Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:24:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315319 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #240 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 04:10:42 pm »


*

*        *
        Thực hiện điều 19 Hiệp định Paris, Hội nghị quốc tế đã được triệu tập và họp tại Paris từ 27/2 đến 2/3/1973, gồm 13 thành viên:

        - Bốn bên ký kết Hiệp định Paris;

        - Bốn nước trong Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát;

        - Bốn nước thành viên hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (cộng với Hoa Kỳ, một bên ký kết Hiệp định, là đủ cả thành phần HĐBALHQ)

        - Tổng thư ký Liên hiệp quốc.

        Dẫn đầu đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN là Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình, CPVNDCCH là bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh.

        Hội nghị đã ký bản Định ước 9 điều, ghi nhận và ủng hộ hiệp định Paris ngày 27/1/1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt nam cùng các Nghị định thư kèm theo, khẳng định việc Hiệp định và các Nghị định thư đó phải được thực hiện. Hội nghị công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, và kêu gọi tất cả các nước trên thế giới cũng làm như vậy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #241 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 04:13:12 pm »


*

*      *

        Song song với BLHQS bốn bên tại miền Nam Việt Nam, sau đó là BLHQS hai bên, Hội nghị hiệp thương giữa hai bên miền Nam Việt Nam để bàn về các vấn đề chính trị cũng được khai mạc ngày 13/3/1973 tại lâu đài La Celle Saint Cloud ở Paris. Đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN do giáo sư Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu làm trưởng đoàn. Phía Chính quyền Sài Gòn do Nguyễn Lưu Viên, Bộ trưởng, làm trưởng đoàn.

        Cũng như tình hình diễn ra tại cuộc đấu tranh ở BLHQS hai bên trung ương tại miền Nam Việt nam, do thái độ ngoan cố chống phá Hiệp định Paris của phía ngụy quyền, diễn đàn La Celle Saint Cloud không đạt được tiến bộ tích cực, nên đến giữa năm 1974 ta cũng chấm dứt cùng với việc đình chỉ các cuộc họp của BLHQS hai bên Trung ương ở Sài Gòn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #242 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 04:27:28 pm »


II
Giá trị và ý nghĩa của Hiệp định Paris

        Hiệp định Paris là một thắng lợi hết sức to lớn của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài, ác liệt và gian khổ, tuy chưa phải là thắng lới hoàn toàn. nó là sự thể hiện tổng hợp và coi như sự đúc kết các thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường cả ở tiền tuyến lớn miền Nam và hậu phương lớn miền Bắc, từ chiến tranh đặc biệt với ngụy quyền Sài Gòn đến chiến tranh cục bộ trực tiếp của hơn nửa triệu quân Mỹ và hơn mười vạn quân chư hầu, cùng với cuộc chiến tranh phá hoại khốc liệt bằng không quân đánh phá miền Bắc.

        Chúng ta đã đạt được mục tiêu đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, và cuối cùng với kết cục của trận Điện Biên Phủ trên không, Hoa Kỳ đã phải chịu kết thúc chiến tranh với các điều khoản ghi trong Hiệp định.

   Hiệp định Paris chủ yếu nêu các vấn đề nguyên tắc, các giải pháp cụ thể về chấm dứt chiến tranh, về ngừng bắn, rút quân Mỹ và chấm dứt sự can thiệp của Mỹ, còn về giải pháp chính trị cụ thể thì chỉ xác định việc hai bên miền Nam Việt Nam hiệp thương thành lập Hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc để tổ chức tổng tuyển cử.

        Nội dung cốt lõi và cơ bản nhất của Hiệp định Paris đối với ta là:

        - Về mặt pháp lý quốc tế, Hoa Kỳ long trọng cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; chấm dứt chiến tranh, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam; tôn trọng quyền tự quyết và các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam.

        - Về hành động thực tiễn, trong vòng 60 ngày phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam tất cả lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ và của các nước khác, dỡ bỏ tất cả các căn cứ quân sự cảu hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam.

        Hiệp định Paris được một Hội nghị quốc tế quan trọng công nhận và bảo đảm, gồm 13 thành viên trong đó có đủ năm nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên  hiệp quốc.

        Quân Mỹ và quân nước ngoài phải rút hết trong lúc các lực lượng vũ trang cách mạng của ta vẫn được giữ nguyên tại chỗ, đây là một bước ngoặt trong so sánh lực lượng giữa ta và địch hết sức có lợi cho ta (một trong các đòi hỏi gay gắt của cả Mỹ-ngụy trong suốt quá trình Hội nghị Paris, và cũng là một trong các mục tiêu của Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội và một số nơi ở miền Bắc là đòi lực lượng vũ trang của ta từ miền Bắc vào mà chúng gọi là quân Bắc Việt, cũng phải rút hết khỏi miền Nam).

        Chúng ta muốn Hiệp định Paris được thi hành nghiêm chỉnh và đầy đủ vì Hiệp định là thắng lợi của ta và nếu được như vậy thì ta vẫn có đầy đủ khả năng và có cách để hoàn thành thắng lợi Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước trong hòa bình. Còn nếu đối phương phản trắc chống phá Hiệp định, đẩy miền Nam trở lại tình trạng chiến tranh (và thực tế lịch sử đã diễn ra theo hướng này) thì với sự thay đổi to lớn trong so sánh lực lượng giữa ta và địch sau khi Mỹ rút quân, với sự đánh giá của thế giới trước thái độ của mỗi bên đối với việc thi hành Hiệp định Paris, ta có đầy đủ ưu thế cả về quân sự, chính trị và ngoại giao để giành thắng lợi cuối cùng, đạt mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà Hiệp định Paris đã ghi nhận. Thực tế diễn biến lịch sử đã chứng minh điều đó.

        Tóm lại với Hiệp định Paris, ta đã đạt được yêu cầu "Đánh cho Mỹ cút" và điều này tạo tiền đề chiến lược để hai năm sau, quân và dân ta tiến lên thực hiện yêu cầu "Đánh cho ngụy nhào", đồng thời thực hiện trọn vẹn quyết tâm của Bác Hồ "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi".

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #243 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 04:39:30 pm »


-B-
ĐẤU TRANH THI HÀNH
HIỆP ĐỊNH PA-RI VỀ VIỆT NAM
TẠI CÁC BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ
(Bốn bên và hai bên)

I
Triển khai lực lượng và thực hiện nhiệm vụ

        1) Ngay sau khi Hiệp định Pa-ri "về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973) , ngày 28-1-1973 những bộ phận đầu tiên của hai Đoàn đại biểu quân sự của ta (của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam) đã có mặt tại Tân Sơn Nhất, là khu vực sân bay và là căn cứ quân sự của Mỹ ngụy tại Sài Gòn. Vài ngày sau lực lượng hai Đoàn ta đã đến đông đủ và cùng đối phương (hai Đoàn đại biểu quân sự của Hoa Kỳ và Chính quyền Sài Gòn) thành lập cơ quan Liên hợp quân sự để phối hợp kế hoạch thực hiện các điều khoản Hiệp định thuộc chức năng của BLHQS. Từ đó các thành viên hai Đoàn đại biểu của ta đã trụ lại trong vùng chiếm đóng của đối phương và liên tục thực hiện nhiệm vụ đấu tranh đặc thù của mình cho đến ngày cuối cùng thắng lợi 30-4-1975.

        2) Hiệp định Pa-ri quy định thành lập BLHQS 4 bên, sau đó (sau khi quân Mỹ rút hết cùng với việc hoàn thành trao trả nhân viên quân sự các bên bị bắt) chuyển qua BLHQS 2 bên MNVN.

        Ngoài BLHQS Trung ương, Hiệp định còn quy định thành lập bảy BLHQS khu vực đóng ở Huế, Đà nẵng, Pleiku, Phan Thiết, Biên Hòa, Mỹ Tho, Cần Thơ (đều đặt trong vùng kiểm soát của đối phương) và 26 Tổ LHQS địa phương từ Quảng trị vào đến Quản Long (Cà Mau)

        Từ 02-2-1973 (30 tháng chạp Nhâm Tý) Ban Liên hợp quân sự bốn bên Trung ương bắt đầu làm việc đến 28-3-1973 kết thúc nhiệm vụ và giải thể. Tại các khu vực (7 khu vực đã nêu trên) chỉ có Ban Liên hợp quân sự bốn bên khu vực IV (Phan Thiết) được hình thành, còn 6 khu vực khác và 26 Tổ địa phương thì không, vì các Đoàn đại biểu quân sự của CPCMLT từ các vùng giải phóng và các khu căn cứ ở miền Nam không triển khai được do địch phá.

        Từ 29-3-1973 Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương bắt đầu họp và cũng chỉ có cấp Trung ương này thôi, còn với các khu vực và địa phương ta chủ trương không triển khai nữa. Phần bốn bên còn lại một Tổ liên hợp quân sự để giải quyết điều 8b Hiệp định Pa-ri về những người mất tích, mồ mả và hài cốt.

        3) Về lực lượng, Hiệp định quy định mỗi bên được cử 275 cán bộ cùng 550 nhân viên giúp việc và cảnh vệ (gồm cả các cấp LHQS Trung ương, khu vực và địa phương).

        Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bố trí đủ, riêng phía Chính phủ CMLT mới triển khai ở cấp trung ương và khu vực IV (Phan Thiết). Sau đó thấy địch tổ chức cho bọn côn đồ hành hung cán bộ ta ở một số nơi (Huế, Ban Mê Thuột, Bảo Lộc) và nhất là thấy không có tác dụng thiết thực, ta dừng không triển khai nữa.

        Sau khi Ban LHQS bốn bên Trung ương giải thể, các bộ phận đã bố trí ở các khu vực được rút hết về Tân Sơn Nhất rồi cho trở về hậu phương. Ta chỉ giữ lại lực lượng tham gia Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương và Tổ liên hợp quân sự bốn bên, cùng đóng tại trại Đavít trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất.

        4) Nhiệm vụ các Đòan đại biểu quân sự vủa ta tại tổ chức Liên hợp quân sự ban đầu là bàn bạc và đấu tranh đòi đối phương cùng thực hiện đầy đủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri, kịp thời vạch trần và tố cáo để cố ngăn chặn những hành động vi phạm của họ.

        Sau đó, khi ngụy quyền Sài Gòn được Mỹ dung túng ngày càng đi sâu phá hoại Hiệp định, đẩy mạnh các hành động chiến tranh, các Đoàn ta chuyển sang tập trung đấu tranh "Giành dư luận hỗ trợ chiến trường", tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận thế giới đối với những hoạt động vũ trang của ta, từ đánh trả vi phạm tiến tới chủ động tấn công, và cuối cùng là Chiến cuộc Xuân-Hè 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #244 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 04:49:18 pm »


-II-
Đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri

        Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu trước sau vẫn chống lại việc đàm phán và thỏa thuận, do bị Mỹ ép mà phải tham gia Hội nghị và cùng ký vào Hiệp định Pa-ri và phải miễn cưỡng thực hiện một số việc, nhưng chủ trương nhất quán của Thiệu là chống phá đến cùng.

        Mỹ buộc phải ký Hiệp định và rút quân để thoát khỏi bị sa lầy và thất bại sâu hơn nữa, nhưng Mỹ vẫn muốn giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo thực dân mới của họ, vì vậy Mỹ thi hành và ép Sài Gòn thi hành một số điều khoản để bảo đảm rút quân an toàn và nhận lại hết người bị bắt, sau đó thì Mỹ làm ngơ, dung túng hoặc khuyến khích Thiệu vi phạm, nhưng cũng kiềm chế Thiệu trong giới hạn không xé bỏ bản Hiệp định Pa-ri vì Mỹ vẫn còn lợi ích trong vấn đề tìm kiếm người mất tích, hài cốt và mồ mả, và Mỹ vẫn bị ràng buộc về ngoại giao và pháp lý quốc tế đối với Hiệp định.

        1) Trong thời kỳ Ban Liên hợp quân sự bốn bên. một số điều khoản Hiệp định Pa-ri đã được thi hành:

        - Ngừng bắn;

        - Thành lập Tổ chức LHQS và UBQT kiểm soát và giám sát;

        - Rút quân Mỹ và quân nước ngoài theo Mỹ;

        - Trao trả nhân viên quân sự (tù binh).

        a/ Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chủ trương phá Hiệp định Pa-ri ngay từ đầu, cố tranh thủ lấn chiếm thu hẹp các vùng giải phóng của ta, nên sau khi Hiệp định có hiệu lực vẫn luôn có tiếng súng nơi này nơi khác.

        Các Đoàn ta kịp thời nắm tin tức và mạnh mẽ tố cáo, lên án các hành động vi phạm trước Ủy ban quốc tế và dư luận. Lúc này chính quyền Sài Gòn còn bị Mỹ kiềm chế nên tuy có những vi phạm nói trên nhưng nhìn chung ngừng bắn đã được thực hiện trên toàn miền Nam.

        b/ Rút hết quân Mỹ và quân chư hầu đúng hạn là yêu cầu bức thiết nhất của ta, Mỹ cũng có yêu cầu rút quân gọn và an toàn, nhưng cũng phải qua đấu tranh gay gắt Mỹ mới thông báo kế hoạch và lịch rút quân từng đợt và ta mới thực hiện được chức năng của thành viên Tổ chức Liên hợp quân sự đi giám sát và kiểm tra việc thực hiện. Có lúc Mỹ dây dưa một cách có tính toán gắn việc rút quân với điều kiện ta phải trao trả tù binh Mỹ bị bắt ở chiến trường Lào, và muốn kéo dài thời gian hoạt động của Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Ta kiên quyết bác bỏ, cuối cùng điều khoản rút quân đã được thực hiện. Các toán quân Mỹ cuối cùng đã lên máy bay rời Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng trong các ngày 28 và 29-3-1973. Chiều 28-3 Ban Liên hợp quân sự bốn bên Trung ương họp phiên cuối cùng và kết thúc nhiệm vụ.

        c/ Đi đôi với việc rút quân Mỹ, việc trao trả nhân viên quân sự được tiến hành. Về mặt này ngụy quyền Sài Gòn cũng ra sức phá, nhất là việc trao trả nhân viên quân sự của ta, ta phải đấu tranh quyết liệt trong từng vấn đề thảo luận, từng chuyến trao trả, từng trường hợp người được trao trả… Cán bộ hai Đoàn ta đi thực hiện trao trả cũng gặp không ít khó khăn trở ngại do phía Sài Gòn gây ra. Ở đây cũng liên quan đến lợi ích của Mỹ trong việc nhận lại nhân viên quân sự của họ nên họ có kiềm chế đối với phía Sài Gòn, về cơ bản việc trao trả nhân viên quân sự đã được hoàn thành.

        d/ Tóm lại, trong thời kỳ BLHQS 4 bên một số điều khoản Hiệp định đã được thi hành nhưng là những điều khỏan rất quan trọng, đặc biệt là việc rút hết quân Mỹ và quân nước ngoài đúng hạn: quân Mỹ rút hết trong khi lực lượng vũ trang của ta vẫn được giữ nguyên. Đây là một bước ngoặt thay đổi trong so sánh lực lượng, tạo điều kiện để ta chủ động và có ưu thế trong mọi tình huống hòa bình hoặc trở lại chiến tranh.

        2) Thời kỳ BLHQS 2 bên, tình hình đổi khác. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sức mở rộng hành quân lấn chiếm các vùng giải phóng của ta, tăng cường bình định kìm kẹp trong vùng họ kiểm soát, quyết dùng quân sự giải quyết vấn đề. Chiến sự ngày càng lan rộng, chiến trường ngày càng nóng bỏng, cuối cùng cả miền Nam trở lại tình trạng chiến tranh, có khác trước là không còn quân Mỹ.

        Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương trong thời gian đầu chỉ thỏa thuận được mấy đợt trao trả nhân viên dân sự (tù chính trị), thực ra là nhờ việc Chính phủ VNDCCH cho Mỹ nhận 23 bộ hài cốt tại Gia Lâm vào đầu năm 1974.

        Phía Sài Gòn trao trả cho ta hơn 5000 nhân viên dân sự, rất ít so với số lượng cán bộ và cơ sở Cách mạng của ta bị họ giam giữ.

        Ngoài việc trao trả đó, BLHQS trung ương chỉ còn là một diễn đàn đầu tranh ngày càng gay gắt quyết liệt về vi phạm Hiệp định.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #245 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 05:01:31 pm »

         Từ đây phối hợp chặt chẽ với hoạt động của quân và dân ta ngoài chiến trường, cuộc đấu tranh của các Đoàn ta tại Trại Đavít hướng vào mục tiêu chủ yếu tranh thủ dư luận một mặt vạch trần, tố cáo và lên án âm mưu và hành động chiến tranh của Mỹ- Thiệu phá hoại Hiệp định Pa-ri, mặt khác giải thích với dư luận sự nghiệp chính nghĩa của ta, tính chính đáng của các hành động vũ trang của ta từ đánh trả lấn chiếm tại chỗ đến trừng trị ngay tại những nơi xuất phát vi phạm, rồi tiến lên chủ động tấn công và cuối cùng là tổng tấn công giải phóng cả miền Nam. Ta tận dụng cả ba trận địa:

        a/ BLHQS 2 bên trung ương: Đấu tranh tại các phiên họp trưởng đoàn và các phiên họp tiểu ban, đấu tranh bằng công hàm khi không họp. Ta hiểu rõ sự phản đối bằng miệng tại hội nghị và bằng các văn bản không thể buộc đối phương chấm dứt hoặc giảm bớt vi phạm, nhưng mặt đấu tranh này rất quan trọng để làm nổi bật trước dư luận thế giới sự khác nhau về lập trường và thái độ của mỗi bên đối với Hiệp định Pa-ri. Là một tổ chức được quốc tế công nhận, nó được dư luận quan tâm theo dõi.

         Từ tháng 10-1974 chính phủ CMLT tuyên bố đình chỉ việc dự họp LHQS, nhưng các Đoàn ta vẫn ở lại Trại Davis, tiếp tục dùng danh nghĩa LHQS đấu tranh với đối phương bằng công hàm, và tích cực hoạt động trên các trận địa khác.

         b/ UBQT: được thành lập để giám sát và kiểm soát việc thực hiện các điều khoản quân sự của Hiệp định, điều tra và có kết luận về các vụ vi phạm, kiểu như một loại trọng tài nửa vời. UBQT gồm đại diện bốn nước, hai do phía ta đề cử (BaLan và Hung-ga-ry), hai do Mỹ đề cử (Ca-na-da và in-đô-nê-xi-a, sau đó I-Răng thay Ca-na-da UBQT làm việc theo nguyên tắc nhất trí nghĩa là bất cứ vấn đề gì cũng phải được cả bốn thành viên nhất trí mới có giá trị.

         Do thành phần và nguyên tắc làm việc như vậy nên UBQT không thể có tác dụng gì thiết thực trong việc thúc đẩy thi hành Hiệp định hoặc kết luận các vụ vi phạm. Nhưng sự có mặt của họ là một bảo đảm quốc tế về giá trị của Hiệp định Pa-ri là sự công nhận quốc tế về vị trí và vai trò của chính phủ VNDCCH và nhất là chính phủ CMLHCHMNVN

         c/ Đấu tranh dư luận: là trận địa quan trọng nhất để ta tranh thủ dư luận quốc tế trong điều kiện Hiệp định Pa-ri không còn được Chính quyền Sài Gòn tôn trọng. Buộc ta phải dùng bạo lực vũ trang để bảo vệ thành quả cách mạng và đạt mục tiêu Độc lập, Thống nhất, Tự do, Hòa bình mà Hiệp định Pa-ri đã công nhận.

         Ta tiếp xúc với dư luận qua chế độ họp báo hàng tuần tại Trại Đavít và qua liên lạc trực tiếp với các nhà báo (bằng điện thoại hoặc họ vào Trại Davis gặp ta)

         Tại Sài Gòn hồi đó có mặt đại diện của 77 hãng thông tấn - báo chí - phát thanh - truyền hình thuộc 21 nước, trong đó chỉ có hai tờ báo bạn (1 BaLan và 1 HungGaRi) còn lại đều thuộc các nước phương Tây và hệ thống tư bản chủ nghĩa. Số người có thiện cảm với Cách mạng và có thái độ khách quan lúc đầu rất ít. Vì vậy việc chuyển hóa về cách nhìn, cách đánh giá tình hình của một khối đối tượng như thế là cả một quá trình phấn đấu hết sức gian nan, kiên nhẫn, khôn khéo, bền bỉ. Trên chiến trường ta đánh ngày càng mạnh, trên mặt trận dư luận phải làm sao thế giới nhận ra được hành động phá hoại ngừng bắn, phá hoại Hiệp định là do tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ đồng tình và hỗ trợ.

         Từng bước ta cũng đạt yêu cầu báo giới đưa tin và bình luận về tình hình chiến sự ở miền Nam ngày càng có lợi cho ta hơn. Thậm chí một số nhà báo còn trở thành cộng tác viên tự nguyện bằng việc chủ động báo ngay cho ta những diễn biến ở chiến trường mà họ có điều kiện nắm được rất nhanh.

         Càng về sau, khi triển vọng thắng lợi hoàn toàn của cách mạng ngày càng rõ, số người tỏ thiện chí càng nhiều, đưa tin sốt sắng, luôn giữ tiếp xúc với Đoàn ta, tích cực hỗ trợ ta đấu tranh chống lại những khó khăn hạn chế do Chính quyền Sài Gòn gây ra. Ngay cả phía Mỹ và Chính quyền Sài Gòn về cuối cùng phải quan tâm diễn đàn này, tạo thuận lợi cho ta họp báo và cử nhiều người của họ đến dự, cốt để qua kênh tiếp xúc này mà tìm hiểu ý đồ của lãnh đạo ta. Thành công trên trận địa dư luận này là một thắng lợi rất quan trọng trong cuộc đấu tranh pháp lý - chính trị - ngoại giao sau Hiệp định Pa-ri để bảo vệ các hành động quân sự chính nghĩa của ta đi đến đích cuối cùng.
   
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Ba, 2012, 10:19:59 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #246 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 10:26:25 pm »

        3) Điều dễ nhận thấy là: sống và hoạt động trong vùng kiểm soát của đối phương, trong điều kiện cụ thể lúc đó, cán bộ, chiến sĩ và nhân viên các Đoàn của ta đã phải vượt khó khăn trở ngại và cả gian nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Ăn ở, đi lại, làm việc, tiếp xúc (với UBQT, với các nhà báo) đều chịu sự phong tỏa của họ tùy thuộc vào thái độ "chủ nhà" của họ. Chiều hướng diễn biến ngoài chiến trường (càng về sau càng bất lợi cho họ) luôn tác động trực tiếp đến việc xử sự của họ với Đoàn ta, tại bàn hội nghị LHQS cũng như trong mọi sinh hoạt và hoạt động của ta ngoài hội nghị. Điều tưởng chừng mâu thuẫn là trong hoàn cảnh bị o ép như vậy, trong lúc ngoài chiến trường quân và dân ta ngày càng đẩy họ vào thế bị động và tổn thất, tại ngay Sài Gòn các đại biểu của ta không một phút xa rời lập trường đấu tranh không khoan nhượng, không bỏ lỡ dịp vạch trần và lên án tội ác của đối phương phản bội cam kết, phá hoại Hiệp định, chống lại hòa bình.

        4) Thời gian cuối trước chiến dịch Hồ Chí Minh, không buông lỏng hoạt động đấu tranh, lực lượng ta tại Trại Đavít tích cực chuẩn bị chiến đấu tự vệ, trong thời gian ngắn bí mật đào công sự, tổ chức hệ thống chiến đấu liên hoàn (địch không hay biết); khi quân ta từ các hướng tấn công vào Sài Gòn thì lực lượng ta ở Trại Đavít  cũng đã triển khai sẵn sàng chiến đấu.

        Sáng 30-4-1975 một tiểu đoàn bộ binh của Quân đoàn 3 đã vào bắt liên lạc, từ đó sứ mạng đấu tranh LHQS mặc nhiên kết thúc với việc thành phố Sài Gòn và toàn miền Nam được giải phóng.

        5) Trong quá trình thi hành nhiệm vụ, lực lượng đấu tranh LHQS đã không tránh khỏi thương vong.

        Ngay trong những ngày đầu triển khai đội hình, một đoàn đi từ Hà Nội vào theo đường Trường Sơn, máy bay địch đánh phá, bắn cháy 7 xe ôtô, có 5 người bị thương. Trong tháng 2-1973 một số cán bộ (của cả CPVNDCCH và CPCMLT) đã bị phía Sài Gòn tổ chức cho bọn côn đồ hành hung ở Huế, Buôn Mê Thuột và Bảo Lộc (Lâm Đồng) làm cho 4 người bị chết, 15 người bị thương. Đầu tháng 4-1973 hai sĩ quan liên lạc của ta đã hy sinh trong vụ một máy bay lên thẳng của Mỹ chở Tổ UBQT từ Quảng Trị đi Lao Bảo vi phạm hành lang bay, lực lượng vũ trang giải phóng buộc phải nổ súng, máy bay bị rơi ở Ly Tôn. Cuối năm 1973, vào lúc căng thẳng ở cả chiến trường và tại BLHQS 2 bên trung ương, một cán bộ tiểu đội vệ binh bị sốt xuất huyết địch cản trở ta đưa người bệnh đi điều trị nên đồng chí đã qua đời tại Trại Davis và cũng không chuyển được về hâu phương Lộc Ninh. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đêm 28 rạng 29-4-1975 tại Trại Davis có 2 đồng chí hy sinh và 5 người bị thương.
Từ tháng 01-1973 đến ngày 30-4-1975, tổn thất của hai Đoàn ta là: 9 liệt sĩ, 25 thương binh. Sau ngày 30-4-1975 do yêu cầu nhiệm vụ hai Đoàn ta tự kết thúc, chưa có điều kiện tổng hợp, tổng kết nên có thể số liệu về thương binh, liệt sĩ vẫn còn thiếu!

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #247 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 10:29:01 pm »


-III-
Kết luận

        1) Nhìn lại hơn hai năm ba tháng hoạt động, các Đoàn đại biểu quân sự của CPVNDCCH và CPCMLTCH MN VN trong các BLHQS 4 bên và 2 bên đã làm tròn trọng trách được giao.
   
        a/ Bằng chứng nỗ lực cao nhất, ta đã đấu tranh buộc đối phương phải nghiêm túc thi hành một số điều khoản quan trọng của Hiệp định Pa-ri, đặc biệt là việc rút quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi đất nước ta đúng thời hạn, chấm dứt sự có mặt quân sự và sự dính líu quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ vào miền Nam nước ta, tạo tiền đề chiến lược để chúng ta tiến lên thực hiện yêu cầu chiến lược tiếp theo là "Đánh cho ngụy nhào".
   
        b/ Với việc tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu ngày càng phá bỏ Hiệp định Pa-ri, không chấp nhận hòa bình và quyết dùng vũ lực hòng đẩy lùi tiến tới đánh bại ta, dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ chính trị và Quân ủy trung ương Đoàn ta trong BLHQS đã kịp thời chuyển hướng đấu tranh chủ yếu sang "Giành dư luận hỗ trợ chiến trường", góp phần có hiệu quả tranh thủ sự đồng tình ủng hộ hoặc ít nhất cũng là sự chấp nhận của dư luận thế giới đối với con đường chúng ta đi. Từ mong muốn thi hành đầy đủ Hiệp định buộc phải chuyển sang dùng lại bạo lực vũ trang cách mạng để đạt mục tiêu đã được ghi trịnh trọng trong Điều 1 Hiệp định Pa-ri: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam và đã được chính phủ Hoa Kỳ long trọng cam kết.
   
        Trước thắng lợi vũ bão của chiến dịch Hồ Chí Minh, các bản tin và bình luận được phát đi từ Sài Gòn đều xoáy vào Chủ đề Việt Nam đã thắng. Mỹ đã thua hẳn rồi, chế độ Sài Gòn theo Mỹ đã sụp đổ, không còn ý kiến moi móc xung quanh chuyện Hiệp định Pa-ri có được hay không được thi hành như hơn hai năm trước.
   
        Đấu tranh dư luận là một mặt trận rộn g lớn mà Đảng ta triển khai ở nhiều nơi trên thế giới. Sài Gòn (cũng là miền Nam Việt Nam) là trung tâm lò lửa, nơi diễn ra các sự kiện, nơi tập trung tất cả các bên liên quan, nên tin tức các sự kiện phát đi từ Sài Gòn có tầm quan trọng đặc biệt.
   
        Giành thắng lợi trên trận địa này, chúng ta đã tạo cho mình một lợi thế rất lớn về chính trị và ngoại giao sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, làm cho cuộc bao vây cấm vận của Mỹ đối với nước ta không còn hiệu quả, khiến Mỹ ngày càng bị cô lập.
   
        2) Trong lịch sử nước ta cũng như các nước trên thế giới, kể cả với câu chuyện huyền thoại về con ngựa thành Tờ-roa, chưa từng có trường hợp nào mà một bên đối địch lại hợp pháp cắm được một bộ phận lực lượng của mình công khai đứng tại trung tâm đầu não của đối phương, trước đại diện dư luận của cộng đồng quốc tế tập trung tại đây. Dõng dạc phân tích phải trái các ý đồ và hành động của mỗi bên, lên án những việc làm xằng bậy của đối phương, biện hộ một cách thuyết phục cho những bước đi bắt buộc của mình để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đạo lý và cuối cùng ca khúc khải hoàn với Đại quân ngày chiến thắng.
   
        Tạo được điều kì diệu độc đáo này là do đường lối đúng đắn, phương cách sáng tạo và dẫn dắt tài tình của Đảng ta. Trong đó còn có bản lĩnh và sự nỗ lực vượt bậc, không ngại hy sinh, gian khổ, một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ thành viên hai đoàn đại biểu quân sự trong BLHQS 4 bên và 2 bên trung ương.
 
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #248 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 10:48:48 pm »



THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARIS : MẶT TRẬN ĐẤU TRANH
NGOẠI GIAO CHUYỂN TỪ PARIS VỀ SÀI GÒN

Huỳnh Văn Trình                
       
   I - Từ trước đến nay, trong việc nghiên cứu, đánh giá Hiệp định Paris về Việt Nam, thường có xu hướng tập trung phát biểu, viết, tham luận rất sâu sắc về sự lãnh đạo, chỉ đạo, nghệ thuật tiến hành đàm phán, nội dung, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi, các bài học.., rút ra từ việc ký kết Hiệp định ; nhưng ít ai đề cập đến giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định. Các cuộc hội thảo lớn tầm cỡ quốc gia vào các thời điểm kỷ niệm 10, 20, 30 và 35 năm Hiệp định Paris đều chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu tổng kết về giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định kéo dài 823 ngày đêm này, từ 28/111973 đến 30/411975. Việc nghiên cứu tách rời bản thân ký kết Hiệp định Pans với đấu tranh thi hành Hiệp định như vậy làm hạn chế tầm nhìn tổng thể về chiến lược, chính trị, quân sự, pháp lý và thực tiễn của Hiệp định Paris, phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Thực tế lịch sử cho thấy, từ rất sớm, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng, khi chủ trương ký Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 - Hiệp ước quốc tế đầu tiên của nước Việt Nam độc lập ký kết với nước ngoài - đã tính đến giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định ấy, trong đó thực hiện việc đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏi Việt Nam, biến cuộc viễn chinh xâm lược của Pháp thành một cuộc hành quân có sự thoả thuận của một chính phủ có chủ quyền cho phép quân Pháp vào thay quân Tưởng, quy định giới hạn số lượng 15.000 quân, buộc chúng trong vòng 5 năm phải rút hết quân.., tạo ra thời kỳ tương đối hoà bình đặc biệt là ở miền Bắc, để chúng ta có thêm thời gian củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng. Đồng thời, do tính chất sơ bộ và tạm thời của Hiệp định và bản chất thực dân của Pháp; trong khi thi hành Hiệp định để hoà hoãn kiềm chế Pháp, chúng ta khẩn trương tăng cường lực lượng mọi mặt, chuẩn bị tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc tất yếu sẽ xảy ra vào cuối năm 1946.

        Ngày 22/7/1954 trong "Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Genève thành công", Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh : "Hội nghị Genève đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to. Từ nay chúng ta phải ra sức đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc; ngừng bắn, tạm thời điều chỉnh khu vực tập kết quân, tiến đến thống nhất nước nhà bằng tổng tuyển cử là một cuộc đấu anh lâu dài và gian khổ; làm đúng những điều đã ký kết đồng thời đòi chính phủ Pháp làm đúng những điều họ đã ký; tỉnh táo đề phòng âm mưu của những kẻ phá hoại hoà bình, ra sức đấu ranh thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc đặng thống nhất nước nhà, ra sức khôi phục, xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng ta về mọi mặt để thực hiện quyền độc lập hoàn toàn của nước ta. Cuộc đàm phán ngoại giao ký kết Hiệp định Genève chỉ tiến hành trong 75 ngày, nhưng đấu tranh thi hành Hiệp định đã kéo dài suốt 19 năm ròng.

        Qua hai Hiệp định hoà bình Việt Nam đã ký với đối phương nói trên (và kể cả Tạm ước 14/9/1946) trong quá trình kháng chiến cứu nước, mỗi Hiệp định đều có ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn, đánh dấu những thắng lợi nhất định trong từng chặng đường đã qua, khẳng định thắng lợi của Hiệp định sau luôn lớn hơn Hiệp định trước. Nhưng đồng thời cũng làm nổi bật lên tầm quan trọng mang tính quyết định của cuộc đấu tranh gian khổ, quyết liệt ở từng giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định mà thực chất là một bộ phàn của cuộc đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, phát huy các nhân tố pháp lý, chiến trường, hậu phương và quốc tế của nhân dân ta, giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi hoàn toàn.

        Bởi vậy, khi đanh giá về Hiệp định Paris 1973, cũng cần gắn chặt việc nghiên cứu về thắng lợi của Mặt trận đấu anh ngoại giao trong cuộc đàm phán Paris về Việt Nam gần 5 năm, với trận địa đấu tranh ngoại giao quân sự kết hợp với các mặt đấu tranh khác trong thời gian 2 năm 3 tháng thi hành Hiệp định, dẫn đến ngày toàn thắng 30/4/1975. Hiệp định Paris là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc cho cuộc đấu anh giải phóng miền Nam, hoà bình thống nhất Tổ quốc. Đấu tranh thi hành Hiệp định là bước kế tiếp đưa Hiệp định đi vào cuộc sống trên chiến trường, quyết định tại chỗ kết quả mà ta đã giành được trong đàm phán, bằng cuộc đấu tranh quyết liệt buộc địch phải tuân thủ và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định trên thực địa. Thắng lợi của thi hành Hiệp định là sự kiểm nghiệm thành quả của chủ trương đúng đắn ký kết Hiệp định, là bài học kinh nghiệm bổ túc về nhiều mặt cho đàm phán ngoại giao lâu dài sau này. Trong dư luận xã hội và báo chí quốc tế, hai mặt hữu cơ ký kết và thi hành Hiệp định không tách rời nhau.

        Theo nhận thức và tinh thần trên đây, với vinh dự được đứng trong hàng ngũ những nhân chứng lịch sử đã từng trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán riêng Lê Đức Thọ - Kissinger ở Paris và sau đó là thành viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương và Phó Trưởng đoàn Việt Nam DCCH trong Tổ liên hợp quân sự 4 bên ở Sài Gòn, tôi xin nêu một vài suy ngẫm về ngoại giao quân sự tại chiến trường để góp phần vào nghiên cứu tổng kết cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Paris sau này. Đây là một khoảng trống về tổng kết lịch sử cần được lấp đầy vì từ trước đến nay chúng ta chưa đặt đúng tầm việc nghiên cứu thời kỳ đấu tranh thi hành Hiệp định.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #249 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 10:51:58 pm »

         II - Đấu tranh thi hành Hiệp định Paris : Mặt trận ngoại giao chuyển từ Paris về Sài Gòn.

         + Đàm phán Paris kết thúc với các sự kiện nổi bật :

        - 13/1/1973 : Phiên họp riêng cuối cùng Lê Đức Thọ - Kissinger cơ bản hoàn thành các văn kiện của Hiệp định.

        - 23/1/1973 : Lê Đức Thọ - Kỉssinger ký tắt Hiệp định.

        - 24/1/1973 : Công bố toàn văn hiệp định và các nghị định thư.

        - 27/1/1973 : Lễ ký chính thức tại Trung tâm Kléber - Paris.

        + Giai đoạn thi hành Hiệp định Paris bắt đầu : Mặt trận ngoại giao chuyển từ Paris về Sài Gòn với các diễn biến quan trọng :

        - 27/1/1973 : 24 giờ (giờ GMT), ngừng bắn trên toàn miền Nam. 11 giờ Đại tá Lưu Văn Lợi, thành viên Đoàn đàm phán riêng Lê Đức Thọ - Kissinger và Đại tá Đoàn Huyên, thành viên đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời rời Paris về Sài Gòn nhận chức Phó Trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng.hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong các Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên; đảm bảo sự có mặt tại chỗ ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

           - 29/1/1973 : Ban Liên hợp quân sự 4 bên họp tại Sài Gòn. Hai bên miền Nam lập Ban Liên hợp quân sự 2 bên, Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do Thiếu tướng Lê Quang Hoà dẫn đầu; đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam do Trung tướng Trần Văn Trà dẫn đầu; đoàn Mỹ do Thiếu tướng Woodward và đoàn Việt Nam cộng hoà do Trung tướng Ngô Du dẫn đầu.

        Việc thi hành Hiệp định là trách nhiệm của các bên ký kết. Các Ban Liên hợp quân sự có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thi hành Hiệp định.

         Từ đây, trong khi ở miền Nam Việt Nam còn đầy rẫy quân Mỹ-ngụy, cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định diễn ra gay go, quyết liệt liên tục cho đến ngày toàn thắng giải phóng miền Nam 30/4/1975.

         III - Ba bài học từ đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Paris.

        Ký Hiệp định, Mỹ chấp nhận một bước lùi.về chiến lược, nhưng vẫn tiếp tục "Việt Nam hoá" chiến tranh, dùng chính quyền và quân đội Sài Gòn làm công cụ áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta. Chúng chỉ thi hành một số điều khoản của Hiệp định nhằm rút được quân Mỹ, đưa được tù binh Mỹ về nước, ngoài ra là phá hoại trắng trợn Hiệp định và tiếp tục chiến tranh.

        Ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định và đòi đối phương cũng phải làm như vậy coi đó là bước quá độ tiến lên hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam. Trước tình hình Mỹ-nguy phá hoại Hiệp định, tiến hành chiến  tranh, ta coi việc đấu tranh thi hành Hiệp định là nằm trong ba mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao đánh bại "Việt Nam hoả" chiến tranh, đánh đổ chính quyền tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Từ thực tiễn đấu tranh thi hành Hiệp định Paris trong suốt 2 năm 3 tháng, chúng ta.có thể rút ra nhiều bài học lớn. Xin đề cập sơ bộ về ba bài học liên quan đến đấu tranh ngoại giao quân sự của các Đoàn đại biểu quân sự chính phủ ta ở hai miền Bắc Nam trong các Ban Liên hợp quân sự. Đó là :

        1. Đánh giá đúng âm mưu địch đối với thi hành Hiệp định để vừa phục vụ cho sự chỉ đạo chiến lược của trên, vừa xác định đúng thái độ đấu tranh của ta ngay tại chiến trường :

        Chúng ta không ai quên bài học lịch sử của việc thi hành Hiệp định Genève 1954 là, sau 300 ngày chuyển quân tập kết, Mỹ - Diễm đã phá hoại trắng trợn và toàn diện Hiệp định, củng cố ngụy quyền Sài Gòn tay sai Mỹ, chia cắt đất nước.
a. Vì thế, đối với Hiệp định Paris, vấn đề đặt ra là sau 60 ngày thực hiện được một số điều khoản ban đầu về ngừng bắn (điều 3), Mỹ và chư hầu rút hết quân (điều 5) và trao trả tù binh (điều Cool, Mỹ - nguy có thi hành Hiệp định không ?

        Trả lời câu hỏi này, với tư cách là những người trực tiếp quan hệ với Mỹ - ngụy ngay tại sào huyệt đầu não của chúng; căn cứ vào diễn biến trong đàm phán và trên chiến trường ; quan sát tại chỗ và thu thập dư luận địa phương, quốc tế; đặc biệt là từ thực tế Mỹ - ngụy đi sâu phá hoại Hiệp định, làm tê liệt hoạt động của hệ thống Liên hợp quân sự, đẩy mạnh hành động chiến tranh lấn chiếm lãnh thổ, thu hẹp vùng giải phóng, tăng cường kìm kẹp bình định vùng chúng kiểm soát; sau 60 ngày và kết thúc hoạt động Ban Liên hợp quân sự 4 bên Tư, lãnh đạo 2 đoàn A (VNDCCH) và B (CPCMLT) đã đi đến kết luận và khẳng định, báo cáo lên trên là "về cơ bản Mỹ-nguy không thi hành Hiệp định, chứng âm mưu dừng quân sự để giành chiến thắng độc chiếm miền Nam, chia - cắt đất nước".
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM