Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:10:10 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315213 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #210 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 08:40:29 am »


CUỘC GẶP MẶT SAU 30 NĂM
CỦA CÁC NHÀ NGOẠI GIAO MẶC ÁO LÍNH
NGUYỄN NHƯ KlM      
    Cán bộ Thông tấn xă Việt Nam      
        
        Đầu năm 1973, hơn 300 sĩ quan và chiến sĩ quân đội ta đã vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên. Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, số sĩ quan và chiến sĩ này nhập vào các đơn vị khác nhau làm nhiệm vụ quân quản và ngày nay phần lớn trong số họ đã về hưu, một vài người còn lại cũng tuổi 50-55. Khi vào trại Đa-vít làm sĩ quan của các tiểu ban trực tiếp đấu tranh trên bàn hội nghị bốn bên, hai bên, sĩ quan trong các ban nghiệp vụ sĩ quan liên lạc, thông tin, bảo vệ, báo chí, phần lớn họ ở lứa tuổi khoảng 30 trừ các anh trong ban lãnh đạo hai phái đoàn tuổi cao hơn một chút.

        Cuộc gặp lần đầu sau 30 năm của các sĩ quan và chiến sĩ trong Ban Liên 1ạc quân sự bốn bên và hai bên vừa tổ chức ngày 27 tháng 4 tại nơi đây là trận địa pháo cao xạ bên bờ hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Đó là cuộc gặp hết sức cảm động và thân tình của những nhà ngoại giao mặc áo lính mà nay phần lớn tóc đã bạc, đã là ông bà nội ngoại.

        Chỉ tiếc là không biết địa chỉ của nhau, cho nên cuộc gặp lần này hội tụ mới được gần 100 người.

        Mở đầu cuộc gặp, mọi người xúc động dành 1 phút tưởng nhớ Thượng tướng Trần Văn Trà và Thượng tướng Lê Quang Hòa hai vị trưởng đoàn đầu tiên của hai phái đoàn, cùng một số sĩ quan đã mất.

        Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự, trưởng đoàn quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa trong tổ Liên hợp quân sự bốn bên, nay đã 78 tuổi nhưng vẫn nhiệt tình kể lại những kỷ niệm hoạt động cách đây 30 năm tại trại Đa-vít. ông nói. "Cuộc đấu tranh ngoại giao với Mỹ - ngụy sau thời kỳ 60 ngày của Tổ Liên hợp quân sự bốn bên là hết sức gay gắt. Phía ngụy quân tại bất kỳ cuộc họp nào cũng chỉ có phá bĩnh. Phía Mỹ thì khá hơn vì họ muốn nhờ ta tìm hài cốt của khoảng 1.000 lính Mỹ chết và mất tích ở cả hai miền Nam Bắc. Những ngày diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, hơn 300 anh chị em của hai đoàn Ở trại Đa-vít phải lo đào hầm, dự trữ lương thực, nước uống chuẩn bị cho các loại phương án chống kẻ thù kể cả trường hợp xe tăng ngụy có thể tràn vào… ". Ông kể: Chúng ta cũng nắm được dã tâm của kẻ thù và theo tài liệu ở bàn làm việc của tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng nguy quân mà sau này ta thu được thì chỉ cần một phát súng từ trại Đa-vít bắn ra là xe tăng ngụy sẽ tràn vào nghiền nát hơn 300 cán bộ, chiến sĩ ta ở trong trại. Chính vì vậy, kỷ luật của hai đoàn ta rất nghiêm, tuyệt đối không để xảy ra tiếng nổ để địch có cớ tiến công. Mặt khác ta cũng trang bị hai va li đạn chống tăng để tự vệ". Ông kể tìếp, ngày 26 tháng 4 năm l975, tức là bốn ngày trước khi giải phóng Sài Gòn, ông được lệnh ra Hà Nội và trở về Sài Gòn vào buôi tối. Biết được tin này, tướng nguy Phan Hòa Hiệp đã đề nghị cho y cùng ra Hà Nội để "thương lượng với Hà Nội". Ông Tự từ chối và nói Hiệp có việc gì thì cứ gặp Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tất nhiên Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cũng từ chối không gặp Hiệp vì có gì mà phải thương lượng với ngụy quân Sài Gòn nữa khi mà ta sắp mở đợt tổng công kích. Ông Tự kể, tối 26 tháng 4 năm 1975, ông trở 1ại Sài Gòn và ngay đêm hôm đó pháo binh ta từ Nhơn Trạch bắt đầu nã vào các điểm chiến lược ở trong và ngoại vi Sài Gòn, mở đầu một cuộc tổng công kích vào sào huyệt cuối cùng của địch.

        Đại tá Vũ Nam Bình, phụ trách tổ trao trả tù binh, kể lại chuyện đấu tranh trả lại tự do cho các anh, chị Võ Thị Thắng, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Võ Như Lanh.., và tình hình về cuộc sống thường nhật của hơn 300 người trong trại Đa-vít giữa vòng vây của địch suốt hơn 820 ngày đêm.

        Đại tá Hoàng Duy Hòa, nay về hưu Ở quê hương Đông Hưng, Thái Bình cũng có mặt và tâm sự: "Mình đang ở trong rừng Tây Ninh thì được lệnh tới Lộc Ninh để vào Sài Gòn làm sĩ quan liên lạc. Lần đầu được đi máy bay Mỹ dọc theo đường 13 vào Sài Gòn cũng thấy lạ lẫm. Sau này mình còn đi 70 lần máy bay Mỹ tới các nơi ở miền Nam để thực thi Hiệp định Pa-ri. Giải phóng Sài Gòn xong mình được cấp trên giao cho làm quản giáo cai quản 33 viên tướng nguy. Đó là những ngày tuyệt vời đối với mình với tư cách là một sĩ quan quân đội nhân dân".

        Nhà giáo Trần Hán Ngọ, một giáo viên tiếng Anh ở thành phố Nam Định vào Sài Gòn làm phiên dịch kể rằng "ngay từ lần đầu cùng đồng đội từ Sài Gòn bay ra Đức Phổ, đoàn của anh đã bị bọn ác ôn ngụy dùng búa gậy đánh đập. Chúng đánh mạnh vào đầu làm anh bất tỉnh tại chỗ. Sau khi được cấp cứu, anh bay trở lại Sài Gòn rồi được đưa ra điều trị tại Bệnh viện Trung ưdng quân đội 108.

        Nhà báo Nguyễn Như, trưởng đoàn Thông tấn xã Việt Nam tại Ban Liên hợp quân sự bốn bên kể về cuộc hành trình bằng máy bay C130 của Mỹ từ sân bay Gia Lâm vào Tân Sơn Nhất với niềm xúc động khi bay qua mảnh đất miền Nam thân yêu sau hơn 20 năm chia cắt. Anh cho biết "mình được đi thăm nhà tù Biên Hòa, Phú Quốc, dự các buổi trao trả tù binh ở Lộc Ninh, Xa Mát, Hoài Nhơn và Đức Nghiệp, chứng kiến những tên lính Nam Hàn cuối cùng rút khỏi Nha Trang, những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Đà Nẵng và Sài Gòn.., có thể nói đó là những điều không phải những nhà báo nào cũng có được".

        Câu chuyện cứ dài như mạch nước ngầm tuôn chảy không bao giờ cạn. Gần 100 nhà ngoại giao mặc áo lính đã quyết định lập Câu lạc bộ Ban Liên hợp quân sự trại Đa- vít, tập hợp các sĩ quan, chiến sĩ trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên đang sinh sống tại khu vực phía Bắc để làm nơi gặp mặt hàng năm vào những ngày kỷ mệm lịch sử của dân tộc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #211 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 11:20:44 am »


DANH SÁCH CÁC HÃNG THÔNG TẤN,
VÔ TUYÊN TRUYÊN HÌNH, ĐÀI PHÁT THANH,
BÁO NƯỚC NGOÀI CÓ ĐẠI DIỆN TẠI SÀI GÒN
ĐÃ DỰ CÁC CUỘC HỌP BÁO CỦA TA
TRONG THỜI GIAN 1973 - 1975
     
   
 1. MỸ
        - Thông tấn: UPl, AP
        - Vô tuyến truyền hình: NBC, ABC, CBS
        - Phát thanh: VOA
        - Báo: NY-T, BOSTN GLOBE, WASHINGTON POST, LOS ANGELES TIMES, TIMES, TIMES MAGAZINE, NEWS WEEK, RELIGION NEWS SERVICE, US AND WORLD REPORT, USIS, NEWSPAPER, THE WALL STREET, CHICAGO TRIBUNE, BALTIMORE SUN, NEWS DAV.

2. ANH
        - Thông tấn: REUTER - Phát thanh: BBC.
        - Báo: TIMS LONDON, LONDON DAILY, LONDON SUNDAY.

3. PHÁP
        - Thông tấn: AFP
        - Phát thanh: ORTF
        - Chuyên về ảnh: SIGMA
        - Báo: LE FIGARO, LE MONDE, LA-CROIX, CARREFOUR, LIBERATION, LA VOIX DU NORD, EXPRESS.

4. CHLB ĐỨC
        - Vô tuyến truyền hình: ZDF
        - Báo: DER SPIEGEL, DPA, DIEWELT.

5. Ý
        - Báo: LA STEMPA, IN TEMPO, CORRIERE DELLA, ANSA.

6. HÀ LAN
        - Phát thanh: RADIO HOLLANDAISE
        - Vô tuyến truýền hình: HOLLANDE TIVI.

7.THỤỴ SĨ
        - Vô tuyến truyền hình: SUISSE TIVI.

8. ĐAN MẠCH
        - Phát thanh: RDIO DANEMARK

9. TÂY BAN NHA
        - Thông tấn: SAPISA AGENCY
        - Vô tuyến truyền hình: SUEDE TIVI.

10 THỤY ĐIỂN:
        - Vô tuyến truyền hình: SHEDE TIVI.

11. NA UY
        - Phát thanh - Vô tuyến truyền hình: NORVEGIAN RADlO/TIVI.

12. HUNG'GA-RI
        - Báo: BÁO ĐẢNG CÔNG NHÂN XHCN HUNG-GA-RI.

13. BA LAN
        - Báo: BÁO ĐẢNG CÔNG NHÂN THỐNG NHẤT BA LAN.

14.CA~NA-ĐA
       - Phát thanh: CANADIAN B.L CB (CANADIAN BROADCASTING SYSTEM).

13. ÚC
       - Vô tuyến truyền hình: ABC.
       - Báo: SYDNEY MORNING, ANP (AUSTRALIAN NEWS PAPER).

16. NIU DI-LÂN
       - Báo: NEW ZEALAND PRESS.

17. NHẬT
       - Thông tấn: KYODO NEWS
       - Vô tuyến truyền hình: NHK, ASAHI TIVI, JIJI TIVI, FUJI TIVI, NET TIVI.
       - Báo: MAINICHI, YOMINURI, SENKEI, JIJI, JIJI PRESS, TBS, NIKKEL, ASAHI.

18. PAKISTAN:
        - Liên hợp báo chí Pakistan.

19. ĐÔNG NAM Á: FEER (tạp chí Kinh tế Viễn Đông).

20. NAM TRIỂU TIÊN:
        - Báo: KOREA REPORT.

21. ÁC-HEN-TI-NA:
        - Phát thanh: RADIO ARGENTIINE.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #212 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 11:37:41 am »



"MẤU CHỐT LÀ Ở CHỖ QUÂN MỸ PHẢI RA
CÒN QUÂN TA THÌ Ở LẠI"
[1]
LÊ DUẨN              
    Nguyên Tổng Bi thư Đảng Cộng sản Việt Nam(Trích Phát biểu kết luận đợt một Hội nghị Bộ Chính trị,  được nêu trong thư "Gửi anh Bảy Cường" [2] ngày 10 tháng 10 năm 1974)  
 
... "Ý đồ chiến lược của ta khi ký Hiệp định Paris là gì?

        Tuy nói Mỹ phải ra vì thua, vì yếu, nhưng ta biết rằng Mỹ vẫn còn tiềm lực lớn và nhiều mưn đồ độc ác. Ta không bao giờ chủ quan mà cho rằng chúng đã "sức tàn lực kiệt". Ta tuy thắng liên tiếp và đã mạnh lên, nhưng còn gặp nhiều khó khăn. Đến lúc này, sự viện trợ của phe ta không phải đầy đủ và kịp thời như ta mong muốn... Trong hoàn cảnh đó, ta phải tạo ra một thế đi lên vững nhất, một thế thắng chắc nhất. Chính vì lẽ đó mà ta ký Hiệp định Paris. Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải là ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần, mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại, hành lang Nam Bắc vẫn nối liền, hậu phương gắn liền với tiền phương thành một dải liên hoàn thống nhất; thế trận tiến công của ta vẫn vững. Ý định của ta là giữ nguyên thế và lực của mình ở miền Nam để tiến lên tiếp tục tiến công địch. Thông qua Hiệp định Paris, ta đấu tranh đòi thi hành dân chủ, phá bỏ kìm kẹp; ta tổ chức, tập hợp quần chúng mở rộng mặt trận yêu nước, phân hoá bọn tay sai, cô lập kẻ thù, nhằm làm yếu hơn nữa lực lượng mọi mặt của ngụy quân, nguy quyền, tiến lên hoàn toàn xoá bỏ chúng. Trong trường hợp địch không thi hành hiệp định, gây lại chiến tranh, thì ta có sẵn thế và lực mạnh để phản công tiêu diệt chúng. Tình hình phát triển theo khả năng nào, chúng ta cũng hoàn toàn chủ động. Quyết tâm của chúng ta là tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn chứ không bao giờ dừng lại. Ký Hiệp định, ta tỏ ra rất kiên quyết, nhưng cũng rất mềm dẻo. Ta quyết giành thắng lợi cuối cùng, nhưng biết thắng từng bước... Từ Cách mạng tháng Tám đến nay, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu với nhiều tên đế quốc lớn mạnh.

        Cách mạng đã trải qua nhiều chặng đường, không ngừng phát triển từ bước này đến bước khác, và cuối cùng nhất định phải thành công trong cả nước Việt Nam. Con đường phát triển của cách mạng nước ta tất yếu phải như vậy...".
---------------

[1] Lê Duẩn: "Gửi anh Bảy Cường':, Thư vào Nam, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.372-373. Tựa đề do Ban Biên soạn đặt.

[2] Anh Bảy Cường tức đồng chí Phạm Hùng, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nguyên Bí thư Trung ương Cục miền Nam từ năm 1967 đến 1975.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Ba, 2012, 02:13:51 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #213 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 02:18:43 pm »



MUỐN CHIÊN THẮNG ĐẾ QUỐC MỸ,
PHẢI LẬP BA TẦNG MẶT TRẬN
[1]
TRƯỜNG CHINH              
        Nguyên Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
        Nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam..
        Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
(Trích Phát biểu tại Đại hội lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ ngày 14 đến 17 tháng Tư 1971)

 
        "Đứng trước kẻ thù hung bạo và nham hiểm là đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Việt Nam ta phải làm gì? Phải đấu tranh dưới mọi hình thức: đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, đề tống cổ bọn xâm lược ra khỏi nước ta...

        Về đấu tranh ngoại giao, nhân dân ta nhiệt liệt ủng hộ lập trưởng Bảy điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã được nêu ra tại Hội nghị bốn bên ở Paris ngày 1 tháng Bảy 1971. Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân trong nước phải tạo cơ sở vững chắc cho đấu tranh ngoại giao. Đấu tranh ngoại giao phải nêu cao mục đích đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, kịp thời vạch trần mọi âm mưu và hành động của địch, bóc trần những luận điệu lừa bịp, mị dân của chúng; chỉ rõ thế tất thắng của ta và thế thất bại của địch; góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta.

        Muốn cho cuộc đấu tranh về cả ba mặt trên đây đạt được thắng lợi ngày càng to lớn dẫn đến thắng lợi hoàn toàn, một điều kiện quan trọng là phải động viên và tập hợp lực lượng.

        Chúng ta chủ trương lập ba tầng Mặt trận thống nhất để bao vây đế quốc Mỹ xâm lược và chiến thắng chúng.

        Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ ở Việt Nam, Mặt trận thống nhất chống Mỹ của các dân tộc Đông Dương và Mặt trận của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập dân tộc và hoà bình, đó là ba tầng Mặt trận bao vây và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Lập được ba tầng mặt trận như thế thì giác Mỹ bị vây hãm chặt trong muôn trùng lưới thép, nhất định không tránh khỏi bị thất bại hoàn toàn".

------------------
       [1] Trường Chinh: Về công tác Mặt trận hiện nay. Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội. 1972, tr.18-26. Tự đề do Ban Biên soạn đặt.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #214 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 04:23:02 pm »



ĐÀM PHÁN PARIS - ĐỈNH CAO CỦA MẶT TBẬN
NGOẠI GIAO THỜI KỲ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

NGUYỄN DY NIÊN                
        Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
 
        Nhân dịp tròn 30 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27-l-1973 - 27-1-2003), Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban Đối ngoại Trung ương, Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bộ Văn hoá Thông tin đã tổ chức trọng thể nhiều hoạt động kỷ niệm cả ở Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Các cơ quan thông tin đại chúng đã liên tiếp đăng tải nhiều thông tin và bài viết phân tích đề cao sự kiện quan trọng này. Cũng nhân dịp này, tại Paris, với sự bảo trợ của Bộ Ngoại giao Pháp, một cuộc hội thảo quốc tế đã được tổ chức quy tụ hàng trăm học giả đến từ nhiều nước trên thế giới nhằm đánh giá tác động của cuộc chiến tranh của Mỹ đối với châu Âu và ý nghĩa của Hiệp định Paris về Việt Nam.

        Hiệp định Paris là một văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc chiến tranh giải phóng thần thánh của dân tộc ta, là đỉnh cao của cuộc đấu tranh ngoại giao bền bỉ trong một giai đoạn đầy khó khăn, phức tạp của sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

        Đối với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử như một mốc son sáng chói, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc mà các thế hệ cán bộ ngoại giao rất đỗi tự hào. Ba mươi năm đã trôi qua kể từ thời kỳ đầy sôi động và hào hùng đó, thế giới đã đổi thay nhiều. Dân tộc ta đã đi tiếp những chặng đường mới, thực hiện khát vọng ấp ủ từ ngàn đời nay là độc lập, thống nhất và phát triển đất nước phồn vinh, bảo vệ vững chắc giang sơn mà cha ông đã gây dựng và những thành quả của cách mạng. Nhưng ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của Hội nghị Paris và Hiệp định Paris vẫn có giá trị thời sự và thực tiễn hết sức to lớn.

        Nhìn nhận lại cuộc đấu tranh ngoại giao đưa đến việc ký kết Hiệp định Paris còn là ôn lại lịch sử, nhìn lại những chặng đường đã đi suy ngẫm về đường lối chỉ đạo và sách lược đã được vận dụng, về những đợt tiến công của ta cũng như những ý đồ, mưu mô, hành động của đối phương, để hiểu hơn và đánh giá đúng hơn về diễn biến của Hội nghị, về nguyên nhân thành công và ý nghĩa của thắng lợi. Đối với ngành ngoại giao, kỷ niệm sự kiện lịch sử này còn là dịp để giáo dục truyền thống vẻ vang của ngành và thể hiện lòng biết ơn, sự tôn vinh đối với các thế hệ ngoại giao cha anh đã làm nên mốc son ngời sáng đó.

        Hội nghị Paris là cuộc đụng đầu ngoại giao tay đôi đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, kết thúc bằng Hiệp định Paris trong đó Chính phủ Hoa Kỳ đã phải làm điều mà họ đã lẩn trốn ở Hiệp định Genève 1954: "tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam". Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần tạo nên bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta khi buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, từng bước đi vào giải pháp, chấm dứt chiến tranh và can thiệp ở Việt Nam, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, rút quân đội xâm lược ra khỏi miền Nam. Việc Mỹ buộc phải "cút”  khỏi miền Nam đã mở ra cục diện chính trị và chiến trường thuận lợi để quân và dân ta tiến tới "đánh cho nguy nhào" mà đỉnh cao là đại thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và Campuchia, góp phần đưa sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân hai nước láng giềng này đến thắng lợi cuối cùng.

        Nhân dân các dân tộc yêu chuộng hoà bình và bị áp bức trên thế giới chúc mừng Việt Nam và hoan nghênh Hiệp định Paris, vì hơn ở đâu hết, cuộc đấu tranh ngoại giao ở Pans và Hiệp định Paris thể hiện thắng lợi của cuộc đấu tranh của chính nghĩa chống phi nghĩa, của đại nghĩa chống bạo lực hung tàn. Chính vì thế mà thắng lợi của Việt Nam kết tụ trong Hiệp định Paris và trong việc kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng, thu giang sơn về một mối đã củng cố niềm tin, đã khích lệ tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình, độc lập và tự do trên toàn thế giới.

        Ý nghĩa to lớn của Hiệp định Paris còn thể hiện ở tính thời đại của nó. Cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris đã chứng minh cho tính tất thắng của sự nghiệp chính nghĩa, cho sức mạnh bất diệt của một dân tộc nhỏ dám "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", cho chân lý "không có gì quý hơn độc lập, tự do". Những bài học kinh nghiệm của Việt Nam từ Hội nghị Paris và Hiệp định Paris vì thế cũng là di sản của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.

        Bài học kinh nghiệm bao trùm lên tất cả là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt và bản lĩnh lãnh đạo vững vàng của Đảng ta và về vận dụng đúng đắn tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Mình trong tất cả những vấn đề liên quan đến Hội nghị Paris. Nhờ đó mà trong mọi hoàn cảnh, trước mọi diễn biến của tình hình thế giới, ở mọi thời khắc khó khăn và phức tạp, trước mọi ý đồ và mưu mô xảo quyệt của đối phương, chúng ta vẫn kiên định đường hướng, son sắt lòng tin, đối sách thích hợp, ứng phó linh hoạt. Nhờ đó mà chúng ta tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các mặt trận đấu tranh chính trị quân sự và ngoại giao, giữa trong nước và ngoài nước, giữa Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, giữa nền ngoại giao miền Bắc xã hội chủ nghĩa và nền ngoại giao miền Nam hoà bình, trung lập để có được "tuy hai mà một, tuy một mà hai", giành thắng lợi từng bước tiến tới thắng lợi cuối cùng. Nhờ đó, cuộc đấu tranh ngoại giao của chúng ta ở Paris luôn kiên định mục tiêu nhất quán mà vẫn linh hoạt trong bước đi và sách lược; luôn giữ vững độc lập, tự chủ mà vẫn tranh thủ rộng rãi bạn bè, dư luận và không ngừng chủ động tấn công.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Ba, 2012, 06:18:05 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #215 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 04:23:55 pm »

        Hai là bài học về độc lập, tự chủ. Đây là bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam nới chung và cuộc đấu tranh ngoại giao xung quanh và tại Hội nghị Paris nói riêng. Độc lập, tự chủ trong mọi quyết sách, trong từng bước đi, đã giúp chúng ta đứng vững ngay cả khi tình hình quốc tế đã xuất hiện không ít diễn biến và yếu tố bất lợi. Nhờ giữ vững độc lập, tự chủ mà chúng ta luôn ở thế chủ động tiến công, kiên định nguyên tắc nhưng linh hoạt trong sách lược đàm phán, luôn bảo vệ được lợi ích đất nước, gạt được các tác động tiêu cực của bên ngoài để thực hiện được mục tiêu đề ra.

        Ba là bài học về thời cơ. Quá trình đi vào đàm phán, tiến hành đàm phán, giành thắng lợi từng bước và kết thúc đàm phán ở Hội nghị Paris là kết quả của sự vận dụng tài tình tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong việc đánh giá cục diện quốc tế, diễn biến và so sánh lực lượng ở chiến trường, nội tình nước Mỹ, từ đó xác định các thời cơ lớn của ngoại giao và đàm phán. Tạo dựng thời cơ, đánh giá đúng thời cơ, nắm bắt được thời cơ và tận dụng mọi thời cơ, chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của đất nước, gắn kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để giành thắng lợi. Trong quá trình đàm phán, vận dụng ba nhân tố chiến trường, đàm phán và quốc tế chúng ta tiếp tục tăng cường thế và lực cho đất nước, tiếp tục tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của dư luận tiến bộ trên thế giới, kể cả ở Mỹ, đưa cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta ngày càng mạnh lên, thắng lợi ngày càng lớn hơn.

        Bốn là bài học về sự kết hợp và hỗ trợ lẫn nhau tài tình giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Đó là sự phối- hợp giữa đánh Và đàm. Thắng lợi trên chiến trường, thực lực trên chiến trường đóng vai trò quyết định đối với thắng lợi trên bàn đàm phán và ngược lại, đấu tranh trên bàn đàm phán cũng góp phần tác động đến thắng lợi trên chiến trường và tạo điều kiện cho chiến thắng lớn hơn. Thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mở ra cục diện đàm phán với Mỹ ở Paris. Những thắng lợi quân sự tiếp theo, nhất là chiến thắng Xuân-hè 1972 đã làm thất bại chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" của Tổng thống Nixon, buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận nội dung dự thảo hiệp định do ta đưa ra tháng Mười 1972, và cuối cùng trận "Điện Biên Phủ trên không" đã buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Mặt khác, những đòn tấn công ngoại giao của ta trên bàn hội nghị đã buộc Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc, chấp nhận ngồi vào đàm phán và đơn phương rút dần quân Mỹ. Và điều đó đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho miền Bắc hàn gắn vết thương chiến tranh và tăng cường chi viện cho miền Nam đánh thắng trong chiến dịch Xuân-hè 1972. Cũng như vậy, việc đấu tranh đi đến ký kết Hiệp định Paris tháng Giêng 1973 đã làm chuyển đổi so sánh lực lượng có ý nghĩa quyết định đưa đến đại thắng mùa Xuân 1975.

        Năm là bài học coi trọng đấu tranh dư luận và giành lợi thế trên mặt trận này. Cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris trước hết là cuộc đấu tranh dư luận, đấu tranh về đạn lý và pháp lý, phân rõ phải trái, đúng sai, tranh thủ dư luận đồng tình với cuộc chiến đấu của Việt Nam, với đường lối, sách lược và lập luận đàm phán của ta, gây khó khăn cho đối phương trên trường quốc tế và ngay trong nước Mỹ. Phát huy lợi thế địa bàn Paris, những bài phát biểu chính thức, các cuộc họp báo, trả lời phỏng vấn, thông cáo và tiếp xúc báo chí, các cuộc gặp gỡ quốc tế của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, nhất là các sáng kiến hoà bình của hai Đoàn đã góp phần làm cho chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc ta và thiện chí hoà bình của chúng ta thêm ngời sáng; tính chất phi nghĩa, những mưu đồ đen tối, hoà bình giả tạo, sự lật lọng và tội ác của đối phương bị vạch trần.

        Đấu tranh dư luận tại Hội nghị Paris, phối hợp nhịp nhàng với các hoạt động tuyên truyền quốc tế, với chiến thắng trên chiến trường, với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế đã góp phần tranh thủ được sự đồng tình rộng rãi của dư luận thế giới, đưa cuộc chiến tranh vào lòng nước Mỹ, dẫn tới hình thành một phong trào, một mặt trận thế giới ủng hộ Việt Nam rộng lớn chưa từng có. Sự ủng hộ của nhân dân và dư luận thế giới dành cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã góp phần rất quan trọng vào thắng lợi của chúng ta. Vì thế, Đảng ta coi sự giúp đỡ và ủng hộ quốc tế là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

        Đối với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris là sự vận dụng tư tưởng, nghệ thuật và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh. Hiệp định Paris là kết quả, đồng thời cũng là đỉnh cao của nghệ thuật đàm phán ngoại giao Việt Nam. Bài học từ Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đối với ngoại giao Việt Nam và hoạt động đối ngoại trong bối cảnh tình hình phức tạp hiện nay là bài học về tổ chức cuộc đấu tranh ngoại giao, tập hợp lực lượng, đấu tranh dư luận và nghệ thuật đàm phán ngoại giao.

        Kỷ niệm 30 năm ngày ký Hiệp định Paris là dịp để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, để biểu thị sự khâm phục và biết ơn đối với công lao to lớn của các thế hệ cha anh, nhớ đến và biết ơn tất cả những người đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris cũng như những cán bộ, chiến sĩ và đồng bào trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã cống hiến, đã góp phần quan trọng để có được thắng lợi trên bàn đàm phán. Chúng ta suy tôn các nhà ngoại giao lớn của đất nước thời kỳ này: các đồng chí Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thuỷ, Nguyễn Cơ Thạch,... Chúng ta tôn vinh đồng chí Nguyễn Thị Bình, một ngôi sao sáng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.

        Tất cả những gì có thể học hỏi được từ Hội nghị Paris vẫn có giá trị thời sự thiết thực đối với tất cả chúng ta hôm nay và mai sau.

        Ôn lại lịch sử, chúng ta vô cùng biết ơn Đảng quang vinh và Bác Hồ kính yêu, vô cùng biết ơn chiến sĩ và đồng bào ta đã hy sinh biết bao xương máu để chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và được như ngày hôm nay. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ IX của Đảng, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, da dạng hoá, chúng ta sẽ vượt lên mọi thách thức để thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc thân yêu.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Ba, 2012, 06:19:19 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #216 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 06:23:56 pm »


SUY NGHĨ VỀ CHUYỂN THẾ TRẬN ĐÁNH - ĐÀM
THEO TƯ DUY BÁC HỒ

                                                                                                        
               
        Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, nguyên Phó Vụ trưởng Bộ Ngoại giao, thành viên Ban Tổng kết lịch sử ngoại giao
 
Tư duy Hồ Chí Mình với việc hình thành
thế trận đánh - đàm

        Cuộc đàm phán Paris là biểu tượng của trí tuệ ngoại giao Việt Nam: biết mở đầu cuộc đàm phán và biết kết thúc nó đúng lúc, có lợi nhất, thực hiện mục tiêu quan trọng là "đánh cho Mỹ cút". Từ lâu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy ngẫm :... đối với Mỹ, ta có cách chủ động để đi tới cho nó rút ra, vì rất phức tạp. Một tay đánh, một tay mở cho nó ra, trước cửa cần có rèm chống[1]. Từ các hoạt động trên mặt trận chính trị và ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý làm rõ lập trường kiên định, mục tiêu trong sáng của cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân ta, đồng thời sớm nêu rõ điều kiện để hướng tới một giải pháp kết thúc chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam - Đông Dương.

        Trên tinh thần đó, ngày 22 tháng Ba 1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đưa ra lập trường Năm điểm và ngày 8 tháng Tư 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố lập trường Bốn điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam. Vào dịp này, Tổng thống Mỹ Johnson cũng đưa ra tuyên bố Baltimore (7 tháng Tư 1965) kiến nghị "thương lượng không điều kiện". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra tuyên bố bác bỏ: Các đề nghị nói chuyện không điều kiện của Mỹ là tuyệt đối không thể chấp nhận được.

        Tiếp tục làm rõ lập trường Việt Nam trước công luận thế giới, đồng thời hé mở giải pháp kết thúc chiến tranh, ngày 24 tháng Giêng 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi giác thư đến gần 70 nguyên thủ quốc gia và các vị đứng đầu chính phủ các nước trên thế giới khẳng định quyết tâm và khả năng thắng Mỹ của nhân dân ta, tố cáo tội ác và âm mưu tăng cường mở rộng chiến tranh của tập đoàn Johnson và khẳng định: "Nhân dân Việt Nam quyết không bao giờ khuất phục trước sự đe dọa của đế quốc Mỹ... Nếu Chính phủ Mỹ thật muốn giải quyết hoà bình, thì họ phải công nhận lập trường Bốn điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và chứng tỏ điều đó bằng việc làm thật sự; phải chấm dứt vĩnh viễn và vô điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Như vậy thì mới có thể tính đến một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam [2].

Điều dễ cảm nhận là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, ngay từ những ngày đầu Mỹ leo thang chiến tranh, đã vạch trần mưu đồ "chiến tranh thật hoà bình giả" của Nhà Trắng, kiên quyết làm thất bại kế sách "thương lượng không điều kiện", một biến tướng của "thương lượng trên thế mạnh", đánh đồng kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, buộc nhân dân Việt Nam phải thương lượng dưới sức ép của bom đạn Mỹ.
        Trong thời kỳ này, nổi lên những hoạt động đối ngoại của Bác Hồ, thể híện rõ tính định hướng cho mặt trận ngoại giao, trong đó đáng lưu ý:

        - Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đến Tổng Thống Johnson (ngày 15 tháng Hai 1967). Trong thư, một lần nữa, Người khẳng định: "Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam thì con đường đưa đến hoà bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược"[3]. Về đề nghị thương lượng giữa Việt Nam và Mỹ của Tổng thống Johnson, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ mới có thể nói chuyện và bàn các vấn đề có liên quan đến hai bên"[4].
-------------------------
[1]. Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 223.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.32-33.  
[3],[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr.231, 232.

« Sửa lần cuối: 04 Tháng Ba, 2012, 08:58:01 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #217 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 06:27:20 pm »

         Năm 1967, lịch sử còn ghi nhận một cử chỉ ngoại giao giàu tính nhân văn cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh: mời đối phương uống nước trà. Năm đó, khi tiếp hai vị trí thức có tên tuổi của Mỹ đến Việt Nam để thăm dò khả năng đi đến một giải pháp kết thúc chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời họ uống trà. Qua câu chuyện với họ; Người bày tỏ quan điểm của Việt Nam: "Nếu ông Johnson đồng ý thì tôi mời ông ấy sang Hà Nội, trải thảm đỏ đón ông và cũng mời ông uống chè như chúng ta hôm nay; chỉ có một điều kiện là các ông phải rút quân khỏi đất nước tôi"[5]. Đây có thể là lần đầu tiên Người trực tiếp thông báo miệng cho người Mỹ biết về điều kiện tiên quyết để Mỹ có thể "kết thúc cuộc chiến tranh trong danh dự" như ý muốn của họ.

        Trước đó, trong lời kêu gọi nổi tiếng "Không có gì quý hơn độc lập tự do" tháng Bảy 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: "Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hoà bình sẽ trở lại ngay lập tức"[6].

        Như vậy, để có được hoà bình thương lượng cho vấn đề này, trước hết Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - một vấn đề có tính tiên quyết để đi đến một giải pháp hoà bình. Đây là chỗ yếu nhất của mưu đồ xâm lược thực dân mới, đồng thời là vấn đề nhạy cảm với công luận yêu hoà bình chuộng công lý trên thế giới và trong nước Mỹ.

        Thể hiện những tư duy của Bác Hồ và Trung ương Đảng, ngoại giao nước ta đã chủ động phát động đợt tấn công mới với tuyên bố của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh ngày 28 tháng Giêng 1967 và tuyên bố tiếp theo của Bộ trưởng ngày 29 tháng Mười hai 1967, khẳng định việc "sẽ nói chuyện" nếu Mỹ chấp nhận điều kiện của ta: Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Cùng với thắng lợi Tết Mậu Thân trên chiến trường, sự gia tăng đáng kể sức ép công luận quốc tế và phong trào phản chiến ở nước Mỹ sau đợt tấn công ngoại giao của ta đã buộc nhà cầm quyền Mỹ từng bước phải chấp nhận xuống thang chiến tranh, từ hạn chế ném bom miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán trong thế bị động, đến chấm dứt hoàn toàn ném bom.

        Về vai trò của Bác Hồ trong quá trình chuyển thế trận đánh- đàm, Giáo sư sử học Hunggari Laszlo Salgo cho rằng "Không một chút nghi ngờ, hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người đã sử dụng đến mức tối đa sự mềm mỏng xung quanh tấm thảm xanh để thăm dò những khả năng cho một giải pháp hoà bình có thể được thực hiện bằng thoả hiệp"[7].
-------------------------
[5]. Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao HỒ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 252.
[6]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr.l08,l09.
[7] UNESCO và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr. 76.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #218 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 08:32:35 pm »


Nhân tố thắng lợi của cuộc đàm phán
và dấu ấn Hồ Chí Minh


        Điểm lại quá trình đấu tranh kiên cường trên ba mặt trận chính trị quân sự, ngoại giao trong suốt 20 năm, đi đến cuộc đàm phán Paris Và hệ quả mà nó đem lại, ta có thể thấy dấu ấn trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh có vai trò quyết định đưa đến thắng lợi của mặt trận ngoại giao trong cuộc đàm phán Paris. Đó là những yếu tố cơ bản sau:

        1. Trên cơ sở đường lối chiến lược của công cuộc chống Mỹ, cứu nước, Đảng và Nhà nước ta, dưới ánh sáng của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đã kịp thời đề ra đường lối quốc tế và chính sách đối ngoại đúng đắn, thích hợp với tình thế, gắn cuộc kháng chiến của Việt Nam với xu thế chung của thời dại trên cơ sở độc lập tự chủ, tự lực tự cường đi đối với mở rộng quan hệ quốc tế. Điều đó trở thành yếu tố cơ bản tạo tiền đề về thế và lực, về trí tuệ để ta chủ động bước vào cuộc đàm phán Paris.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra cần phải "dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ" [8]. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ ba, ngày 14 tháng Giêng 1964, Người ân cần dạy bảo. "Về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh. Phải hiểu thấu đáo lắm vấn đề này không thì sẽ đi xiên vẹo ngay đấy"[9]. Đặc biệt, những lời căn dặn của Bác đối với Bộ trưởng Xuân Thuỷ trước lúc đi Paris thực sự là "pháp bảo thần kỳ", là kim chỉ nam, giúp hai Đoàn ta vững vàng, kiên định về lập trường, mềm dẻo, khôn khéo về sách lược trong suốt quá trình đàm phán: "Phải nhớ Mỹ là nước lớn đứng đầu thế giới tư bản, buộc phải ngồi vào đàm phán, thương lượng là thất bại rồi, vì thế Bác yêu cầu không được làm Mỹ mất mặt. Phải tế nhị, khôn khéo, lúc cương, lúc nhu thì mới gọi là đàm phán hoà bình, mới đạt kết quả". "Chiến tranh sẽ còn lâu dài, đàm phán phải kiên trì, không được nóng ruột" [10].

       Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực thi đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, với những nội dung cơ bản, có thể khái quát như sau: độc lập tự chủ trong đối ngoại trước hết phải xuất phát từ tư tưởng lớn "lấy sức ta mà giải phóng cho ta", coi đó là nguồn động lực lớn để mở rộng quan hệ quốc tế, khẳng định dạo lý công việc của ta phải do ta giải quyết lấy, không có sự can thiệp, áp đặt từ bên ngoài; kiên quyết giữ vững quyền dân tộc tự quyết; kiên định đường lối đối ngoại vì lợi ích trước mắt và lâu dài của dân tộc, quán triệt tư tưởng "Không có gì quý hoá độc lập tự do"; đồng thời chính sách đối ngoại đó phải phù hợp với những chế định của luật pháp quốc tế và hoà nhập với xu thế chủ đạo, tích cực trong quá trình chuyển biến của quan hệ toàn cầu; tránh các khuynh hướng biệt lập, dân tộc hẹp hòi hoặc dân tộc nước lớn.

        Rút kinh nghiệm từ Hội nghị Genève 1954, tại cuộc đàm phán Paris, Đảng ta đã phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ trong lập trường, chủ trương, phương thức và nghệ thuật đàm phán. Đó chính là yếu tố góp phần quyết định thắng lợi trong cuộc đàm phán trực tiếp hai bên.

         2. Biết kết hợp với chính trị, quân sự để phát động tiến công ngoại giao đúng thời cơ, tạo khuôn khổ đàm phán thích hợp và tổ chức đàm phán linh hoạt, nhiều phương thức, kết hợp nhiều diễn đàn khác nhau trong đàm phán là một trong những nguyên nhân cơ bản để dạt được thành quả ở Hội nghị Paris. Mặc dù đối phương là một nước lớn "rất sành" về thương lượng song phương và đa phương trong quan hệ toàn cầu, có nhiều thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt, ta vẫn giữ được thế chủ động, đề ra và tham gia vào các diễn đàn đàm phán: gặp riêng, đàm phán bí mật, công khai, hai bên, bốn bên...

        Điều nổi bật của khuôn khổ cuộc đàm phán này là: khác với cuộc thương lượng về kết thúc chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam tại Hội nghị Genève 1954, đàm phán Paris là cuộc thương lượng trực tiếp giữa hai bên đang giằng co quyết liệt bằng quân sự, chính trị trên chiến trường. Cuộc thương lượng Paris không qua trung gian nào và cũng không nằm trong khuôn khổ của một diễn đàn quốc tế rộng lớn nào, kể cả Liên hợp quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp, đấu tranh và hoà hoãn giữa các nước lớn hai phe đang chi phối hoà bình và an ninh thế giới, cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ ở Paris vẫn tạo được cơ chế thương lượng độc lập nằm ngoài quan hệ giữa các nước lớn. Điều đó tạo thuận lợi để ta phát huy hết tiềm năng đối ngoại của mình, chủ động trong lập trường, các bước đi và phương án đàm phán với Mỹ.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc khẳng định và đề cao vị trí của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và những kiến nghị của Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa ra trong cuộc đàm phán. Trong thư gửi cho Tổng thống Nixon, ngày 25 tháng Tám 1969, Người nói rõ: "Giải pháp toàn bộ Mười điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam là cơ sở hợp tình hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam, giải pháp đó đã được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ [11]. Tuyên bố của Người đã góp phần quan trọng thúc đẩy Mỹ đi vào cuộc đàm phán thực chất để sớm tìm giải pháp kết thúc chiến tranh.
-------------------------
[8]. HỒ Chí Minh: Toàn tập, t.12, ti.308, 309.
[9]. Hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao.
[10]. Nguyễn Minh Vỹ: "Bốn điểm Bác dặn". Tuần báo Quốc tế, số 20, tháng Năm 1995.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 12, tr. 488-489.


Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #219 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 08:36:45 pm »

        3. Trong chuyển biến tình hình bên trong và bên ngoài lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn, ưu tiên hàng đầu của chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của nước ta vẫn là giương cao ngọn cờ hoà bình và chính nghĩa, kiên trì tranh thủ sự đồng tình ủng hộ quốc tế, trước hết là của các lực lượng đồng minh chiến lược. Mặc dù có lúc quan hệ Xô-Trung trở nên đối địch và hai nước đều muốn có hoà hoãn và cải thiện quan hệ với Mỹ, ta và các bạn còn có những khoảng cách nhất định về thời điểm và sách lược đánh-đàm, bằng biện pháp khôn khéo, ta vẫn duy trì được đoàn kết tay đôi với cả Liên Xô và Trung Quốc, tranh thủ sự đồng tình của hai nước đồng minh lớn đối với đường lối chống Mỹ, cứu nước nói chung và chủ trương, sách lược đàm phán Paris nói riêng.

        Nhận rõ âm mưu của Nhà Trắng lợi dụng hoà hoãn để kiềm chế sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến cũng như chiến lược đánh - đàm của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo "Mọi âm mưu của đế quốc Mỹ hòng chia rẽ Việt Nam với Trung Quốc và chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa sẽ thất bại thảm hại [12].

        Kết quả là, trong suốt 20 năm chiến đấu vì độc lập, tự do của mình, Việt Nam vẫn nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ to lớn nhiều mặt của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác. Điều đó trở thành yếu tố góp phần quyết định thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường và bàn đàm phán.

        4. Cuối cùng, cùng với đường lối chiến lược đúng đắn đầy trí tuệ của Đảng và Nhà nước ta, nhân tố có tính bao trùm, nhất quán từ lịch sử cho đến hiện đại tạo thành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được thể hiện rõ nét trong cuộc đàm phán Paris là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được vận dụng ở mức độ cao dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tất cả lĩnh vực hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

        Những biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được thể hiện nhất quán, xuyên suốt theo chiều dài lịch sử dân tộc, từ việc "dùng biên sĩ bàn hoà, không tốn máu xương mà bảo tồn tôn miều" của Lý Thường Kiệt đến phương châm chiến lược "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo" và tổ chức Hội thề Đông Quan để buộc địch lui quân của Nguyễn Trãi và dù đánh Đông dẹp Bắc vẫn nghĩ tới việc "dùng ngọn bút thay giáp binh" của Nguyễn Huệ. Qua đó, chủ nghĩa nhân văn Việt Nam còn được sử dụng như một biện pháp đối ngoại trong thế thượng phong, khoan dung và cao đẹp nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và sự bình yên cho con người và đất nước.

        Trong công cuộc chống Mỹ, cứu nước, mục tiêu nhất quán trong đấu tranh trên mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao và tại bàn đàm phán Paris là nhằm làm thất bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút quân về nước, sớm kết thúc cuộc chiến phi nghĩa, tàn bạo, huỷ diệt con người và của cải vật chất xã hội. Ý niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sẵn sàng trải thảm đỏ, cùng uống nước chè thay vì đánh nhau, và sẽ tống tiễn lịch sự nếu Mỹ chịu rút quân theo chủ trương: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào" là những biểu hiện có tính nhân văn cao cả của Việt Nam.

        Tiến công ngoại giao từ tháng Giêng 1967 buộc địch xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán tay đôi khi ta chưa tung ra quả đấm chiến lược về quân sự là điều khôn ngoan, sáng tạo Việt Nam, biết dùng phương tiện đấu tranh hoà bình chống lại biện pháp chiến tranh huỷ diệt cường độ cao, lấy đối thoại hoà bình thay cho đối đầu quân sự. Trong vận động quốc tế, chính sách đối ngoại hướng tới tập hợp lực lượng lương tri nhân loại, tranh thủ tình cảm của loài người tiến bộ. Trong cuộc đối đầu với bom đạn Mỹ, nhân dân Việt Nam luôn ngẩng cao đầu, nhưng đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta không tạo ra hận thù dân tộc với người Mỹ, nước Mỹ, trái lại coi nhân dân Mỹ là bạn. Đánh quân xâm lược Mỹ nhưng vẫn trân trọng truyền thống tự do của nhân dân Mỹ. Phải chăng đó cũng là điều được khơi dậy từ chủ nghĩa nhân văn Việt Nam.

        Nhiều người nước ngoài cho rằng: "Hà Nội là thủ đô của phẩm giá con người", "Việt Nam là trái tim của nhân loại". David Halberstam, một học giả Mỹ khẳng định: Cụ Hồ Chí Minh chẳng những đã giải phóng đất nước mình, đã thay đổi được chiều hướng của chế độ thuộc địa của châu Á lẫn châu Phi mà Cụ còn làm được một việc đáng chú ý hơn: dùng tới văn hoá và tâm hồn kẻ địch để chiến thắng [13].

         Có thể thấy cuộc kháng chiến và ngoại giao trong chống Mỹ, cứu nước và đặc biệt, thông qua cuộc đàm phán Paris đã kế thừa, thấm đượm và phát huy cao độ lòng nhân ái Việt Nam từ mục đích, động lực đến hệ quả của nó. Tiến sĩ Modagat Ai Mệt, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trân trọng nhìn nhận về cuộc đời Hồ Chí Minh và cuộc kháng chiến của dân tộc ta: Trong khi chiến đấu cả đời mình chống lại ách thống trị thực dân, Người.vẫn là một nhà nhân văn chân chính trong tư tưởng và hành động [14]. Nhà sử họe Italia lại đánh giá tài năng tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc dùng ngoại giao để vượt qua thách thức, khó khăn:.., là một nhà chính trị tầm cỡ, Người có khả năng phân biệt được cái gì có tính chất sống còn bắt buộc phải chiến đấu, và cái gì có thể đàm phán, dù là đau đớn; điều đó tạo thành năng lực đứng vững trên đường lối chiến lược, đồng thời vận động giữa những sự cản trở cực kỳ to lớn [15].

*

        Thành tựu và bài học độc 1ập tự chủ, tự lập tự cường đi đôi với mở  rộng quan hệ quốc tế và nhạy bén chuyển thế trận kịp thời giành thắng lợi quyết định trên mặt trận ngoại giao trong cuộc đàm phán Paris, chắc sẽ phải là điều bổ ích trong việc thực thi đường lối đối ngoại đối với thế hệ hôm nay, khi đất nước đi vào đổi mới, hội nhập quốc tế. Hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh chính là những tiêu chí cơ bản của ngoại giao trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và cuộc đàm phán Paris lịch sử. Những điều đó cũng là mục tiêu lâu dài và ước vọng thiết tha suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Bao giờ Nam Bắc một nhà,
Dân giàu nước mạnh thì ta vui, lòng
[16]
-------------------------
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 12, tr. 549.
[13]. David Halberstam: Hồ, Random House, New York, 1970.
[14], [15]. UNESCO và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam: Kỷ yếu Hội thảo quốc tê. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.
[16]. HỒ Chí Minh:.Toàn tập, t.11, tr. 280

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM