Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 01:32:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 316092 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #230 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 08:02:17 am »


        Ta chủ trương kết hợp ba đòn chiến lược: đòn chủ lực tiêu diệt chủ lực nguy trên các chiến trường lựa chọn; đòn tấn công ở nông thôn nhằm giành dân và phá bình định; đòn thành thị, kết hợp ba mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, giành thắng lợi quyết định ở miền Nam.

        Tháng Bảy 1972, tôi dang công tác ở vùng "cản xoong" phía Nam Quân khu Bốn thì được lệnh điều về CP50. Về cơ quan này tôi được phân công cùng tổ Quân sự, nghiên cứu các vấn đề quân sự trong giải pháp và Hiệp định: chấm dứt chiến tranh, ngừng bắn; rút quân; huỷ bỏ căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam; khu phi quân sự; trao trả nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ; các Ban liên hợp quân sự, Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

        Trong lúc này, trên chiến trường Quảng Trị, ở hướng chủ yếu của cuộc tấn công chiến lược của ta năm 1972, cuộc chiến đấu giành giật giữa ta và địch đang diễn ra hết sức gay go ác liệt. Sau khi ta chiếm được Thành Cổ Quảng Trị ngày 2 tháng Năm 1972, Sài Gòn đã ra sức phản công liên tục, dưới sự yểm trợ mãnh liệt chưa từng có của B-52 và pháo hạm Mỹ, nhằm giành lại những vị trí đã mất và tổn thất nặng nề. Tình hình trong Thành Cổ trở nên hết sức nghiêm trọng. Qua 81 ngày đêm kiên cường chiến dấu bảo vệ thị xã và Thành Cổ, quân ta bị thương vong lớn, đã phải rút lui ngày 16 tháng Chín 1972 về bờ Bắc sông Thạch Hãn.

        Sáng ngày 17 tháng Chín 1972, tôi báo cáo tin này với đồng chí Nguyễn Cơ Thạch. Lúc này, Bộ Chính trị đang theo dõi sát tình hình chiến trường cũng như ở Paris để chỉ đạo phối hợp giữa tranh và đàm.

        Cân nhắc thế trận giữa ta và địch lúc này ở Quảng Trị, ta đã phải chuyển sang phòng ngự sau khi mất Thành Cổ; xét các vấn đề gay cấn chủ yếu đang giằng co giữa hai bên trên bàn đàm phán là vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam và.vấn đề quân miền Bắc ở Nam Việt Nam, cuộc đàm phán đang ở thời điểm cuối cùng của cuộc vận động bầu cử ở Mỹ, chúng tôi đề nghị đồng chí Nguyễn Cơ Thạch xin ý kiến của Bộ Chính trị quyết định phương án đấu tranh. Về hai vấn đề trên và chỉ đạo cho Đoàn ta ở Paris; nên thắt và mở ra sao trên hai vấn đề then chốt này? Buộc chặt cái gì và cái gì cần nới lỏng để tập trung vào giải quyết cho được vấn đề then chốt nhất của ta.

        Chúng tôi cũng đề nghị nên hạ thấp yêu cầu của ta về vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam ở mức nào. Đây cũng là vấn đề gay cấn giữa ta và Kissinger về hình thức cơ cấu chính quyền ở miền Nam Việt Nam: Chính phủ liên hiệp ba thành phần, Chính phủ hoà hợp dân tộc hay Uỷ ban hoà hợp, hoà giải dân tộc?

        Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đồng ý với cách đặt vấn đề của chúng tôi và các chuyên viên CP50. Đồng chí báo cáo với đồng chí Nguyễn Duy Trinh và đề nghị Bộ Chính trị họp để cho ý kiến.

        Sáng hôm ấy, anh Thạch sang làm việc với Bộ Chính trị và về phổ biến lại ý kiến quyết định của Bộ Chính trị.

        Không phân tích gì thêm tình hình, Anh nói luôn kết luận của anh Ba (đồng chí Lê Duẩn): "Muốn đẩy nhanh cuộc đàm phán Paris, đi đến ký kết được trước tháng Mười một 1972 (tức trước cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ), ta cần tập trung quyết đạt cho được mục tiêu thứ nhất lúc này là "đánh cho Mỹ cút". Đạt được mục tiêu thứ nhất sẽ tạo điều kiện để hoàn thành tiếp mục tiêu thứ hai "đánh cho nguy nhào".

        Vì vậy trong đợt đàm phán tới, cần nắm vững hai yêu cầu phải đạt cho được, nhằm mục tiêu thứ nhất:

        1. Chấm, dứt hoàn toàn và triệt để sự dính líu quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Chấm dứt chiến tranh của Mỹ Ở miền Nam Việt Nam, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chấm dứt chiến tranh bằng không quân và chấm dứt thả mìn xuống miền Bắc.

        2.Lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam ở nguyên tại chỗ. Dứt khoát, quân miền Bắc không rút đi đâu hết, tuyệt đối không có vấn đề tập kết rút quân như Hiệp định Genève 1954.

        Đạt được hai yêu cầu trên sẽ dẫn đến việc công nhận trên thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và tạo ra một tương quan lực lượng mới rất có lợi cho ta. Đó là điều kiện thuận lợi để tiếp tục hoàn thành mục tiêu thứ hai. Có thể nói đây là sự chỉ đạo rất nhạy bén, sáng suốt của Bộ Chính trị Đảng ta đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn trong tình hình thực tiễn lúc này.

        Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch lại nhấn mạnh: Ta phải buộc chặt Mỹ vào hai điểm này. Tập trung mũi nhọn đấu tranh vào hai yêu cầu trên.

        Muốn buộc chặt Mỹ theo hai yêu cầu đó, ta cần chủ động nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam Việt Nam. Trong lúc này, không cần đòi xoá chính quyền Sài Gòn, đòi Thiệu phải từ chức. Chỉ cần một hình thức cơ cấu chính quyền hoà hợp, hoà giải dân tộc theo phương án thấp nhất.

        Trong hồi ký về những ngày đàm phán trong tháng Mười 1972, Kissinger nhận xét: "Những nhà đàm phán Việt Nam khi đã thắt thì họ biết thắt rất chặt, và khi muốn mở thì cũng biết mở khéo để đi vào thương lượng thực chất".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #231 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 10:44:58 am »

        Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, vào cuối tháng Chín 1972, đồng chí Lưu Văn Lợi và tôi nhận được chỉ thị mang Dự thảo Hiệp định sang Paris phục vụ cho các cuộc họp riêng của các đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ với Kissinger trong thời điểm đàm phán có tính bước ngoặt quyết định này (từ ngày 8 tháng Mười 1972 đến khi Hiệp định được ký kết).

        Vừa bước xuống xe từ sân bay Orly về Choisy le Roi, chưa kịp báo cáo với các đồng chí lãnh đạo đoàn, anh Lưu Văn Lợi tranh thủ phổ biến tinh thần quyết định mới của Bộ Chính trị với một số đồng chí chuyên viên chủ chốt của Đoàn.

        Nghe quyết định mới này, mới đầu có đồng chí phân vân cho rằng ta đã hạ thấp yêu cầu, nhưng rồi tất cả đều thấy đây là nghệ thuật về sách lược ngoại giao rất thực tiễn, hợp thời đối với ta, lùi một bước "nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam Việt Nam" để tiến hai, ba bước.

        Từ cuối tháng Chín qua dầu tháng Mười 1972, Bộ Chính trị đã họp phân tích tình hình và đề ra chủ trương mới về đàm phán. Nội dung cơ bản như đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã truyền đạt cho CP50 vào cuối tháng Chín.

        Ngày 4 tháng Mười 1972, Bộ Chính trị điện cho Paris: "Ta cần tranh thủ khả năng chấm dứt chiến tranh trước bầu cử Tổng thống Mỹ (ngày 7 tháng Mười một 1972), đánh bại âm mưu của Mỹ kéo dài đàm phán để vượt qua bầu cử'.

        "Ta cần ép Mỹ ký Hiệp định chính thức, thực hiện ngừng bắn, rút quân Mỹ và đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Muốn vậy, cần chủ động về yêu cầu, giải pháp, nội dung hiệp định, thời điểm, cách đàm phán, cách ký, cách đấu tranh trong cuộc gặp gỡ những ngày tới".

        Quyết sách chiến lược của Bộ Chính trị trong đợt tấn công ngoại giao tháng Mười 1972 đã tạo ra bước ngoặt căn bản đi đến giải pháp về vấn đề Việt Nam.

        Ngày 8 tháng Mười 1972, mở đầu các cuộc gặp riêng khẩn trương và liên tục, ta đã chủ động đưa ra Dự thảo Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, nhằm thúc đẩy cuộc thương lượng giữa đôi bên. Bản dự thảo này là bản thứ mười hai gửi lên xin ý kiến Bộ Chính trị.

        Khi trao Dự thảo cho phía Mỹ, đồng chí Lê Đức Thọ nói rõ: "Chúng ta không thể để vấn đề chính trị miền Nam là vấn đề khó khăn nhất kéo dài cuộc đàm phán, nhằm nhanh chóng chấm dứt chiến tranh".

        Sau khi nghiên cứu văn bản Dự thảo, Kissinger phát biểu: "Đây là văn kiện rất cơ bản, rất quan trọng, mở bước ngoặt trong đàm phán. Các ông đã mở ra một trang sử mới trong thương lượng và có khả năng chúng ta giải quyết sớm".

        Ngày 20 tháng Mười, Tổng thống Mỹ Nixon gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời công hàm ngày 19 tháng Mười của ta nói rằng "văn bản Hiệp định xem như đã hoàn thành".

        Tuy nhiên, sau đó Mỹ lại viện ra những lý do không chính dáng để đòi sửa đổi Hiệp định đã thoả thuận, nhằm kéo dài thời gian để vượt qua cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Do đó, đợt đàm phán tháng Mười một và tháng Mười hai kéo dài mà không đi đến kết quả Trong đợt đàm phán này, hầu như ngày nào Kissinger cũng dọa dẫm chiến tranh.

        Ý kiến của Bộ Chính trị chỉ đạo cho hai Đoàn: điều quan trọng bậc nhất vẫn là giữ vững văn kiện Hiệp định đã thoả thuận ngày 20 tháng Mười 1972, ta không vội vì ta không bị gò bó về thời gian sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Ta sẵn sàng đối phó nếu Mỹ đánh phá miền Bắc.

Nguyên nhân duy nhất là do chính quyền Nixon rắp tâm thực hiện "chiến thuật mạo hiểm làm vỡ đàm phán" đi đôi với biện pháp tăng cường sức ép quân sự tối đa bằng con chủ bài cuối cùng mạnh nhất của Mỹ. Nixon hy vọng rằng: "Chơi quân cờ cuối cùng này", họ có thể áp đặt ý muốn của Mỹ trong thế mặc cả của Mỹ ngày càng suy yếu và sự bị động ngày càng tăng của chính quyền Nixon.

        Ngày 13 tháng Mười hai 1972, Kissinger trở về Washington nói là để xin ý kiến tổng thống. Khi rời đi Paris, trước các nhà báo, ông ta dã lớn tiếng tố cáo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phá vỡ thương lượng. Ngày 14 tháng Mười hai, Nixon quyết định tung con chủ bài cuối cùng của Mỹ đối với Bắc Việt Nam, Nixon chính nhức ra lệnh: "ngày 17 tháng Mười hai tiếp tục rải thuỷ lôi phong toả các cảng và cửa sông Bắc Việt. Ngày 18 tháng Mười hai, không quân bắt đầu cuộc tấn công bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng". Hồi ký của Nixon nói rõ âm mưu thâm độc và tàn bạo này. Ông ta đã rắp tâm từ lâu và tích cực chuẩn bị từ tháng Mười một 1972, với sự tham gia bàn bạc của Kissinger, Haig và Laỉrd cùng Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #232 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 10:48:34 am »

        Với tôi ở hai vị trí vừa trong Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân vừa đang có mặt trong Đoàn đàm phán Việt Nam ở Hội nghị Paris, việc Nixon tráo trở, không ký ngay Hiệp định mà sẽ rắp tâm tung con chủ bài cuối cùng là dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng để giành thế áp đảo với ta trên bàn hội nghị càng hoàn toàn không bất ngờ. Hai Phái đoàn ta đã được thông báo: Mỹ sẽ huy động lực lượng lớn chưa từng có cả về máy bay chiến lược B-52 và các loại máy bay chiến thuật, cùng sử dụng chiến tranh điện tử để gây nhiễu đến đỉnh cao nhất vào cuộc tập kích chiến lược mà Mỹ gọi là "sút bóng trước khung thành" (Linebacker II) này. Thực tế việc huy động lực lượng của Mỹ đã đúng như vậy, như báo chí và cả nhiều tướng lĩnh của ta và cả của Mỹ sau đó đã viết. Bởi thế, đêm 18 tháng Mười hai 1972, đêm đầu tiên B-52 bay vào ném bom Hà Nội? tôi đã đứng ngồi không yên, lòng bồn chồn lo lắng. Với trách nhiệm là Tư lệnh Binh chủng tên lửa trước khi biệt phái sang Bộ Ngoại giao, chúng tôi đã cùng các cán bộ chủ chốt trong Binh chủng và Bộ tham mưu Quân chủng dày công nghiên cứu cách đánh B-52, góp sức cùng Quân chủng xây dựng được một phương án mà tôi tin là đã rất hoàn chỉnh. Nhưng nếu như tôi đang có mặt ở Sở chỉ huy Quân chủng cùng gánh vác trọng trách nặng nề của Tổ quốc lúc này, chắc chắn tôi đã dỡ bồn chồn hơn. Tôi biết rõ rằng, đối đầu với cuộc chiến lịch sử này, chủ yếu sẽ là các cán bộ, chiến sĩ tên lửa mà tôi đã từng cùng chiến đấu từ năm 1967, chia sẻ gian nan và hân hoan sau mỗi đợt bắn rơi được nhiều máy bay Mỹ. Tôi rất tin vào trí thông minh, sáng tạo và lòng quả cảm của anh em. Tin vào các chiến sĩ ra da đã từng phát hiện B-52 từ xa sẽ không để Quân chủng và cả Tổ quốc bị bất ngờ. Tin vào các sĩ quan điều khiển và trắc thủ tên lửa phòng không dày dạn kinh nghiệm nhất định sẽ "vạch nhiễu tìm thù" quật ngã B-52 lần này trên bầu trời Hà Nội. Tin vào các chiến sĩ Không quân ta, dù dịch có đánh vào sân bay vẫn cất cánh lên trừng trị lũ "pháo đài bay" Mỹ. Tin vào sức mạnh tổng hợp của Quân chủng cùng biển lửa chiến tranh nhân dân miền Bắc sẽ lần nữa đánh gục, thiêu cháy âm mưu nham hiểm của Nixon trong cuộc đọ sức lịch sử này.

        Tuy vậy, tôi vẫn rất lo lắng nghĩ đến những thủ đoạn gây nhiễu dày đặc và phức tạp nhất định đang tăng cường hòng che mắt rada và tên lửa của ta. Nhưng dù giặc Mỹ xảo quyệt đến thế nào, chắc chắn anh em ta ở nhà cũng không thể nào cho Nixon và Kissinger có thể cười ngạo mạn khi B-52 Mỹ bay vào Hà Nội mà không bị trừng trị thích đáng ngay từ đêm đầu tiên gây tội ác. Không chỉ riêng tôi, mà anh chị em trong hai đoàn đàm phán của ta ở Paris đều trong tâm trạng đó. Và đến sớm ngày 19 tháng Mười hai chúng tôi cùng tạm yên dạ, hả lòng, ôm chầm lấy nhau mừng rơi nước mắt khi biết tin đêm trước quân dân ta đã trừng trị đích đáng hành động láo xược của Nixon: bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Nhưng quan trọng hơn là đã bắn rơi máy bay B-52, trong đó có hai chiếc rơi tại chỗ, bắt sống bảy phi công Mỹ. Chiếc B-52 bị bắn rơi tại chỗ dầu tiên lại ở ngay Phủ Lỗ, cách Thủ đô Hà Nội có 12km theo dường chim bay.

        Tâm trạng vừa lo lắng vừa vui mừng này đã diễn ra suốt 12 ngày đêm như thế. Và đến sau đêm thứ mười hai, khi ta đã bắn rơi tới 81 máy bay, trong đó có 34 B-52, bắt sống tới 44 phi công Mỹ trong đó có 34 phi công lái B-52 buộc Tổng thống Mỹ phải ra lệnh ngừng cuộc tiến công thì tất cả chúng tôi đều như vừa trút đi được một gánh cực nặng trên vai mình. Và cũng sung sướng mừng vui, tự hào, hạnh phúc không thể nào tả xiết. Với chiến thắng lần nữa làm chấn động địa cầu này, chắc chắn từ hôm sau tiếng nói của chúng ta trong Hội nghị Paris sẽ rất có trọng lượng. Chúng tôi sẽ ngẩng cao đầu bởi hào khí từ Hà Nội đã dội tới Paris.

        Quả nhiên như thế. Mỹ không thể chịu đựng nổi tổn thất tới mức cao chưa từng có về số máy bay, nhất là máy bay B-52 và phi công Mỹ bị ta bắt sống trong một thời gian ngắn nhiều đến như thế. Hành động leo thang chiến tranh này đã làm cho chính quyền Nixon và bọn hiếu chiến Mỹ phải chuốc lấy một thất bại cay đắng cả về quân sự, chính trị, ngoại giao và cả về đạo đức, trước sự phản đối mạnh mẽ và khinh bỉ của nhân dân thế giới.

        Kissinger lại đề nghị gặp riêng. Trước khi trở lại Paris, Kissinger đã có cuộc gặp với Nixon ở Trại David (Mỹ), Kissinger kể lại: "Nixon nhấn mạnh để tôi phải chấp nhận một giải pháp dù điều kiện do đối phương nêu ra như thế nào đi nữa. Tổng thống còn nói ông ta sẵn sàng chấp nhận những điều khoản của văn bản Hiệp định tháng Mười 1972".

        Rõ ràng là nếu không bị đòn thảm bại trong những ngày lễ Giáng sinh đó, thì cái đầu hiếu chiến của Nixon không dễ nguội nhanh như vậy. Từ ngày 8 tháng Giêng 1973 đến ngày 23 tháng Giêng 1973 đã diễn ra đợt đấu chung cuộc. Mở đầu phiên họp quan trọng trong đợt này, đồng chí Lê Đức Thọ đã lên án mạnh mẽ sự bội ước, lật lọng và tội ác chiến tranh của Mỹ trong 12 ngày đêm tháng Mười hai 1972. Kissinger đã chờ đón cơn thịnh nộ của đối phương, cúi mặt chịu trận, lúng búng trong miệng tìm cách thanh minh.  

        Trong đợt này ta đấu tranh rất tốt, chủ động khai thông được hai vấn đề tồn tại là vấn đề khu phi quân sự và cách ký Hiệp định. Cuối cùng cả hai vấn đề trên đã đạt được yêu cầu Bộ Chính trị nêu ra trước khi đồng chí Lê Đức Thọ trở lại Paris.

        Đối chiếu nội dung Hiệp định Paris với văn bản thoả thuận giữa hai bên vào tháng Mười 1972, các nhà nghiên cứu am hiểu tình hình có những nhận xét rằng "đa số người Mỹ nhận thấy rằng Hiệp định ngày 23 tháng Giêng 1973 (ký tắt) chẳng có gì hơn so với những gì đã được thoả thuận hồi tháng Mười năm ngoái" hay "thất bại trên bầu trời Hà Nội" đã buộc Mỹ phải từ bỏ yêu sách đòi "Hà Nội cùng rút quân"...

        Thú nhận và đánh giá đó của phía Mỹ hoàn toàn chính xác. Rõ ràng với ta từ cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân và cuộc tiến công ngoại giao tháng Tư 1968 dã dẫn đến Hội nghị Paris. Những thắng lợi to lớn của quân và dân ta trên các chiến trường trong những năm 1971, 1972 và đặc biệt là cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972 và cuộc tổng tiến công ngoại giao tháng Mười 1972, cũng như chiến thắng oanh liệt của trận "Điện Biên Phủ trên không" tháng Mười hai 1972 và tác động quyết định của nó đối với cuộc đàm phán chung cuộc tháng Giêng 1973, giữa ông Lê Đức Thọ và Kissinger, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Paris, giữ vững những thoả thuận ta đã đạt được trong tháng Mười 1972 trước khi Mỹ ném bom B-52 vào Hà Nội. Đó là những dẫn chứng điển hình về sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến trường và bàn đàm phán.

        (Đại tá nhà văn HÀ BÌNH NHƯỠNG (Viết theo tư liệu trung hồi ký và lời kể của Thiếu tướng Đoàn Huyên trước lúc ông qua đời 15 ngày))
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Ba, 2012, 10:59:39 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #233 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 02:04:34 pm »



HIỆP ĐỊNH PARI VỀ VIỆT NAM
MỘT CÁI MỐC LỊCH SỬ
TRÊN CON ĐƯỜNG CHIẾN THẮNG
CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

               

         Thượng tướng, Trưởng đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương

         Trong những ngày cuối tháng giêng năm 1973 từ miền Nam Việt NAm đã vang đi những lời này:  

        "Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam long trọng tuyên cáo trước toàn thể đồng bào.

         Ngày 27. 01.1973, các bộ trưởng ngoại giao, đại diện toàn quyền của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa,  chính phú cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam, Chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Việt Nam cộng hòa đã ký "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.”

        Nội dung chủ yếu của Hiệp định như sau:

        Hoa Kỳ cùng các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và      toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.
            Hoa Kỳ hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và sự can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyến cử thật sự tự do và dân chủ.

        Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình.

        Như vậy là sau hơn 18 năm, đế quốc Mỹ nhảy vào Dông Dương, hất chân Pháp, gây ra cuộc chiến tranh xâm  lược to lớn nhất, tàn bạo nhất, lâu dài nhất nhằm "Áp đặt một hệ tư tưởng lên một dân tộc khác" như nhà sử học Mỹ Cusscl F. Weigley khẳng định (AP ngày 8.1.1983). đến nay đã phải cam kết rút hoàn toàn quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam và thừa nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

        Vì sao Mỹ phải ký vào Hiệp định Paris và cam kết như vậy khi mà từ lâu họ đã xác định:... "Mục tiêu của Mỹ là ngăn chặn không cho cộng sản thống trị Nam Việt Nam" và "dù muốn ra sao thì ra, Mỹ nhất định đánh thắng trận này".

        Vì sao họ phải cam kết và đã thực hiện việc cam kết ấy là rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác cũng như việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và nước ngoài khác (điều 5 và 6 của hiệp đinh) khi mà Mỹ đã đưa vào miền Nam Việt Nam tới trên nửa triệu quân, đã phải huy động tới 75% số đơn vị bộ binh và quân dù của Mỹ, hơn 68% số đơn vị lính thủy đánh bộ hơn 40% số tàu chở máy bay, 52% số tàu tuần dương, hơn 50% số không quân chiến thuật có hiệu lực thực tế, gần 50% số máy bay chiến lược B52. Trong số đó là những đơn vi sừng sỏ nhất, giỏi nhất của Mỹ như Sư đoàn 1 "Anh Cả đỏ" đã từng "lập công lẫy lừng qua hai cuộc Chiến tranh thế giới"; Sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới", nổi tiếng về sử dụng thành thạo chiến thuật bộ binh kết hợp với cơ giới, rất giỏi đánh ở địa hình rừng núi và quen xứ nóng"; Sư đoàn 1 lính thủy đánh bộ và đội dự bị chiến lược Thái Bình Dương"; Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ "đơn vị cơ động có nhiều thành tích nhất ở Viễn.Đông", rất giỏi về đổ bộ, mở rộng nhanh khu vực chiếm đóng và phát triển tấn công, rất dễ phát huy uy lực của nó ở chiến trường có bờ biển dài như Việt Nam, Sư đoàn "Kỵ binh bay" số 1, một thí nghiệm mới nhất của Lầu Năm Góc, trang bị hiện đại và đắt tiền nhất, tiêu biểu cho sức mạnh cơ động tập kích chớp nhoáng bằng đường không. (Theo như Mỹ đã giới thiệu và khoe khoang). Không những thế Mỹ đã sử dụng một cách tập trung cao độ ở chiến trường Việt Nam các loại vũ khí phương tiện, trang bị hiện đại nhất, áp dung những thành tựu khoa  học mới nhất, mà từ trước chưa hề sử dụng: lựu pháo 203 ly và pháo nòng dài 175 ly mệnh danh là "Vua chiến trường",  có thể bắn đạn nguyên tử, các loại xe tăng và xe lội nước; thuyền bay trên đồng nước và pháo đài bay trên không B52, vô số mìn nhỏ mỏng sát thương từng người và bom bi, bom CBU sát thương hàng loạt, bom vô tuyến lade; máy  truyền tin qua vệ tinh và máy phát nhiễu cực mạnh; hàng rào điện tử và mưa nhân tạo, trinh sát điện tử và chất độc hóa học, v.v.., và v.v... Mỹ đã tung vào mảnh đất nhỏ miền Nam nước ta một số lượng lớn, cỡ 4000 máy bay lên thẳng các loại với tính toán "có thế nâng được hiệu lực thực tế của 50 vạn quân lên gấp ba", thế mà khi bắt dầu dưa quân Mỹ vào Việt Nam Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mac Namara tiên đoán: "Cùng lắm cũng chỉ 175.000 quân là có thể đảo ngược dược hoàn toàn chiều hướng cuộc chiến tranh !" và tướng lĩnh Lầu năm góc thì cho rằng: "Chỉ đến đầu năm 1967 là quân Mỹ có thể hoàn thành nhiệm vụ của nó" (tạp do Đời sống ngày 21.3.1966). Mưu đồ và tính toán của họ đều sụp đố. Không phải chỉ 175.000 quân mà đã lên đến 549.000, lúc cao nhất. đó là chưa kể quân chư hầu tại chiến trường và số quân Mỹ để ở các căn cứ Thái Lan, Philippin, Nhật, Đài Loan, trên hạm đội ngoài biển, thế mà không làm được nhiệm vụ tiêu diệt quân giải phóng, chiếm dược miền Nam Việt Nam vào đầu năm 1967, lại bị sa lầy thảm hại không có lối thoát. Tờ báo Mỹ "Bình luận thứ 7" số ra tháng 12.1972 viết "Kẻ hy sinh thảm hại nhất trong chiến tranh Việt Nam là lục quân Mỹ. Nó đã mất lòng tin và lâm vào tình trạng tan rã. Bại tướng Westmoreland mất chức tham mưu trưởng lục quân đã lâu, cứ chờ mãi mà đến nay vẫn chưa được giao việc". Và nói về sự đọ sức giữ lực lượng phòng không Việt Nam và lực lượng Không quân Mỹ, tờ báo Mỹ "Tuần tin tức" ra ngày 8.1-1973 viết rằng lưới lửa phòng không Việt Nam đã bắt không lực Hoa Kỳ phải trả một cái giá rất đắt, một cái giá mà Oa-sinh-tơn không thể tiếp tục trả thêm được".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #234 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 02:07:15 pm »

        Không phải năm 1967 quân Mỹ có thể hoàn thành nhiệm vụ như tướng lĩnh Mỹ ước định mà chính năm 1967 là năm đại bại không phương cứu vãn, không còn che dấu được trong chiến dịch Junctinon City" mà chúng lăm le tiêu diệt chủ lực quân giải phóng và đầu não lãnh đạo chỉ huy "Việt cộng". Chiến dịch "Jumcti City" thất bại nặng nề nhưng vẫn ở mức thất bại về chiến dịch chiến đấu, còn tết Mậu Thân năm 1968 mới là đòn trời giáng vào cái chiến lược "tìm và diệt" của tên bại tướng nhưng là tướng tài của Mỹ Westmoreland. để thay bằng một chiến lược bị động và phòng ngự là "quét và giữ" với người thay thế tổng chỉ huy là Abrams Tổng chỉ huy ở chiến trường bị cách chức còn tổng tư lệnh cả đế quốc Mỹ thì sao? Tổng thống Mỹ Johnson đã viết trong hồi ký của ông ta: "Kết thúc năm 1968 sau nhiều năm điều hành cuộc chiến tranh gay cấn nhất ở Việt Nam, tôi thực sự không tin mình có thể sống sót nếu ở lại Nhà trắng thêm một nhiệm kỳ nữa. Vì tình hình đen tối của chúng ta tức Mỹ) ở Việt Nam đã làm cho tôi phải căng thằng suốt 1886 đêm, ít khi tôi được ngủ trước 2 giờ sáng".

        Sau tết Mậu Thân năm 1968 nước Mỹ đã quá mệt mỏi, các nhà lãnh đạo Mỹ dã quá chán ngán, tiêu tan ý chí xâm lược, buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và đành phải ngồi vào bàn hòa đàm ở Paris và tìm cách rút dần quân Mỹ về nước với chiêu bài phi Mỹ hóa cuộc chiến. Tuy vậy phải đợi đến khi nếm thêm những đòn thất bại ê chề ở Campuchia năm 1970 khi Mỹ tưởng dùng tên Lon Non đảo chánh Sihanouk là cắt dứt được đường tiếp tế quá cảnh qua Sihanoukvin của Việt cộng. Không ngờ nhiều tỉnh của Campuchia được giải phóng, quân cách mạng Khmer lớn mạnh và con dường chiến lược 559 lại được nối liền tới miền đông Nam bộ qua đông Campuchia. Thất bại ở dường 9 - Nam Lào mà không cắt được con đường Trường Sơn tuyệt diệu lại còn bị tan nát tuyến phòng thủ Sài Gòn từ xa, tuyến ngoài cùng trên đường 22 và 7 từ Kompongcham đến Snoul ở đông Campuchia: Và đặc biệt những thất bại nặng nề năm 1972 ở Quảng Trị, Tây Nguyên, ở Miền Dông Nam Bộ và 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng thì Mỹ mới phải ký vào Hiệp định Paris, mong rút được quân Mỹ và tù binh Mỹ về nước một cách danh dự, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân Mỹ.

        Chỉ điểm qua hết sức tóm tắt diễn biến chính trên chiến trường như vậy ta cũng hiểu được rằng Mỹ bị đánh đau quá một cách không ngờ tới, buộc phải cay đắng ký vào Hiệp đinh Paris và cam kết không dính líu vào Việt Nam, còng nhận chủ quyền và thống nhất toàn vẹn của nước Việt Nam, cam kết và thực hiện rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước. Không có cách khác dế tránh cuộc đại bại của đội quân viên chinh hùng hổ lúc đầu nhưng về sau ngày càng suy sụp.

        Ngày 29-3 là ngày quy định cuối cùng phải rút hết đội quân viễn chinh Mỹ và chư hầu. Ngày ấy đã xảy ra êm thấm, không một trục trặc nhỏ nào:

        - 13giờ 15', tại căn cứ Bộ tư lệnh Mỹ ở sân bay Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi là "Lầu Năm góc phương đông" tướng Uây-en và đại sứ Bân-cơ đã làm lễ cuốn cờ Bộ tư lệnh Hoa Kỳ sau 11 năm thành lập ở Việt Nam.

        - “Hôm nay, những lính Mỹ cuối cùng đã rời Nam Việt Nam hồi 17 giờ 30 phút, giờ Sài Gòn ( 16 giờ 30 phút, giờ Hà Nội). Người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam là đại tá không quân Đê-vít Ô-den. Các đại diện Bắc Việt Nam và chính phủ cách mạng lâm thời đã có mặt tại chỗ để giám sát việc rút số lính Mỹ còn lại". (AFP Pháp).

        "Đây thực tế là một ngày quan trọng trong quá trình hòa bình mà Hiệp định Paris dã quy định. Ngày này cũng quan trọng như ngày 27.1, ngày mà bốn bên ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, một văn kiện mà giá trị lịch sử cần phải được nhấn mạnh. Việc rút tất cả quân Mỹ cần phải kèm theo một lời tuyên cáo trịnh trọng chấm dứt sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

        Không nghi ngờ gì khi tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam, mỗi người dân Việt Nam, mỗi người bạn của dãn tộc anh hùng này, mỗi chiến sĩ trong phong trào giải phóng dân tộc rộng lớn trên thế giới đều cảm thấy nhẹ nhõm và nhất là cảm thấy vui mừng trước thắng lợi lịch sử này". (Báo "Người chiến sĩ", Algérie).

        'Các đơn vị quân Mỹ đã rút khỏi miền Nam Việt Nam. Trên đất nước Việt Nam, giờ dây không còn một tên xâm lược nước ngoài nào nữa. Dây là thắng lợi về tư tưởng của nhà lãnh đạo thiên tài, nhà chính trị lỗi lạc Hồ Chí Minh - người đã suốt đời hoạt động vì mục đích cao cả : giải phóng đất nước, làm cho nước Việt Nam tử một trăm năm qua, nay đã sạch bóng quân thù. Đây là thắng lợi và niềm tự hào của toàn thê dân tộc Việt Nam chiến dấu vì độc lập tự do, của phong trào giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội trên thế giới". (Báo Dân tộc Hung-ga-ri, 30/3).

       “Thắng lợi giành được như thế của người Việt Nam, không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ có một tầm vóc lớn lao... ".(Báo Nhân đạo Pháp).

        Đúng là Hiệp định Paris là một thắng lợi của nhân dân Việt Nam, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, có một tầm vóc lớn lao. Nhưng trước hết đó là thắng, lợi cụ thể lớn lao của một đường lối chiến lược vô cùng sáng suốt trong chỉ đạo cuộc chiến tranh, tạo ra bước ngoặt quyết định và điều kiện chủ yếu để đi đến toàn thắng năm 1975.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #235 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 02:08:31 pm »

        Ngay từ năm 1965, khi mà đạo quân viễn chinh Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam nước ta để cứu quân ngụy sắp bị diệt và rã, chuyển chiến tranh đặc biệt thành chiến tranh cục bộ thì Hồ Chủ Tịch và Trung ương Đảng ta và cả Trung ương Cục miền Nam đều đã nhận định thống nhất rằng, quân Mỹ nhảy vào trong thế thua, để chữa cháy và cứu vãn một tình thế dang suy sụp, một chế độ dang lung lay tận gốc. Việc làm đó đề lộ rõ bộ mặt xâm lược, là phi nghĩa. Thực sự chủ trương đó của Mỹ và cà đường lối chiến lược, chiến thuật đều là bị động, bị động trên chiến trường, bị động trên trường quốc tế. Vì vậy Mỹ nhất định thua, ta thất định thắng. Ta không sợ Mỹ và trước sự phản công dồn dập và ác liệt của quân đội Mỹ-ngụy, ta không trở về thế phòng ngự mà vẫn giữ vững chiến lược tấn công. Tuy vậy đi vào cụ thể tác chiến ta phải thấy là tương quan lực lượng trên chiến trường đã có sự thay đổi đột ngột và lớn lao. Trước đây quân ngụy tuy đông hơn ta nhưng trang bị chiến đấu non kém. Giờ đây cộng vào số quân ngụy ấy có tăng lên về số lượng và trang bị, còn có đội quân sừng sỏ hùng mạnh nhất của phe đế quốc, được trang bị hiện đại nhất, có đầy đủ phương tiện phá hoại, hủy diệt lớn lao nhất với cách sử dụng tập trung cao độ thì phải đánh thế nào đề giành chiến thắng. Ta phải đối đầu giờ đây với một ké địch cụ thể mà số lượng và trang bị ưu thế hơn ta, kề cà các binh quân chủng, hàng mấy chục lần. Có quyết tâm chiến thắng phải di đôi hay phải trên cơ sở của tài năng và mưu trí, lòng dũng cảm và óc sáng tạo, khoa học và thực tế của những cán bộ và chiến sĩ ngay trên chiến trường Phải tìm ra cách đánh phù hợp nhất, vừa diệt được dịch vừa bảo vệ được mình vừa lớn lên như Sơn Tinh vượt đầu thủy tặc trong một tình thế vô cùng gay go phức tạo tưởng chừng như nan giải. Nhưng ở dây chỉ đề cập đến một vấn đề về chỉ đạo chiến lược lớn mà kết thúc của nó là Hiệp định Paris.

        "Biết kẻ thù như biết mình là bí quyết thắng lợi trong mọi cuộc giao chiến" (Binh thư Tôn Tử xưa). Hồ Chủ Tịch và Đảng ta đã đánh giá kỹ sức mình và sức địch, thế mình và thế địch trong nước và ngoài nước, tính toán tất cả mọi lẽ hơn thiệt, cân nhắc tất cả các tình huống sau khi Mỹ đã mở chiến tranh cục bộ ở miền Nam, chiến tranh phá hoại ở miền Bắc đè hạ quyết tâm: "Chiến tranh cỏ thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nứa - Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thề bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thăng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn !" (Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch ngày 17.7.1966). Nhưng để thắng lợi một đối phương như đế quốc Mỹ với đội quân Mỹ- ngụy cả trên triệu người và trang bị tối tân đến tận chân răng trước hết cần sự chỉ dạo chiến lược đúng. Bác đã nói: "Trong cuộc chiến tranh này ta không phải tiêu diệt hết quân Mỹ để thắng mà là ta phải đuổi hết Mỹ để thắng. Đó là tinh thần, trí tuệ và sức lực Việt Nam. Ta kiên trì, ta nhất định thắng". Rồi trong thơ chúc Tết năm 1969 gửi đồng bào và chiều sĩ miền Nam, Bác nhắc:"... Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào...". Trong lời kêu gọi ngày 20.7.1969, Bác lại nhấn mạnh, kiên quyết:

        “Đế quốc Mỹ thất bại đã rõ ràng nhưng chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm bám lấy miền Nam nước ta. Quân và dân cả nước ta, triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chlến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà".

        Sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Bác và Đảng ta nhằm quyết tâm giành thắng lợi kỳ được trước một kẻ dịch mạnh hơn ta gấp bội về nhiều mặt trừ tinh thần, ý chí và dũng lược, là phải đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, phải đánh cho quân Mỹ rút sạch để rồi đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết mới giành được toàn thắng.

        Theo lời Bác và sự chỉ đạo của Đảng, quân và dân cả nước ta đã anh hùng trên chiến trường trong nước, cả trên chính trường ngoài nước để đi đến ký kết dược Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ớ Việt Nam, tạo được bước quyết định đề đi đến toàn thắng.

        Tuy Mỹ, ngụy lật lọng không thi hành tất cả các điều khoán của Hiệp định vì họ tưởng với chiến lược mới "Việt Nam hóa chiến tranh", ngụy sẽ mạnh lên, Mỹ rút quân nhưng vẫn bám giữ được miền Nam với sự đồng loa của bọn phản động quốc tế. Họ không thi hành trọn vẹn Hiệp định nhưng đã thi hành diều 5 và 6 là rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam. Mỹ cho như thế là một thắng lợi vì cứu được quân Mỹ đã sa lầy đến tận cổ, rút hết về nước theo đòi hỏi chính đáng của nhân dân Mỹ và dồn tiền của và vũ khí cho quân ngụy lớn mạnh nhanh để thắng Việt Cộng hay ít nhất cũng không phân thắng bại mà Mỹ thì đứng ngoài cổ vũ và tìm mưu mô khác. Còn ta thì ký Hiệp định với thật tâm đem lại hòa bình cho nhân dân sau bao nhiêu năm chiến tranh chết chóc và tàn phá. Nhưng nếu không được như vậy thì diều cơ bản nhất theo sự chỉ đạo chiến lược phải đạt được là quân xâm lược ngoại quốc phải rút hết ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Đó là để thay đổi tương quan lực lương cơ bản trên chiến trường để ta đi đến một bước nữa đánh tan quân ngụy tay sai và sụp đổ chế độ ngụy bán nước.

        Thực tế diễn biến tình hình trên ba nước Đông Dương từ 1973 - 1975 chỉ rõ trong hai năm ấy mặc dù Mỹ ngụy ra sức phá Hiệp định, cố giành phần thắng, nhưng sức lực Chúng đã khác trước xa rồi, sức lực ta đã phát huy mạnh mẽ và kết cục số phận chúng đã dược định đoạt và ta giành toàn thắng.

        Sự chỉ đạo chiến lược tài tình và sáng suốt của Hồ Chủ Tịch và Đảng ta: "Đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết" đã được thực hiện.

        Hiệp định Paris về Việt Nam rõ ràng là một cái mốc lịch sử trên con đường chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. 
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #236 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 03:47:07 pm »



GÓP PHẦN NHẬN BIẾT VỀ HIỆP ĐỊNH PA-RI
VÀ CUỘC ĐẤU TRANH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH

THIẾU TƯỚNG HOÀNG ANH TUẤN                

         Trưởng đoàn đại biểu quân sự CPCMLTMNVN trong Ban liên hợp quân sự 2 bên Trung ương.

   Hơn 36 năm đã qua kể từ ngày Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ đối với miền Nam nước ta. Cũng đã hơn 34 năm từ ngày quân và dân ta đánh sụp ngụy quyền Sài Gòn tay sai Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam tiến tới thống nhất đất nước. Thế hệ sinh ra sau ngày đó nay cũng đã trưởng thành và là một lực lượng đông đảo đang cùng cha anh gánh vác sự nghiệp dựng xây nước nhà theo con đường đã chọn.

   Hiểu biết lịch sử là rất cần thiết để nâng cao lòng tự hào dân tộc, và quan trọng hơn nữa là để rút được những bài học cho ngày nay và cho cả mai sau.

   Có thể nhiều người muốn tìm hiểu Hiệp định Pa-ri là thắng lợi đến mức nào, nó đã phát huy tác dụng ra sao, vì sao giữa chừng ta phải trở lại dùng bạo lực cách mạng mới đạt được các mục tiêu dân tộc cơ bản mà Hiệp định Pa-ri đã ghi nhận, và vì sao cuối cùng ta giải phóng miền Nam bằng một loạt trận chiến long trời lở đất mà cả thế giới đều chấp nhận.

   Những tư liệu và dẫn giải sau đây mong góp một phần đáp ứng yêu cầu sự tìm hiểu đó.

-A-
HIỆP ĐỊNH PA-RI

   Hội nghị Pa-ri về Việt Nam được bắt đầu từ tháng 5 năm 1968, lúc đầu gồm hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ, sau đó đủ bốn bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và "Việt Nam Cộng Hòa" tức ngụy quyền Sài Gòn. Đến cuối tháng 1 năm 1973 Hiệp định mới được ký kết.

   Song song với Hội nghị công khai của bốn Đoàn do bốn Bộ trưởng ngoại giao dẫn đầu, còn có các cuộc họp kín giữa đồng chí Lê Đức Thọ, cố vấn Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa với Henry Kissinger (nguyên Bộ trưởng ngoại giao) cố vấn Đoàn Hoa Kỳ. Đây là nơi thực chất thương lượng các chương mục và điều khoản của Hiệp định, cả nội dung và lời văn. Cuối năm 1972 hai bên đã thỏa thuận xong toàn bộ Hiệp định , chỉ còn về báo cáo các Chính phủ rồi ký kết. Nhưng đồng chí Lê Đức Thọ vừa về đến nhà ở Hà Nội thì Hoa Kỳ mở đợt tấn công khốc liệt bằng không quân với con chủ bài B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng và vùng phụ cận. Vì nội dung Hiệp định đã được thỏa thuận ở Pa-ri có quá nhiều thua thiệt cho Mỹ nên họ muốn dùng đòn này khuất phục ta, buộc ta phải nhân nhượng sửa lại một số điều khoản.

   Chúng ta đã biết cuộc đánh phá 12 ngày đêm thất bại thảm hại như thế nào. Báo chí thế giới đã đặt cho nó một cái tên thật hình tượng và rất chính xác là "trận Điện Biên Phủ trên không". Bác Hồ trước đó đã nới: "Mỹ sẽ thua , nhưng nó phải thua ở Hà Nội rồi nó mới chịu thua hẳn".

   Ngày 27 tháng 1 năm 1973 Hiệp định Pa-ri đã được ký kết với nguyên văn nội dung đã được thỏa thuận cuối năm 1972.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #237 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 03:51:38 pm »


I
Mấy nét về nội dung Hiệp định Pa-ri và các văn kiện liên quan

        "Hiệp định Pa-ri" là cách nói tắt, tên gọi chính thức của nó là " Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam". Hiệp định được ký tại Paris thủ đô nước Pháp ngày 27/01/1973, kèm theo có 4 Nghị định thư:

   1. Nghị định thư "về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các Ban liên hợp quân sự"

   2. Nghị định thư "về Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát"

   3. Nghị định thư "về việc trao trả nhân viên quân sự (NVQS) bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự (NVDS) Việt Nam bị bắt và giam giữ"

   4. Nghị định thư "về tháo gỡ , làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá hủy mìn ở vùng biển, các cảng, sông ngòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa"

   Hiệp định và 3 Nghị định thư đầu đều làm thành 2 văn bản, nội dung hoàn toàn như nhau, một bản do hai Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và William Price Rogers thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ ký (tức là hai bên chủ chốt đàm phán), còn một bản do Bộ trưởng ngoại giao của cả bốn bên tham gia Hội nghị Pari ký: Nguyễn Duy Trinh (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), Nguyễn Thị Bình (Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), William Price Rogers (Hoa Kỳ) và Trần Văn Lắm ("Việt Nam Cộng hòa" tức ngụy quyền Sài Gòn).

   Riêng Nghị định về tháo gỡ và phá hủy mìn vì chỉ liên quan đến miền Bắc Việt Nam nên chỉ do hai Bộ trưởng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ ký.

   Nội dung chủ yếu của Hiệp định Paris là:

   - Hoa Kỳ và các nước khác cam kết tôn trọng độc lập , chủ quyền , thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

   - Hòa Kỳ hoàn toàn chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.

   - Các bên tôn trọng quyền tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam.

   - Hai bên miền Nam Việt Nam (MNVN) hiệp thương để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc để đôn đốc việc thi hành Hiệp định và tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ.
Hiệp định gồm 9 chương và 23 điều:

   ChươngI: Về "Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam" chỉ có một điều nhưng là điều cơ bản nhất: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận"

   Chương II: Từ điều 2 đến điều 7 nói về "Chấm dứt chiến sự - rút quân":

   - Ngừng bắn hoàn toàn trên khắp MNVN kể từ 24 giờ (giờ GMT) ngày 27/01/1973, tức là 7 giờ sáng ngày 28/1/1973 giờ Việt Nam. Hoa Kỳ chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống lãnh thổ nước VNDCCH, tháo gỡ và phá hủy tất cả mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam. Việc chấm dứt chiến sự là vững chắc và không thời hạn.
 
   - Các lực lượng vũ trang của các bên ở nguyên vị trí.

   - Trong thời hạn 60 ngày sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi MNVN lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, cố vấn cảnh sát.

   - Hủy bỏ tất cả căn cứ quân sự Hoa Kỳ và của nước ngoài tại MNVN.

   - Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của MNVN.

   Chương III: Về "việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt , thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ" chỉ có điều 8 gồm 3 điểm:

   - 8a: Trao trả NVQS của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài bị bắt, song song và cùng thời hạn với việc rút quân.

   - 8b: Giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về NVQS của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả những người chết nhằm tạo điều kiện cất bốc và hồi hương hài cốt.

   - 8c: Trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở MNVN: sẽ do hai bên MNVN giải quyết trong vòng 90 ngày.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #238 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 03:58:15 pm »

        Chương IV: Từ điều 9 đến điều 14  về " Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam"

        - Quyền tự quyết của nhân dân MNVN là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

        - Nhân dân MNVN tự quyết định tương lai chính trị của MNVN thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.

        - Hai bên MNVN thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, hiệp thương thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần ngang nhau ( tức CPCMLTCHMNVN, ngụy quyền Sài Gòn và lực lượng thứ ba) trong vòng 90 ngày để đôn đốc hai bên MNVN thi hành Hiệp định, tổ chức tổng tuyển cử.

        Chương V: Gồm điều 15 có 4 điểm về " Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam"

        Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình. Trong khi chờ đợi:

        - Giới tuyến quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc lãnh thổ.

        - Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự hai bên giới tuyến quân sự tạm thời.

        - Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sớm thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường.

        - Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào.

        Chương VI: Về " Các Ban liên hợp quân sự (BLHQS), Ủy ban quốc tế (UBQT) kiểm soát và giám sát, Hội nghị quốc tế" gồm 4 điều 16,17,18,19.

        - Điều 16 về Ban liên hợp quân sự bốn bên với nhiệm vụ bảo đảm phối hợp hành động của các bên về:
   • Ngừng bắn;

   • Rút khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác;

   • Hủy bỏ các căn cứ quân sự ở MNVN của Hoa Kỳ;

   • Trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dâm nước ngoài của các bên bị bắt;

   • Giúp đỡ nhau tìm kiếm những người mất tích trong chiến đấu.

        BLHQS 4 bên làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí và chấm dứt hoạt động trong thời hạn 60 ngày.
        - Điều 17 về BLHQS hai bên bảo đảm phối hợp hành động giữa hai bên MNVN về:

   • Ngừng bắn;

   • Cấm tăng cường quân đội vào MNVN;

   • Trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ;

   • Giảm quân và phục viên số quân giảm.

        - Điều 18 về Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát các việc:

   • Ngừng bắn;

   • Rút quân của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác;

   • Hủy bỏ căn cứ quân sự của Hoa kỳ;

   • Trao trả nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài bị bắt.

   • Cấm đưa quân đội vào MNVN;

   • Giảm quân của hai bên MNVN.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #239 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 04:06:20 pm »

        UBQT gồm đại diện bốn nước Ba Lan, Canada, Hung ga ri, Indonexia, luân phiên làm chủ tịch, làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí.[1]

        - Điều 19 về việc triệu tập Hội nghị quốc tế trong vòng 30 ngày để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. VNDCCH và Hoa Kỳ sẽ thay mặt bốn bên mời: CHND Trung Hoa, CH Pháp, Liên bang cộng hòa XHCN Xô Viết, Liên hiệp Vương quốc Anh, 4 nước trong UBQT, Tổng thư ký Liên hiệp quốc, cùng với các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam.

        Chương VII: " Đối với Cam-pu-chia và Lào" gồm điều 20 về:

        - Triệt để tôn trọng Hiệp định Genève năm 1954 về Cam pu chia và Hiệp định Genève năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Cam pu chia và nhân dân Lào: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Tôn trọng nền trung lập của Cam pu chia và Lào.

        - Những vấn đề liên quan giữa các nước Đông Dương sẽ do các bên Đông Dương giải quyết.

        Chương VIII: Về " Quan hệ giữa VNDCCH và Hoa Kỳ" gồm 2 điều 21 và 22:

        - Hoa Kỳ sẽ "đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở VNDCCH và toàn Đông Dương".

        - Việc thực hiện triệt để Hiệp định sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa VNDCCH và Hoa Kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

        Chương IX: Về "Những điều khoản khác" gồm điều 23 nói về việc Hiệp định sẽ có hiệu lực ngay khi được ký kết và về các thành viên ký kết.

        Các Nghị định thư được ký cùng lúc với Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam nhằm cụ thể hóa một số điều khoản quan trọng của Hiệp định cần và có thể cụ thể hóa được, chủ yếu là về các mặt quân sự, Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát, trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự bị bắt và giam giữ , tháo gỡ và phá hủy mìn ở miền Bắc.

        Riêng Nghị định thư về ngừng bắn và về các BLHQS có ghi một điểm quan trọng (điều 16b) là "Các BLHQS và nhân viên của các Ban này trong khi thi hành nhiệm vụ được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ tương đương với quyền dành cho các phái đoàn ngoại giao và nhân viên ngoại giao".
-----------------------
[1] Tháng 5/1973 Canada tuyên bố rút khỏi UBQT và đến tháng 7/1973 rút xong hết. Bốn bên ký Hiệp định Pari lại tham khảo nhau và thỏa thuận mới Iran thay thế, Iran đồng ý. Tháng 9/1973 Đoàn Iran nhận nhiệm vụ trong UBQT.

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM