốc tế "sẽ điều tra những vụ vi phạm các điều khoản nói trong Điều 18 của Hiệp định theo yêu cầu của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, hoặc của Ban Liên hợp quân sự hai bên, hoặc của bất cứ bên nào, hoặc đối với Điều 9b của Hiệp định về tổng tuyển cử của Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc, hoặc trong bất cứ trường hợp nào mà Ủy ban Quốc tế có đầy đủ căn cứ khác để cho rằng đã xảy ra vi phạm đối với các điều khoản đó"... Khi tiến hành nhiệm vụ này, Ủy ban Quốc tế sẽ hành động với sự giúp đỡ và hợp tác cần thiết của các bên có liên quan".

        Ủy ban Quốc tế "làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí", ".., các bản báo cáo của Ủy ban Quốc tế phải được sự nhất trí thỏa thuận của đại diện tất cả bốn thành viên. Trong trường hợp không có sự nhất trí thì Ủy ban sẽ chuyển các ý kiến khác nhau cho bốn bên.., hoặc cho hai bên miền Nam Việt Nam.., nhưng không được coi đó là báo cáo của ủy ban". "Ủy ban Quốc tế và mỗi tổ của Ủy ban Quốc tế hành động như một cơ quan thống nhất ba gồm đại biểu của tất cả bốn thành víên".

        Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát gồm đại điện của bốn nước: Ba Lan, Ca-na-đa, Hung-ga-ri, In-đô-nê-xi-a (Ba Lan và Hung-ga-ri do phía ta đề cử, Ca-na-đa và ln- đô nê-xi-a do phía Mỹ đề cử, và được bốn bên ký kết Hiệp định thỏa thuận mời). Về sau Ca-na-đa rút lui nửa chừng, với lý do Ủy ban Quốc tế hoạt động không hiệu quả, bốn bên lại tham khảo nhau và thỏa thuận mời I-răng thay thế.

        Các thành viên của Ủy ban Quốc tế "luân phiên làm chủ tịch trong từng thời gian do Ủy ban Quốc tế quy định". Sau khi thành lập, Ủy ban đã thống nhất thời gian làm chủ tịch luân phiên là một tháng. (Khác với Ủy ban Quốc tế thời Hiệp định Giơ-ne-vơ: hồi đó chỉ có ba nước: Ấn Độ, Ba Lan, Ca-na-đa, Ấn Độ làm chủ tịch cố định).

        Trụ sở Ủy ban Quốc tế đặt tại Sài Gòn (12 Trần Quốc Toản, sau giải phóng là trụ sở Ủy ban nhân dân quận 10 trên đường 3 tháng 2, nay là khu khách sạn Kỳ Hòa). Cũng như Ban Liên hợp quân sự, dưới ủy ban chung có 7 tổ Ủy ban Quốc tế khu vực đóng tại Huế, (I), Đà Nẵng (II), Plây Cu (IlI), Phan Thiết (IV), Biên Hòa (V), Mỹ Tho (VI) Cần Thơ (VII), và 26 tổ hoạt động ở địa phương và đóng cùng nơi với các tổ Liên hợp quân sự từ Quảng Trị đến Quản Long (Cà Mau). Ngoài ra, Ủy ban Quốc tế còn được cử ba tổ cho khu vực Sài Gòn - Gia Định, thêm 12 tổ địa phương Ở Gio Linh (phía nam giới tuyến quân sự tạm thời), Lao Bảo (Quảng Trị), Bến Hét (Kon Tum), Đức Cơ (Gía Lai), Chu Lai (Quảng Ngãi), Quy Nhơn (Bình Định), Nha Trang, Vũng Tàu, Xa Mát (Tây Ninh), sân bay Biên Hòa, Hồng Ngự (Đồng Tháp), Cần Thơ; bảy tổ cửa khẩu (đóng ở những nơi do hai bên miền Nam Việt Nam chọn để đưa vũ khí và dụng cụ chiến tranh vào thay thế; bảy tổ kiểm soát và giám sát việc trao trả người bị bắt.

        Mỗi đoàn thành viên Ủy ban Quốc tế được có 300 người, gồm một bộ phận cán bộ nhân viên ngoại giao và dân sự, một bộ phận quân sự, chủ yếu là sĩ quan. Đứng đầu là một đại sứ, một phó trưởng đoàn dân sự và một cấp tướng phó trưởng đoàn kiêm trưởng bộ phận quân sự.

        Các đại sứ trưởng đoàn được phía Sài Gòn bố trí ở biệt thự dành riêng (riêng Đại sứ Hung-ga-ri ở khách sạn), các thành viên dân sự của các đoàn ở rải rác trong trung tâm thành phố, các bộ phận quân sự ở tập trung từng đoàn trong khu vực Tân Sơn Nhất, nhưng họ được tự do đi lại ra vào thành phố mà không bị vây hãm như các đoàn đại biểu của ta.

        Trong thời gian đầu Ủy ban Quốc tế triển khai tổ chức hầu khắp mạng lưới được quy định. Về sau do việc thi hành Hiệp định ngày càng trục trặc, từ đó nảy sinh khó khăn trong việc bảo đảm an toàn, mặt khác do bị hạn chế về kinh phí nên Ủy ban rút bớt một số tổ xa xôi hẻo lánh như Bến Hét (Kon Tum), Đức Cơ (Gia Lai), v.v.., và rút bớt số người của các đoàn.

        Từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 4 năm 1975, mỗi đoàn thành viên Ủy ban Quốc tế (trừ Đoàn Ca-na-đa rút sớm và Đoàn I-ran đến sau) thay quân và nhân viên đến hai lần, đón ba lượt đại sứ trưởng đoàn và ba lượt cấp tướng phó trưởng đoàn kiêm trưởng bộ phận quân sự.
-----------------
[1] Trích trong cuốn: "Ban Lìên hợp quân sự và trại Đa-vít những tháng ngày...". Nxb. Quân đội nhân dân. H.1997
  


Đồng chí Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn trưởng đoàn CPCMLTCHMNVN tiếp đồng
chí thiếu tướng trưởng đoàn  Hung ga ri năm 1974
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2012, 10:40:24 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #202 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 09:16:55 pm »


II

        Ủy ban Quốc tế bắt đầu hoạt động cùng lúc với Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Trong thời gian 60 ngày của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, Ủy ban Quốc tế tập trung làm nhiệm vụ kiểm soát và giám sát một số công việc nổi lên do các bên ký kết Hiệp định cùng bảo đảm thực hiện: rút quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên, trao trả nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài bị bắt và giam giữ. Trong thời kỳ này chưa có vấn đề gì gay cấn lớn giữa các đoàn trong nội bộ Ủy ban Quốc tế cũng như giữa ủy ban với các bên thuộc Ban Liên hợp quân sự. Các tổ của Ủy ban Quốc tế đã được cử đi kiểm soát và giám sát thông suốt các chuyến trao trả tại các địa điểm do: Ban Liên hợp quân sự bốn bên thỏa thuận, kiểm soát và giám sát thường xuyên các đợt rút quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên tại các sân bay Đà Nẵng, Nha Trang và Tân SơnNhất, và đã chứng kiến toán quân Mỹ cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam tại sân bay Tân Sơn Nhất ngày 27 tháng 4 năm 1973.

        Qua thời kỳ Ban Liên hợp quân sự hai bên, Ủy ban Quốc tế chỉ còn thực hiện được một phần rất nhỏ nhiệm vụ kiểm soát và giám sát vào đợt trao trả nhân viên dân sự giữa ta và phía Sài Gòn cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 năm 1974 (còn với mấy chuyến trao trả trước thì không tham dự vì có chuyện đấu tranh với ta đòi mở rộng hành lang bay, sau đó Đoàn Ca-na-đa rút đi nên không đủ bốn thành viên).

        Từ buổi đầu Ban Liên hợp quân sự hai bên trở đi, việc thi hành Hiệp định Pa-ri càng trục trặc, phía Sài Gòn vi phạm ngày càng nghiêm trọng và toàn diện, trước hết là vi phạm ngừng bắn, cho nên hoạt động chủ yếu của Ban Liên hợp quân sự là hai bên không ngừng đấu tranh tố cáo nhau vi phạm Hiệp định.

        Nhiệm vụ nổi lên của Ủy ban Quốc tế từ lúc này, căn cứ vào chức năng theo quy định của Nghị định thư về Ủy ban Quốc tế, là điều tra vi phạm. Nhưng thực tế cho thấy nhiệm vụ này khó thực hiện biết chừng nào, có thể nói hầu như không thể thực hiện.

        Tháng 4 năm 1973, sau vụ Ly Tôn (vụ máy bay lên thẳng của Ủy ban Quốc tế rơi đã nói trên đây), Đoàn In-đô-nê-xi-a và Đoàn Ca-na-đa tập trung đòi phải mở rộng hành lang bay cho Ủy ban Quốc tế, trước nay quy định cho máy bay lên thẳng là 1km, máy bay có cánh 3 km, nay họ đòi rộng ra 8 đến l0km. Ta kiên quyết không chấp nhận. Do vụ đấu tranh về hành lang bay đó và do thiếu sự tham gia của hai đoàn trên nên Ủy ban Quốc tế không thực hiện việc kiểm soát và giám sát các chuyến trao trả nhân viên dân sự trong tháng 4 và tháng 5 năm 1973 (và phía Sài Gòn đã vin vào cớ này để đơn phương đình chỉ việc trao trả).

        Có một thời gian trong nội bộ Ủy ban Quốc tế không thống nhất quan điểm về tổ chức điều tra vi phạm: In-đô-nê-xi-a và Ca-na-đa (và sau này là In-đô-nê-xi-a và I-ran) cho rằng Ủy ban Quốc tế có thể hoạt động độc lập không cần sự phối hợp của Ban Liên hợp quân sự hai bên, và khi chưa có sự nhất trí trong nội bộ Ủy ban thì các đoàn thành viên có thề tự mình đi điều tra. Phía Sài Gòn đã lợi dụng tối đa quan điểm này, họ liên tiếp tố cáo ta, mời và tổ chức cho hai đoàn đó đi hết nơi này đến nơi khác, trong tháng 4 và tháng 5 năm 1973 họ còn bày trò gọi là bắt được "tù binh Bắc Việt", và Đoàn In-đô-nê-xi-a và Đoàn Ca-na-đa lại đơn phương đi điều tra về "tù binh Bắc Việt". Đoàn Ba Lan và Đoàn Hung-ga-ri kiên quyết chống lại kiểu hành động sai tráỉ này, nó ngược với cả tinh thần và lời văn của Hiệp định Pa-ri và Nghị định thư về Ủy ban Quốc tế. Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Ban Liên hợp quân.sự hai bên trung ương cũng cực lực phản đối và tuyên bố rõ không thừa nhận tính hợp pháp và giá trị của các hành động đơn phương. Trưởng đoàn ta đến gặp riêng Đại sứ - Trưởng đoàn In-đô-nê-xi-a để thuyết phục, nói rõ quan điểm của ta và phân tích những hành động không lợi nói trên. Ta dựa vào tinh thần dân tộc chống đế quốc của In-đô-nê-xi-a và những điều giống nhau giữa hai dân tộc, từng bước tranh thủ được ông ta nhận ra cái nên và cái không nên.

        Ngày 28 tháng 6 năm 1973, hai sĩ quan Ca-na-đa ở Tổ Ủy ban Quốc tế Xuân Lộc tự ý đi vào vùng Cam Tiêm và không thấy về. Đoàn Ca-na-đa hoảng hốt. Tối ngày 29 tháng 6, Đại sứ Trưởng đoàn Ca-na-đa đến trại Đa-vít yêu cầu Trưởng đoàn ta giúp đỡ tìm kiếm. Sau đó ta được thông báo là hai viên sĩ quan kia đi vào vùng kiểm soát của ta không có phép nên lực lượng địa phương đã bắt giữ. Ngày 15 tháng 7 năm 1973, ta đã trao trả họ cho Đoàn Ca-na-đa tại khu vực Xuân Lộc, với điều kiện nghiêm ngặt là quân Sài Gòn phải ngừng các hoạt động quân sự trong vùng có liên quan.

        Trước đó, ngày 30 tháng 5 năm 1973, Đại sứ Trưởng đoàn Ca-na-đa đến thăm xã giao Trưởng đoàn ta và báo tin Chính phủ Ca-na-đa quyết định rút khỏi Ủy ban Quốc tế. Trong tháng 6 năm 1973, họ tuyên bố công khai việc đó và lần lượt rút sĩ quan và nhân viên ở các khu vực và các tổ địa phương về Sài Gòn. Ngày 19 tháng 7 năm 1973, Đại sứ và bộ phận cuối cùng của Đoàn Ca-na-đa rời Sài Gòn về nước.

        Các hoạt động của Ủy ban Quốc tế tiếp tục bị đình trệ đến đầu tháng 10 năm 1973 vì thiếu một thành viên.

        Các bên ký kết Hiệp định lại phải hiệp thương vởi nhau, sau đó thỏa thuận mời I-ran tham gia Ủy ban Quốc tế và nước này nhận lời. Ngày 29 tháng 8 năm 1973, đoàn tiền trạm I-ran đến Sài Gòn, cuối tháng 9 thì Đại sứ Trưởng đoàn cùng toàn đoàn đến đủ.

        Có thể nói từ tháng 4 năm 1973 (tức là không lâu sau khi Ban Liên hợp quân sự hai bên bắt đầu hoạt động) đến đầu tháng 10 năm 1973 Ủy ban Quốc tế chưa hoạt động bình thường đúng với tính chất là một cơ quan thống nhất bao gồm đại biểu của tất cả bốn thành viên, trừ một lần trong tháng 5 năm 1973 tổ chức điều tra vụ oanh tạc Lộc Tấn (phía đông bắc Lộc Ninh) do ta tố cáo.

         Sau khi Đoàn I-ran đến đủ và chính thức tham gia công việc từ tháng 10 năm 1973, Ủy ban Quốc tế đã có đủ điều kiện về tổ chức để thực hiện nhiệm vụ. Yêu cầu chính về hoạt động lúc này là điều tra vi phạm. Sự chia rẽ do quan điểm và hành động điều tra đơn phương rồi cũng được giải quyết, vì những hoạt động này rõ ràng trái với Hiệp định và Nghị định thư, nó không đưa lại kết quả gì, lại bị cả trong nội bộ ủy ban và phía ta phản đối nên cuối cùng cũng được chấm dứt.

Các bạn Hung ga ri sang thăm đoàn ta tại Đa-vít năm 1974
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2012, 10:42:55 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #203 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 09:41:02 pm »

        Vì sự tồn tại của ủy ban Quốc tế và vì danh dự nước mình trước dư luận, các đoàn thành viên phải chú ý giữ đoàn kết trong nội bộ Ủy ban, và cố gắng tránh để những khác biệt quan điểm gây chia rẽ đưa đến đổ vỡ. Vì vậy, mặc dù vẫn thường có những quan điểm khác nhau trong một số vấn đề, nhất là trong vấn đề đánh giá vi phạm đối với hai bên miền Nam Việt Nam, các đoàn thành viên Ủy ban Quốc tế vẫn cũng làm việc và giữ quan hệ hợp tác với nhau cho dến giai đoạn cuối cùng.

        Ủy ban Quốc tế nhận được rất nhiều công hàm của hai đoàn đại biểu tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương tố cáo nhau vi phạm và yêu cầu điều tra. Ủy ban cố thảo luận sắp xếp một bản danh sách các vụ cần và có thể xem xét tổ chức điều tra. Nhưng trong vấn đề tế nhị này (đỉều tra để đi đến kết luận bên này hay bên kia vi phạm) thật khó đạt được sự nhất trí cho nên suốt thời gian tồn tại của mình Ủy ban Quốc tế chỉ thực hiện được mấy cuộc điều tra vi phạm mà điển hình là các cuộc điều tra ở Phổ Phong (đã nêu trong phần trao trả nhân viên quân sự thời kỳ Ban Liên hợp quân sự bốn bên), Ở Lộc Tấn (ta tố cáo phía Sài Gòn cho máy bay oanh tạc) và ở Cai Lậy (phía Sài Gòn tố cáo ta pháo kích trường trung học).

        Trong tháng 5 năm 1973, máy bay đối phương nhiều lần đến ném bom xã Lộc Tấn phía đông bắc Lộc Ninh và một số nơi khác. Do ta yêu cầu mạnh mẽ và Đoàn Ba Lan và Đoàn Hung-ga-ri thúc đẩy, Ủy ban Quốc tế đã nhất trí cử một tổ đi Lộc Tấn. Đến quan sát tại chỗ, sĩ quan Ca-na-đa ghi nhận có hành động oanh tạc nhưng không có bằng chứng xác minh việc oanh tạc đó xảy ra trước hay sau ngày 27 tháng 1 năm 1973 tức là ngày ký Hiệp định Pa-ri. Tổ ủy ban Quốc tế trở về mà không đi đến được kết luận vi phạm.

        Tháng 3 năm 1974, phía Sài Gòn dựng lên chuyện trường trung học Cai Lậy (thuộc Mỹ Tho nay thuộc tỉnh Tiền Giang) bị lực lượng vũ trang của ta dùng súng cối pháo kích, và nhất thiết yêu cầu ủy ban Quốc tế điều tra. Đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương biết là chuyện được dàn dựng, nhưng nếu chỉ bác bỏ thôi thì không đủ thuyết phục nên quyết định đồng ý để Ủy ban Quốc tế điều tra, và cử sĩ quan liên lạc vững vàng trong ứng phó cùng đi. Đúng là có vết đạn súng cối thật, nhưng nó tản mạn tỏa ra tất cả các hướng. Sĩ quan Hung-ga-ri dựa vào đặc điểm này, phân tích về mặt kỹ thuật, nếu đây là một trận pháo kích thì đạn phải tập trung về một hướng theo chiều đường đạn từ trận địa bắn đi chứ không thể chĩa đều ra bốn hướng được, vì vậy không có bằng chứng gì xác minh là Quân giải phóng pháo kích. Và thế là lần này Tổ ủy ban Quốc tế cũng không kết luận được vi phạm. Bất mãn vì không quy lỗi được cho ta, đối phương cho bọn côn đồ gây sự, đập vỡ kính xe của các sĩ quan Ba Lan và Hung-ga-ri.

        Từ tháng 6 năm 1974 trở đi, sau khi ta đình chỉ các cuộc họp và các hoạt động thực tiễn chung với phía Sài Gòn tại Ban Liên hợp quân sự hai bên; Ủy ban Quốc tế không còn điều kiện để thực hiện đầy đủ chức năng kiểm soát và giám sát, điều tra vi phạm vì thiếu sự phối hợp của Ban Liên hợp quân sự (đây là nói về mặt nguyên tắc, còn về thực tế thì với tính chất cơ cấu của nó và với cục diện tình hình đang diễn biến ở miền Nam Việt Nam, dù Ban Liên hợp quân sự hai bên có tiếp tục hoạt động thì Ủy ban Quốc tế cũng khó làm gì đưa lại được kết quả thiết thực). Ủy ban Quốc tế chỉ còn chủ yếu làm một việc nội bộ với nhau và duy trì sự tồn tại của mình như một sự nhắc nhở quốc tế về Hiệp định Pa-ri.

        Từ sau khi ta đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột, với đà tan rã và rút chạy của quân Sài Gòn, các Tổ ủy ban Quốc tế ở các khu vực và địa phương phía bắc cũng rút cuốn chiếu về Sài Gòn.

        Trong trận đánh Buôn Ma Thuột ngày 11 tháng 3 năm 1975, quân ta có giữ một đại úy In-đô-nê-xi-a và một đại úy I-ran trong Tổ ủy ban Quốc tế ở đó. Đại sứ In-đô-nê-xi-a và Đại sứ I-răng đến trại Đa-vít nhờ Trưởng đoàn ta can thiệp xin trao trả cho họ. Phía ta đã chăm sóc hai sĩ quan trên chu đáo và cho đưa về Lộc Ninh. Ngày 15 tháng 4 năm 1975, một máy bay lên thẳng đặc biệt của Ủy ban Quốc tế được phép vào Lộc Ninh để làm các thủ tục chuẩn bị, ngày 17 tháng 4 một chuyến máy bay lên thẳng đặc biệt nữa đã vào đón hai sĩ quan đó về. Nhân có hai chuyến bay này, Đoàn ta đã kết hợp thực hiện hai chuyến liên lạc trực tiếp cuối cùng rất quan trọng với hậu phương trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu).

        Trong đợt tổng tấn công của quân ta vào Sài Gòn, bị bất ngờ trước tốc độ chiến sự, Đoàn In-đô-nê-xi-a và Đoàn I-ran cấp tốc về nước cùng với đội di tản của Mỹ, và Ủy ban Quốc tế đã bị động giải thể.

        Đoàn Ba Lan và Đoàn Hung-ga-ri vẫn bình tĩnh ở lại, vẫn giữ liên lạc với Đoàn ta tại trại Đa-vít cho đến lúc mạng điện thoại Sài Gòn bị tê liệt (29-4-1975). Bạn đã chứng kiến những giờ phút lịch sử của cuộc Tổng tiến công với hợp điểm của các cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn, không ai bị thương vong.

        22 giờ đêm 30 tháng 4 năm 1975 đã có 2 phái viên Bộ Tư lệnh chiến dịch đến bắt liên lạc với 2 phái đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri tại trụ sở của họ (nay là khách sạn Kỳ Hòa quận 10).

        Ngay sáng 1 tháng 5 năm 1975 ta đã bắt liên lạc lại với bạn. Trưởng đoàn ta ra khách sạn và biệt thự thăm các Đại sứ Trưởng đoàn. Tối 6 tháng 5 hai đoàn ta tại Tân Sơn Nhất mở tiệc chiêu đãi trọng thể và thân tình, ngày 7 tháng 5 năm 1975 tiễn bạn lên máy bay về nước.

Quốc khánh Hung ga ri 1973 tại Sài Gòn
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2012, 10:47:25 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #204 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 09:42:54 pm »


III

        Để giữ quan hệ với Ủy ban Quốc tế và với hai đoàn bạn, Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương thành lập một bộ phận chuyên trách, Tiểu ban quốc tế do một phó trưởng đoàn được phằn công trực tiếp nắm.

        Việc tiếp xúc với hai đoàn bạn được thực hiện hầu như hàng ngày, chuyên viên của bạn vào cung cấp cho ta những thông tin mà bạn nắm được, nhận thông báo của cán bộ ta về tình hình chiến trường, thường xuyên trao đổi với ta về công việc. Hàng tuần hoặc khi có việt đột xuất, Trưởng phó đoàn ta vào Sài Gòn gặp Trưởng phó đoàn bạn, hoặc bạn vào trại Đa-vít gặp ta. Trong phần lớn các vấn đề bạn thống nhất quan điểm với ta, cố gắng bàn bạc đấu tranh trong nội bộ Ủy ban Quốc tế theo yêu cầu chính đáng của ta. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bạn với ta trở thành một nền nếp tốt đẹp và có hiệu quả.

        Với Đoàn In-đô-nê-xi-a và Ca-na-đa (sau là I-ran) ta vẫn giữ liên lạc thường xuyên, cán bộ ta gặp gỡ trao đổi tình hình với chuyên viên họ khi cần thiết. Hàng tháng Phó trưởng đoàn ta tranh thủ đến từng đoàn thông báo tình hình chiến trường cho rộng rãi sĩ quan và cán bộ của họ. Trưởng đoàn ta cũng giữ tiếp xúc và thỉnh thoảng gặp gỡ Đại sứ Trưởng đoàn hoặc vị tướng phó trưởng đoàn quân sự.

        Với In-đô-nê-xi-a, do sự kiện Ly Tôn, thời gian đầu quan hệ có phần căng thẳng, họ muốn quy kết ta vi phạm, Bau đó họ chủ trương điều tra đơn phương, trong một số trường hợp họ có thiên về phía Sài Gòn. Nhưng đặc điểm dân tộc và hoàn cảnh lịch sử của họ cũng gần giống ta, giữa họ với ta không có lợi ích chiến lược đối địch nên dần dần ta cũng tranh thủ làm cho họ hiểu phần nào chính nghĩa của ta. Trong những lần đầu cán bộ ta đến giới thiệu tình hình cho đoàn họ, cán bộ và sĩ quan In-đô-nê-xi-a đặt những câu hỏi chứng tỏ họ không hiểu biết mấy về thực chất tình hình miền Nam Việt Nam và chịu ảnh hưởng khá nặng sự tuyên truyền xuyên tạc của đối phương. Các đồng chí ta đã nhân cơ hội giải thích làm cho họ thấy được sự thật, điều này rất có lợi, dần dần họ đã có cách nhìn nhận khách quan và đúng đắn hơn.

        I-ran cũng thuộc diện nưởc đang phát triển, họ ở xa, không có tranh chấp chính trị kinh tế gì với ta, nên ngoài quan hệ thân Mỹ và quan điểm theo phía phương Tây của họ (lúc đó I-ran còn ở dưới chính quyền vua Pahlevi), về mặt cá nhân ta cũng từng bước tranh thủ được.

        Quan hệ giữa ta với Ủy ban Quốc tế luôn giữ được đúng mức. Trong một số dịp ta mời họ đi thăm vùng ta:

        - Ngày 12 tháng 9 năm 1973, ta mời họ vào thăm Lộc Ninh một ngày. Lúc này Đoàn Ca-na-đa đã rút, chỉ còn ba đoàn nhưng đây chỉ là một chuyến thăm hữu nghị nên tuy không đủ bốn thành viên họ cũng vẫn đi. Trung tướng Trần Văn Trà đã tiếp sang trọng.

        - Từ 12 đến 14 tháng 11 năm 1973, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời mời ủy ban thăm vùng giải phóng Đông Hà thuộc Quảng Trị. Lúc này đã đủ bốn thành viên. Cả bốn đại sứ và bốn tướng đều tham gia chuyến đi. Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã tiếp.
        - Ngoài ra Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã mời ủy ban ra thăm Hà Nội từ 29 tháng 1 đến 1 tháng 2 năm 1974.

        Các chuyến thăm đó đã gây ấn tượng tốt đối với họ, về rnặt cá nhân có cảm hóa thêm họ được một phần.


Các đồng chí lãnh đạo 2 đoàn tiếp Thiếu tướng trưởng đoàn Hung ga ri trong Ủy ban
Quốc tế tại trại Đa-vít

Đoàn ta làm việc với Ủy ban Quốc tế

Trung tướng Trần Văn Trà đi thăm đoàn Indonexia. Ảnh chụp lúc đi trên đường phố
Sài Gòn 1973
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2012, 10:08:13 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #205 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 09:44:30 pm »

        Một môi trường thuận lợi cho công tác tranh thủ hữu nghị của ta và cũng là những dịp để cán bộ các đoàn ta ở Tân Sơn Nhất có điều kiện đi vào phố Sài Gòn, là các cuộc chiêu đãi. Mỗi đoàn trong Ủy ban Quốc tế đều muốn thông qua hoạt động này đề cao vị trí của nước mình, và trong chừng mực khác nhau đều có ý tạo điều kiện cho những sự tiếp xúc giữa các bên, giữa các đối tượng. Trong các ngày kỷ niệm lớn của nước mình (Quốc khánh, Tết dân tộc, ngày quân đội, v.v...), các đại sứ trưởng đoàn đều tổ chức chiêu đãi trọng thể, tại biệt thự hoặc tại khách sạn, mời khách khá đông và luôn luôn mời cả phía ta (hai đoàn) và phía Sài Gòn tại Ban Liên hợp quân sự. Nhiều nhà báo cũng thường được mời. Nhiều lần đại sứ hai đoàn bạn còn mời một số nhân vật thuộc lực lượng thứ ba ở Sài Gòn đến dự để có dịp cho ta tiếp xúc. Trong một số trường hợp khác như thay đại sứ trưởng đoàn, thay tướng, họ cũng tổ chức chiêu đãi để tiễn người cũ, đón người mới.

        Về phần ta cũng vậy, dịp Tết cổ truyền, các ngày lễ của Việt Nam dân chủ cộng hòa, của Chính phủ Cách mạng lâm thời và Mặt trận Dân tộc giải phóng, hai đoàn ta tại Tân Sơn Nhất (tùy sự kiện mà Đoàn A hay Đoàn B đứng ra chủ trì) đều tổ chức chiêu đãi trọng thể tại trại Đa-vít, nhưng chỉ mời được các đoàn trong Ủy ban Quốc tế và các nhà báo, mà nhà báo cũng rất ít lần được phía Sài Gòn để cho vào dự. Được sự chi viện của Cục Chính trị Miền và Tổng cục Chính trị về văn công, trong các dịp này ta còn tổ chức biểu diễn văn nghệ, nhẹ nhàng nhưng cũng góp phần tranh thủ thiện cảm.

        Một hình thức khác để tăng cường hữu nghị là hoạt động thể thao. Tháng 8 năm 1973, nhân Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hai đoàn ta tổ chức thi đấu môn bóng bàn, bóng chuyền, bóng rổ và quần vợt, mời hai đoàn bạn Ba Lan và Hung-ga-ri và Đoàn In-đô-nê-xi-a cùng dự. Họ đều vui vẻ và tích cực tham gia. Đại sứ In-đô-nê-xi-a nhiệt tình thi đấu bóng bàn. Từ đó trở đi thành tục lệ, mỗi đoàn đến dịp lễ, Tết đều đứng ra tổ chức và mời nhau cùng thi đấu. Các đại sứ, tướng tá và cán bộ cao cấp ai biết môn nào đều ra sức hưởng ứng. Đây là một loạt hoạt động có hiệu quả để tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo không khí thoải mái trong tiếp xúc, góp phần cải thiện quan hệ làm việc.

        Trong thời gian ta đình chỉ các cuộc họp Ban Liên hợp quân sự hai bên, cả trong thời kỳ sôi động từ sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên, Đoàn In-đô-nê-xi-a và Đoàn I-ran vẫn giữ liên lạc và cử người thường xuyên tiếp xúc với ta tại trại Đa-vít cho đến ngày mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát được thành lập vào cuối tháng 1 năm 1973 đã tồn tại đến những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Nó đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát việc rút quân Mỹ và quân nước ngoài theo Mỹ, trao trả nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài bị bắt, trao trả một phần nhân viên dân sự hai bên miền Nam Việt Nam bị bắt và giam.

        Sau đó, trước tình hình tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ dung túng vi phạm tiến tới phá hoại Hiệp định Pa-ri ngày càng nghiêm trọng, Ủy ban Quốc tế không thể làm gì được để ngăn ngừa vi phạm và kết luận vi phạm. Sống trong vùng do phía Sài Gòn kiểm soát, dựa vào sự cung cấp và bảo đảm vật chất và phương tiện của đối phương, ủy ban này không thể tiến hành những hoạt động chủ động và những cuộc điều tra khách quan để xác định trách nhiệm của bên vi phạm và góp phần hạn chế vi phạm. Điều quan trọng nữa là, do cơ cấu thành phần của nó, Ủy ban Quốc tế không thể có một hành động hay kết luận nào nghiêng hẳn về phía có lợi cho ta hoặc cho phía bên kia.

        Điều này thể hiện so sánh lực lượng giữa các bên khi ký Hiệp định Pa-ri, ta không thể trông đợi tốt hơn nữa.

        Tuy nhiên vì Hiệp định Pa-n là một thắng lợi của ta và được Hội nghị quốc tế bảo đảm, sự có mặt và tồn tại của Ủy ban Quốc tế về cơ bản là có lợi cho ta, nó góp phần xác nhận vị trí của Chính phủ Cách mạng lâm thời và có tác dụng kiềm chế nhất định đối với phía Sài Gòn trong việc phá hoại Hiệp định.

        Hai đoàn bạn Ba Lan và Hung-ga-ri đã phối hợp chặt chẽ và ủng hộ ta trong nhiều trường hợp để bảo vệ Hiệp định Pa-ri, ngăn chặn và vô hiệu hóa những hành động đơn phương thiên vị trong Ủy ban Quốc tế chống lại ta, và không để cho phía đối tượng lợi dụng ưu thế vật chất mà chi phối hoạt động của Ủy ban Quốc tế.

Chụp ảnh lưu niệm với đoàn Hung ga ri 28-11-1973

Đại sứ Indonexia và đại sứ Ba lan vừa đi thăm vùng giải phóng Quảng Trị về được
Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn đón tiếp tại trại Đa-vít
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2012, 10:02:38 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #206 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 10:21:49 pm »



CHÚNG TÔI SỐNG VÀ CHIẾN ĐẤU
GIỮA HANG Ổ KẺ THÙ

HÀ THANH MlNH (Hoàng Khánh)      
         
        Cuối năm 1972, sau nhừng thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đặc biệt là chiến dịch tập kích chiến lược bằng lực lượng không quân của đế quốc Mỹ đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và vùng phụ cận đã bị quân và dân ta đập cho dập đầu, gẫy cánh. Biết không thể khuất phục nổi chúng ta bằng canh bạc cuối cùng sử dụng vũ lực, giặc Mỹ đành chịu thất bại, Ních-xơn cho Kít-sing-giơ sang Pa-ri cam kết những điều khoản mà chúng biết là trói chân, trói tay, bất lợi đối với cả thầy, lẫn tớ. Đó là văn bản "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam".

        Chương VI của Hiệp định và các điều ghi trong Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các Ban Liên hợp quân sự đã quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan này. Do đó, Hiệp định Pa-ri được ký kết, có hiệu lực thi hành thì các Ban Liên hợp quân sự đã có thể thực hiện ngay nhiệm vụ của mình.

        Trước đó, Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền đã sớm chỉ đạo các cơ quan chuẩn bị tổ chức lực lượng, phương tiện vật chất để tiếp nhận nhiệm vụ khi hiệp định được ký kết. Hầu hết anh, chị em được điều động về làm nhiệm vụ trong Ban Liên hợp quân sự của cả hai phái đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là những người được rèn luyện, thử thách trong lửa đạn chiến trường. Nhiều người trên thân thể còn mang thương tích của cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Họ đón nhận nhiệm vụ mới với tinh thần phấn khởi, tin tưởng, xác định tốt trách nhiệm nặng nề, gian khổ và hiểm nguy như bước vào một trận đánh đầy bão đạn, mưa bom. Phía trước sẽ trực tiếp đối diện với kẻ thù Mỹ - nguy lắm mưu sâu, kế độc, tàn ác và xảo quyệt.

        Trụ sở của hai phái đoàn ta là trại Đa-vít. Quá trình đàm phán tại Pa-ri, phía Mỹ - nguy đã dày công toan tính để bố trí nơi làm việc và sinh hoạt của hai phái đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại trại Đa-vít nằm lọt trong căn cứ quân sự sân bay Tân Sơn Nhất Nơi đây, được Mỹ - nguy bố phòng cẩn mật nhất vì trụ sở của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (Lầu Năm Góc phương Đông) chỉ cách khoảng một cây số. Bộ tổng tham mưu nguy cách hơn một cây số đường chim bay. Từ đây vào trung tâm Sài Gòn chưa tới mười cây số. Thành phố Sài Gòn tập trung cả bộ máy điều hành chiến tranh, các cơ quan đầu não phản động nhất của địch, đây là sào huyệt cuối cùng cho cả thầy lẫn tớ ẩn náu khi bị lực lượng cách mạng tiến công. Nỗi ám ảnh của cuộc Tổng tiến công và nổi dậỵ mùa Xuân Mậu Thân như còn ở quanh đây. Hơn thế, Mỹ - nguy không muốn sự có mặt bằng xương, bằng thịt, đi lại công khai của cán bộ, chiến sĩ ta ngay tại hang ổ của chúng. Vì như vậy, mặc nhiên Mỹ - ngụy phải thừa nhận thất bại trên chiến trường mới có sự kiện này.

        Ngày 28 tháng 1 năm 1973, ngày đầu tiên Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ - ngụy đã phải chịu thất bại khi chúng lật lọng dùng máy bay ném bom bắn phá sân bay Thiện Ngôn, nơi chúng sẽ đón phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn vào Tân Sơn Nhất làm nhiệm vụ của Ban liên hợp quân sự. Nhờ tinh thần cảnh giác cao, biết rõ bản chất đê hèn, tráo trở của kẻ thù nên chúng ta không bị tổn thất gì.

        Tiếp đó, tổ tiền trạm từ Hà Nội vào đến sân bay Tân Sơn Nhất, Mỹ - ngụy đòi chúng ta phải làm "thủ tục nhập cảnh". Người Việt Nam, đi lại trên đất nước quê hương mình mà phải làm thủ tục như người nước ngoài? Thật nực cười! Cả hai đoàn ta cương quyết phản đối, không chịu "làm thủ tục nhập cảnh". Họ lên máy bay Mỹ, ngồi ăn lương khô và tiếp tục phản đối Mỹ - nguy cản trở việc thi hành Hiệp định. Biết không thể làm thay đổi được lập trường của hai tổ tiền trạm này, bọn chúng phải nhượng bộ, mời anh em ta lên xe về trại Đa-vít. Trước khi lên xe, Mỹ - nguy lại giở trò bỉ ổi khác, bọn chúng đeo băng trắng trên cánh tay, cắm cờ trắng trên đầu xe, chúng giải thích "Đây là cờ của Ban Liên hợp quân sự". Thấy vậy, hai tổ tiền trạm ta kiên quyết không lên xe. Chúng buộc phải cắt bỏ cờ trắng. Khi đó ta mới lên xe về trụ sở.

        Trại Đa-vít là một doanh trại nằm cạnh đường băng sân bay Tân Sơn Nhất. Từ đây, quan sát xung quanh mớí thấy được thủ đoạn của Mỹ - nguy định cô lập chúng ta. Chúng không để cho nhân dân Sài Gòn có điều kiện tiếp xúc với cán bộ, chiến sĩ ta. Các vọng gác tầng tầng, lớp lớp, có công khai, cả bí mật giám sát mọi hoạt động của chúng ta trong khu vực đóng quân. Các loại phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ được áp dụng triệt để vào việc quan sát, thu thập thông tin về những hoạt động của ta trong trụ sở của hai đoàn.

        Sân bay Tân Sơn Nhất, một sân bay nhộn nhịp nhất khu vực Đông Nam Á cứ năm phút có một chuyến máy bay hạ cánh hoặc cất cánh. Cả ngày và đêm inh tai nhức óc vì tiếng ồn. Giấc ngủ luôn chập chờn vì những âm thanh của động cơ máy bay rít mạnh khi vọt lên bầu trời. Phần lớn những chuyến bay này chúng đi đánh phá vùng giải phóng của chúng ta. Mỗi lần có máy bay cất cánh là một lần Mỹ - nguy đi gây tội ác với đồng bào ta ở một nơi nào đó (?). Đòn tra tấn bằng tiếng ồn kéo dài quanh năm, suốt tháng, lâu dần mọi người cũng thành quen. Bọn chúng cho rằng trụ sở của hai phái đoàn ta đặt vào địa điểm này thì "Việt cộng sẽ không tài nào tiến công Sài Gòn được!".

« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2012, 10:30:34 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #207 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 11:01:59 pm »


        Bọn chúng đã lầm? Chúng ta vào đây đâu phải để tiến công chúng bằng quân sự với một lực lượng như thế này. Cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, bất kể nơi đâu có bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai, Ở đó sẽ có tiến công. Chúng ta đánh chúng bằng đủ loại vũ khí, đến cả con ong, ngọn tre, hòn đá còn được dùng để tiến công thì việc ta đóng trụ sở ở đây không cần thiết phải sử dụng vào mục đích đó. Chúng ta vào đây để buộc Mỹ - nguy phải nghiêm chỉnh thi hành những điều khoản đã cam kết trong Hiệp định Pa-ri, kiểm soát và giám sát việc rút hết quân Mỹ, quân chư hầu và phương tiện chiến tranh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, tên xâm lược Mỹ cuối cùng đã phải rút khỏi miền Nam Việt Nam dưới sự giám sát của chúng ta. Ta đã đòi chúng phải trao trả hàng chục nghìn đồng chí, đồng bào yêu nước của ta hiện bị chúng giam cầm, đọa đày nơi tù ngục. Nhưng để hạn chế những ảnh hưởng của cách mạng, thắng lợi bước đầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc mà nhân dân ta đã bền bỉ chiến đấu suốt mấy chục năm ròng thì việc Mỹ - nguy vây hãm, cản trở mọi hoạt động của chúng ta trong vùng chúng tạm thời kiểm soát là lẽ đương nhiên. Chúng sẽ không từ một thủ đoạn đê hèn nào, bất chấp luân thường đạo lý và luật pháp quốc tế để nhằm đạt được ý đồ đó.

        Việc đi lại của ta trong thành phố Sài Gòn bị chúng đặc biệt chú ý. Mỗi lần phải vào trung tâm thành phố để họp bàn, trao đổi, dự tiệc mời chiêu đãi hoặc trao công hàm cho ủy ban Quốc tế, tùy theo số lượng, người và xe của ta, chúng sẽ bố trí lực lượng "hộ tống" thích hợp nhằm khống chế, giám sát chặt chẽ suốt chặng đường đi và về trụ sở.

        Chỉ một xe ô tô, trên xe có hai người của ta, sĩ quan liên lạc và một đồng chí phiên dịch, cùng ngồi trong xe này có một nhân viên an ninh quân đội ngụy, còn lái xe thường là người của "Phủ đặc ủy tình báo" hoặc cơ quan an ninh quân đội ngụy. Chúng ngồi trên xe để giám sát anh em ta. Chúng bố trí hai xe Jeép Mỹ đi "hộ tống", một chiếc đi trước, một chiếc đi sau chiếc xe có hai người của ta. Mỗi xe đó đều có đủ bốn tên quân cảnh, một tên lái xe, một tên sử dụng máy vô tuyến điện léo nhéo, luôn mồm từ khi chuẩn bị ra đi cho đến lúc quay trở về trại Đa-vít hai tên còn lại lăm lăm súng AR15 trên tay, sẵn sàng nhả đạn vào chúng tôi.

        Lần nào cũng vậy, không hề thay đổi, dần dần không ai lạ lẫm gì với chuyện này. Có khi ngồi vào xe rồi, chưa đủ "bạn đồng hành bất đắc dĩ" ấy, chúng tôi thấy như thiếu một thứ gì đó(!). Mấy nhân viên an ninh ngụy thấy lủng củng người, xe và trang bị mỗi lần đi với hai anh em ta, có người tỏ vẻ lấy lòng, ghé vào tai chúng tôi với thái độ cẩn trọng: "Quý vị đi như thế này oai hơn Tổng thống của chúng tôi đấy!". Trên đường đi, ngoài hai xe Jeép "hộ tống” trước và sau, còn có các lực lượng cảnh sát, an ninh nổi, chìm "bảo vệ". Phía trước đầu xe cắm lá cờ của Ban Liên hợp quân sự màu da cam có số "4” nhỏ. Lâu ngày, mưa nắng làm cho lá cờ chuyển sang màu đỏ tươi, phần phật tung bay trong gió trông rất đẹp. Nhân dân đi trên đường thấy đoàn xe này đi qua là vẫy tay chào. Ngồi trong xe chúng tôi đã nghĩ đến ngày toàn thắng được hòa vào dòng người đang đi trên đường phố kia.

        Những nhân viên an ninh và quân cảnh ngụy rất sợ tình huống phải dừng xe dọc đường. Khi đoàn xe đang đi tới các ngã ba, ngã tư dù đèn giao thông báo hiệu màu đỏ, mọi loại xe khác phải dừng ngay, còn đoàn xe của Ban Liên hợp quân sự vẫn đi thẳng. Bọn đi "hộ tống” rất lo lắng khi gặp tình huống phải dừng xe dọc đường. Dân chtmg được nhìn thấy Quân giải phóng rõ hơn, niềm vui, sự tin yêu bộc lộ rất rõ trong ánh mắt, nụ cười thật tươi và trìu mến. Những hình ảnh ấy, tình cảm ấy làm cho chúng tôi vô cùng xúc động, là nguồn sức mạnh động viên anh em ngày càng kiên định hơn, tin tưởng hơn vào ngày chiến thắng, càng mưu trí, sáng tạo và dũng cảm hơn trong đấu tranh trực diện với kẻ thù. Đó cũng là hậu phương, là chỗ dựa về tinh thần rất tin cậy của chúng tôi.

        Có lần bị tắc đường, xe ùn cả lại, không thể nào vượt lên hoặc tránh sang lối khác, xe dừng khá lâu. Anh em ta mở cửa xe, lên vỉa hè đứng. Nhân dân Sài Gòn được nhìn thấy Quân giải phóng giữa ban ngày, công khai, bằng xương, bằng thịt trước mắt mình. Niềm vui được biểu lộ công khai của đồng bào bất chấp sự soi mói canh chừng của cảnh sát, mật vụ nguy. Viên sĩ quan an ninh ngụy cùng đi trên xe rất lúng túng, vội mở của xe và yêu cầu chúng tôi lên xe. Hắn phân trần với vẻ mặt méo xệch: "Các ông ra ngoài xe, không đảm bảo an toàn, chúng tôi không chịu trách nhiệm?".

        Nhiều người đứng gần đó cười ồ lên. Có ai đứng trong đám đông nói to:"Sợ dân Sài Gòn biết Quân giải phóng cũng là người như mình chứ gì (?)".

        Một bà cụ khoảng bảy mươi tuổi, mái tóc đã bạc trắng, miệng cười móm mém, tiến lại gần đồng chí sĩ quan liên lạc và chậm rãi nói như để mọi người đứng quanh đó cùng nghe: "Mấy chú giải phóng đẹp vầy mà người ta biểu là bảy Việt cộng bám cọng đu đủ không gãy. Thiệt là xạo!". Nói xong, cụ cứ để cho nước mắt trào ra trên đôi gò má nhăn nheo. Nước mắt của niềm vui, của tình thương yêu ruột thịt. Chắc má cũng có con cháu đang cùng chúng tôi chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai (?).

        Đường đã thông, xe đã chạy về hướng trung tâm thành phố, má vẫn còn đứng đó, nhìn theo chúng tôi, mái tóc bạc bay bay trong gió như vẫy chào.

        Trên bàn hội nghị, những trận chiến đấu trực diện thường diễn ra gay go, quyết liệt cần đến sự mưu trí, sáng tạo và dũng cảm. Bởi Mỹ - ngụy không cam chịu thất bại, ngay từ giờ phút đầu tiên Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ ngưy đã nổ súng lấn chiếm vùng giải phóng và hai đoàn đại biểu quân sự của cách mạng không thể triển khai trụ sở tại các khu vực trên toàn miền Nam Việt Nam. Nơi đây, dù không phải dùng đến súng đạn, không phải đổ máu nhựng tính chất quyết liệt gay gắt không kém. Nó đòi hỏi người tham chiến phải có đủ bản lĩnh chiến đấu, có một lập trường kiên định cách mạng tuyệt vời, hiểu sâu, biết rộng, đầy sáng tạo và trí tuệ. Ở đây mới đề cao được vị thế của cách mạng, tư thế của nhừng người chiến thắng. Đã có lúc kẻ thù phải công khai thừa nhận sự thấp hèn, thất thế của chúng ngay tại bàn hội nghị. Bản chất phản động tay sai bán nướe, lưu manh, côn đồ của chúng rất dễ dàng bộc lộ mỗi khi đuối lý trong tranh luận các chủ đề về yêu nưởc với bán nước, cách mạng với phản cách mạng, nhân đạo với vô nhân đạo, chống xâm lược với xâm lược, chính nghĩa và phi nghĩa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #208 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 11:03:00 pm »

        Đấu tranh trong quá trình trao trả giữa ta với địch là một cuộc chiến đấu hết sức căng thẳng. Lúc này phía Mỹ đã lẩn tránh, để cho phía ngụy đảm nhiệm. Họ không muốn trả lại cho ta hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ ưu tú và hàng trăm nghìn đồng bào yêu nước bị chúng bắt, giam hãm trong tù nguc. Để đổi được đồng chí, đồng bào yêu nước của mình đang bị địch đọa đày cả thể xác lẫn tinh thần nơi lao tù là một sự phối hợp chặt chẽ của rất nhiều lực lượng, của các hướng tiến công, có công khai và cả bí mật. Một nhà báo nước ngoài đã không quản hiểm nguy cung cấp cho ta một bản danh sách người của chúng ta bị Mỹ - ngụy giam cầm. Đây là minh chứng hùng hồn nhất cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng ta được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Địch buộc phải trao trả, khi ta có đủ chứng cứ chính xác về địa điểm, thời gian, con người. Thậm chí khi biết rằng không thể chối cãi được, chúng đã thay đổi ngay địa điểm giam giữ, tráo đổi tù binh, hèn hạ hơn, chúng còn đem những đồng chí, đồng bào yêu nước ưu tú nhất của cách mạng đi thủ tiêu, giết hại. Trong cuộc chiến đấu này, chúng ta đã buộc địch phải trao trả hàng chục nghìn cán bộ chiến sĩ quân giải phóng, hàng chục nghìn cán bộ dân chính và đồng bào yêu nước của ta. Nhìn những đồng chí, đồng bào yêu nước của ta trở về, trên thân hình còn mang đầy thương tích, bệnh tật, ốm yếu mà lòng chúng tôi xót xa. Nhưng trông họ vẫn hiên ngang, kiêu hãnh đi trong hàng ngũ. ánh mắt rực sáng đầy niềm tin chiến thắng như đang nâng bước họ đi trong sự chào đón của đồng chí, đồng bào vùng giải phóng Lộc Ninh và các địa điểm trao trả khác. Nhiều người giương cao lá cờ cách mạng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, họ giương cao và hô lớn những băng biểu ngữ được viết vội từ trong nguc tù của giặc. "Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam muôn năml', "Chúng ta đã chiến thắng", "Đả đảo chế độ hà khắc của nhà tù Mỹ - nguy" hoặc "Đả đảo Mỹ - nguy đàn áp tù binh"...

        Những băng cờ, biểu ngữ dài, rộng như thế đã được anh chị em cất giấu rất khéo trước sự kiểm soát gắt gao của bọn "quân cảnh" nguy. Bọn chúng hết sức ngạc nhiên, tức tối, không hiểu bằng cách nào chúng đã lục soát đến thế vẫn không phát hiện được? Chúng làm sao hiểu được tình yêu quê hương đất nưởc, trung với Đảng hiếu với dân, sáng tạo mưu tn và dũng cảm tuyệt vời đã cho họ sức mạnh kỳ diệu để vượt qua mọi hiểm nguy luôn rình rập quanh mình. Họ trở về với tư thế của những người chiến thắng!

        Trong cuộc chiến đấu này, Mỹ - nguy không từ một thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt nào mà chúng không dùng đến. Thậm chí, chúng còn đưa cả bọn lưu manh, côn đồ đến hành hung cán bộ trao trả của chúng ta. Máu của các anh đã đố xuống để đổi lấy tự do cho đồng chí, đồng bào yêu nước của mình.

        Cuộc sống của chúng ta trong trại Đa-vít cũng chính là một trận chiến đấu liên tục đã làm kẻ thù phải nể sợ. Giừa vòng vây hãm dày đặc của kẻ thù, vài trăm cán bộ, chiến sĩ vẫn lạc quan cách mạng, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Kẻ địch không chỉ vây hãm, kiềm chế những hoạt động thông thường của một phái đoàn ngoại giao. Chúng diễu võ dương oai sức mạnh của các loại vũ khí hiện đại để uy hiếp tinh thần, chúng khoe khoang mức sống vật chất dư thừa, cảnh vợ đẹp con khôn, chúng tìm mọi cách lôi kéo, rủ rê, dụ dỗ anh chị em ta. Mấy cô gái nhà thầu đem thực phẩm vào trại Đa-vít cho ta thực chất là nhân viên mật vụ, người của cơ quan chiến tranh tâm lý nguy hoặc "Thiên nga", "Phượng hoàng!' và "Phủ đặc ủy tình báo" ngụy... Chúng lân la dò hỏi, tìm hiểu quê quán, nghe cách phát âm của từng người để xác định nơi sinh trưởng, quay phim, chụp ảnh để bọn đầu hàng, phản bội nhận mặt... Chúng cố nắm bắt lai lịch, tâm lý, nhu cầu của từng người để tìm cách rủ rê, lôi kéo. Khi biết được quê quán, người thân, chúng cho người về địa phương để hù dọa, gạ gẫm. Có trường hợp bọn chúng về tận quê mời bà cụ thân sinh của đồng chí cán bộ lãnh đạo của đoàn ta lên Sài Gòn và hứa sẽ đưa vào trại Đa-vít gặp con trai. Người mẹ nào xa con lâu ngày lại không muốn gặp con? Nhưng mẹ đã cố nén lòng mình, trả lời thẳng với chúng: "Nếu các ông cho biết đó là con tôi, tôi xin cảm ơn? Con tôi đi theo cách mạng để đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược, giờ Mỹ thua đã phải rút quân về nước rồi. Mấy ông không làm gì được lại về đây bày đặt, nhờ tôi lôi kéo nó. Nó có lý tưởng của nó, tôi làm sao biểu nó về được?".

        Biết không thể lợi dụng được mẹ, bọn chúng hậm hực, lủi thủi ra về, ném lại phía sau những câu chửi thề tục tĩu.

        Mặc cho chúng giở đủ nhừng trò ma giáo, anh chị em ta vẫn lạc quan yêu đời. Cuộc sống hàng ngày còn được điểm tô bằng những bông hoa. Cây giống đem từ miền Bắc vào trồng trong vạt đất nhỏ chỉ bằng nửa chiếc chiếu. Gọi là đất thực chất chỉ có cát vàng. Thứ vật liệu này quân Mỹ đưa từ đâu đến để san ủi mặt nền và nhồi vào bao tải làm công sự dã chiến. Chúng tôi xếp những bao cát dọc bên hông nhà làm chỗ chứa đất. Hàng ngày vét từng xẻng nhỏ mùn rác dưới rãnh nước lên, đưa vào các khoang để độn cho có khoảng cách với cát vàng và gieo hạt giống hoa, hoa đồng tiền và trồng cả hoa lay ơn tại các vạt đất đó. Nhãn lồng, vải thiều và mít cũng vậy. Phải đào hố sâu hơn, mùn rác được lấy từ ven hàng rào đem về. Sau một thời gian, hoa đã nở rất đẹp, nhãn, vải, mít và chuối lớn rất nhanh, có tán cây xanh trông càng vui mắt. Những luống rau non mơn mởn bổ sung vào bữa ăn hàng ngày. Chính hoa, rau, cây trái được trồng như vậy đủ nói lên với bạn bè trong ủy ban Quốc tế, các phóng viên nước ngoài rằng cuộc sống của chúng tôi lạc quan như vậy đó! Họ hết sức cảm phục. Buổi liên hoan văn nghệ đã có hoa tươi để tặng diễn viên sau tiết mục biểu diễn. Dù không nhiều, chỉ một bông cho từng người đã đủ để ai cũng thấy tự hào và vui sướng lắm rồi. Cuộc sống của chúng tôi nền nếp, khoa học và lãng mạn. Phải có một tâm hồn thanh cao và kiên định cách mạng thật sự mới tạo ra cho mình một cách sống đẹp đến thế?

        Cứ vào các tối thứ tư, thứ bảy hàng tuần, tổ chiếu phim lại căng phông lên, gió chiều lồng lộng thổi làm tấm phông no gió. Tối đó, chúng tôi được sống với những nhân vật trong phim, được thưởng thức những khúc ca, những điệu múa của mọi miền đất nước. Mỹ - ngụy nhiều lần gây trở ngại cho những chuyến bay liên lạc giữa Tân Sơn Nhất với Hà Nội. Chúng cắt chuyến bay? Ta không thay được phim mới, đem phim cũ ra chiếu lại, mọi người vẫn đến bãi xem rất đông. Nhiều người xem đến nỗi thuộc gần hết lời thoại của nhân vật trong phim. Chiều đến, mấy chiến sĩ cảnh vệ nôn nóng, thấy căng phông vội gọi thật to về phía mấy anh trong tổ chiếu phim: "Tối nay chiếu phim gì thế anh ơi?". Có tiếng trả lời cũng to không kém:"Trần Quốc Toản "lại" ra quân!". Tiếng "lại" được nhấn mạnh hơn gây sự chú ý cho người nghe. Cả hai bên cùng cười vang. Tiếng cười vọng sang phía bên kia hàng rào. Tên lính ngụy đứng gác trên chòi nghe thấy tiếng cười to giòn giã của mấy "ông giải phóng" cũng vui lây. Hắn vội quay đi để giấu nụ cười vừa bật ra từ khóe miệng.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #209 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 06:32:13 am »

        Tối đó chúng tôi được xem phim "Trần Quốc Toản ra quân". Nghĩ tới mấy từ "Trần Quốc Toản "lại" ra quân" tự nhiên mọi người bỗng bật ra tiếng cười. Tiếng cười lạc quan mà thật ý nghĩa. Bởi lẽ khí thế đánh giặc Nguyên Mông đã chuyển thành khí thế đánh Mỹ, diệt ngụy ngày nay.

        Thỉnh thoảng chúng giở trò cắt điện, cắt nước. Trại Đa-vít mà thiếu hai thứ đó thì chẳng khác gì sa mạc. Cái nắng nóng như đổ lửa, sân xi măng, mái lợp tôn fibrô xi măng hấp thụ nhiệt và tỏa ra xung quanh làm cho mọi người như đang sống trong lò luyện gang. Mọi người được hun bằng nắng nóng như thế nên đều có nước da màu nâu bóng. Mặc chúng giở trò, mặc nắng nóng, ta đã khắc phục bằng cách chủ động đào giếng đề phòng nếu bị cắt nước dài ngày vẫn có đủ nước sử dụng.

        Đồng chí thiếu tướng, trưởng đoàn Hung-ga-ri trong ủy ban Quốc tế thấy chúng tôi sống đàng hoàng lạc quan như vậy đã mạnh dạn đề nghị với lãnh đạo của phái đoàn ta là vào ngày chủ nhật hàng tuần cho phép đồng chí đưa sĩ quan của mình sang trại Đa-vít giao lưu và vui chơi thể thao với chúng ta. Đồng chí giải thích: "Chúng tôi sang để học tập các đồng chí. Cuộc sống của các đồng chí đã hết sức khó khăn, Mỹ - ngụy luôn vây hãm ngặt nghèo thường gây trở ngại và hiểm nguy đêm ngày rình rập mà các đồng chí vẫn lạc quan yêu đời, tin tưởng ngày chiến thắng, có một cuộc sống thật đẹp, thật đàng hoàng. Chúng tôi nghĩ không học tập các đồng chí thì còn học ở đâu?

        Từ đó các đồng chí ở hai phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan thường xuyên sang trại Đa-vít với chúng ta. Nhất là những khi địch gây trở ngại, uy hiếp an toàn của hai phái đoàn ta, các đồng chí có mặt ngay bên cạnh chúng tôi, kịp thời đấu tranh buộc chúng phải chấp hành theo Hiệp định! Những buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao của chúng ta còn gây được thiện cảm với các phái đoàn khác trong ủy ban Quốc tế, họ đã hưởng ứng và tham gia đầy đủ. Họ càng hiểu và thấy rõ sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của chúng ta.

        Những ngày tết truyền thống của dân tộc lại càng đặc biệt, từ Hà Nội chuyển vào trại Đa-vít bánh kẹo, trà, thuốc, quý nhất là cành đào Nhật Tân. Trên bàn 'thờ Tổ quốc đón xuân có đào và mai cùng khoe sắc mừng mùa xuân mới như thầm hẹn vớí mọi người Bắc Nam sẽ sớm Bum họp một nhà.

        Sau trận Buôn Ma Thuột, địch thất bại nặng nề trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam. Mất thế chiến lược chúng co cụm và rút bỏ nhiều vùng chiến thuật. Trại Đa-vít trở thành một địa chỉ cần thiết để Mỹ - ngụy thăm dò, liên hệ. Độ căng thẳng càng ngày càng tăng lên khi các mũi tiến công của ta đang nhằm hướng tiến về Sài Gòn.

        Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, trại Đa-vít trở thành tiền đồn của chiến dịch và đã có những đóng góp đáng kể trong hoạt động chính trị, quân sự, tạo được lợi thế cho cách mạng qua đấu tranh ngoại giao và được dư luận trong nước, quốc tế đồng tình ủng hộ, cung cấp kịp thời những thông tin về tình hình địch phục vụ đắc lực cho cấp trên hoạch định kế hoạch tác chiến và đề ra hướng, mũi tiến công. Nhiều đồng chí từ trại Đa-vít trở về căn cứ cũng có mặt trong các binh đoàn tiến vào giải phóng Sài Gòn.

        Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Quân ủy Miền và Đảng ủy ta trong phái đoàn đã kịp thời tổ chức lực lượng, xây dựng trận địa chiến đấu ngay tại trại Đa-vít. Chỉ vởi những dụng cụ thô sơ, một ít xẻng cuốc, phần lớn là vật dụng trong doanh trại của địch như cọc màn bằng sắt, cánh tủ sắt, thang giường sắt đã được sử dụng triệt để vào việc đào hầm, hào giao thông. Sau ít ngày đào đắp, ta đã có hầm chỉ huy, hầm quân y, quân lương, hầm dự trữ nước và có thể di chuyển từ nhà nọ sang nhà kia bằng đường hào. Địch canh gác xung quanh nhưng không hề phát hiện được việc làm này của ta.

        Tốp máy bay A37 do phi công ta lái ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất cùng pháo lớn và hỏa tiễn của ta từ Nhơn Trạch đã rót trúng và xới tung đường băng. Những đám cháy, những tiếng nổ rung chuyển mặt đất. Chế độ Sài Gòn sắp tới giờ hấp hối. Sáng sớm ngày 30 tháng 4 năm 1975, địch từ trại huấn luyện lính dù tháo chạy, chúng vứt bỏ quần áo rằn ri dọc đường Lê Văn Lộc. Những chòi canh, những vọng gác xung quanh trại Đa-vít không còn bóng dáng tên lính nguy nào.

        9 giờ 30 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, 1á cờ cách mạng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngạo nghễ tung bay trên đỉnh tháp nước của trại Đa-vít. Nhìn lên lá cờ chiến thắng, lòng mọi người rạo rực niềm vui. Khúc khải hoàn ca của dân tộc đã đến rồi. Nước mắt của niềm tự hào, của độc lập, tự do cứ trào ra.

        11 giờ 30 phút, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

        Đất nước được Độc lập, Tự do và ngày sum họp đã trở thành hiện thực.

        Ngày 1 tháng 5 năm 1975, trên bàn làm việc của Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng quân đội nguy, quyển lịch công tác nằm chỏng chơ trên bàn. Một trang giấy để ngỏ với những dòng viết vội bản "Chỉ thị cho cấp dưới”. Đại ý của "chỉ thị" này là được quyền sử dụng các biện pháp sau đây đối với trại Đa-vít không cần xin chỉ thị cấp trên, chỉ cần phát hiện có tiếng súng từ đó bắn sang sân bay:

        - Dùng pháo và cối hủy diệt.

        - Cho xe tăng và bộ binh tràn ngập.

        - Ném bom.

        - Rải chất độc hóa học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố.

        Bản "chỉ thị" nguy hiểm này được Viên ra lệnh trước lúc trốn chạy. Lý do để hủy diệt trại Đa-vít rất mơ hồ. Kẻ thực hiện chỉ cần tạo cớ có tiếng súng sẽ thẳng tay đánh phá vào trụ sở của phái đoàn ta. Từ ngày 26 tháng 4 năm 1975, khu vực sân bay Tân Sơn Nhất thiếu gì tiếng súng nổ (!). Cao Văn Viên ra lệnh như vậy sẽ khuyến khích cấp dưới có thể dễ dàng thực hiện "mật lệnh" của y.

        Ban lãnh đạo của phái đoàn ta cũng dự kiến những tình huõng tương tự mà kẻ thù sẽ giở trò và đã có những phương án tác chiến phù hợp. Địch không kịp thực hiện bản "chỉ thị" cho cấp dưới vì bọn chúng quá hoang mang, tan rã quá nhanh chóng trước sức mạnh tiến công của các binh đoàn chủ lực ta như vũ bão vào hang ổ kẻ thù. Chúng chỉ lo trốn chạy, vơ vét của cải, cứu lấy bản thân, nên mưu đồ thâm độc kia đành bỏ dở.

        Tính từ ngày hai phái đoàn ta vào để làm nhiệm vụ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, là tám trăm hai mươi ba ngày đêm. Ngần ấy ngày đêm hên tục phải chiến đấu vởi kẻ thù tại giữa sào huyệt của chúng, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân ta đã không quản hiểm nguy, không nề gian khó luôn xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, của quân đội và nhân dân ta, giữ vững khí tiết, phẩm chất người chlến sĩ cách mạng, đó là "giàu sang không quyến rũ, uy vũ chẳng chuyển lay", ta sống vui tươi, lânh mạnh, lạc quan tín tưởng vào ngày thắng lợi cuối cùng. Cho tới ngày Đại thắng mùa Xuân, non sông thu về một mối, chúng tôi đã trở về vẹn nguyên cùng với các binh đoàn chủ lực, các lực lượng vũ trang nhân dân, quần chúng yêu nước trên toàn miền Nam Vìệt Nam và trong thành phố Sài Gòn có mặt để chứng kiến sự cáo chung của chủ nghĩa đế quốc Mỹ xâm lược và bè lu tay sai sau cuộc trường chính vĩ đại của dân tộc.

        Chúng tôi đã sống và chiến đấu giữa hang ổ kẻ thù trong suốt tám trãm hai mươi ba ngày đêm tại trại Đa-vít như thế đó.

                             Hà Nội, tháng 11 năm 2004

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM