Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #250 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 10:53:44 pm » |
|
Từ nhận định đó, đã giải quyết tư tưởng mơ hồ, ảo tưởng về khả năng địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định; không mất cảnh giác để địch đơn phương lấn chiếm; mà thấy rõ cuộc đấu tranh để hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước phải tiếp tục bằng con đường bạo lực cách mạng.
Do vậy, Quân ủy TW quyết định đình chỉ triển khai tiếp các Tổ Liên hợp quân sự khu vực và địa phương; Trung tướng Trần Văn Trà rời Trại Davis ngày 30/3/1973 trở 1ại vị trí Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn thay làm Trưởng Đoàn Quân Sự Chính phủ CMLTCHMNVN.
Ta chủ động đánh trả địch lấn chiếm vùng giải phóng không những tại nơi chúng lấn chiếm mà còn trừng trị vi phạm từ nơi xuất phát và ở những nơi khác tại miền Nam Việt Nam, tiến tới giải phóng từng tỉnh, từng vùng và Tổng tấn công nổi dậy xuân 1975. Quân khu 9 đã làm sớm nhiệm vụ đanh trả này có hiệu quả.
b. Một thời điểm quyết định khác về đánh giá âm mưu địch phục vụ cho chỉ đạo chiến lược của TW là khi ta quyết định giải phóng miền Nam bằng quân sự mở tấn công mùa Xuân 1975, câu hỏi rất lớn là Mỹ có quay trở lại để cứu chế độ Sài Gòn hay không? Nếu trở lại thì bằng bộ binh, hay không quân, hải quân?
Giải đáp cân hỏi này là rất quan trọng đối với quyết định chiến lược của trên. Đoàn ta ở Tân Sơn Nhất được giao nhiệm vụ điều tra, tình báo chiến lược về việc này. Phát huy lợi thế đứng chân tại chỗ trong lòng địch, bằng nhiều biện pháp thu thập, điều tra, khai thác, tháng 12/1974 ta đã nhận được nguồn tin cao cấp là "Mỹ sẽ không can thiệp trở lại bằng quân sự, kể cả bằng không quân nếu chế độ Sài Gòn bị tấn công và có nguy cơ sụp đổ". Tin này đã góp phần vào mạng lưới tình báo quốc gia, làm cơ sở cho quyết định chiến lược của ta.
c. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói, rõ ràng "Trại Đa-vít, đại bản doanh của 2 đoàn đại biểu quân sự Chính phủ VNDCCH và Chính phủ CMLT CHMNVN là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị, quân sự đặt ngay trong lòng địch". Đại tướng Văn Tiến Dùng cũng nói: "Các đồng chí ở Tân Sơn Nhất có một thế đứng riêng, công khai, hiên ngang giữa lòng địch, giúp cho Đảng hiểu thấu được lòng dân đối với sự nghiệp giải phóng và hiểu kẻ thù trước những ngày chứng giãy chết".
2. Bài học thứ hai là trên mặt trận ngoại giao, ta kiên trì đường lối đúng đắn giương cao ngọn cờ hòa bình. đấu tranh thi hành và bảo vệ Hiệp dịnh Paris trong bất cứ tình huống nào; kết hơn đấu tranh pháp lý với đấu ranh tổng hợp trên 3 mặt trận chính trị quân sự ngoại giao.
a. Đương nhiên là nếu cả hai bên đều thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định thì tất yếu Hiệp định được thực hiện như đã ký kết và đem lại thắng lợi cho cách mạng miền Nam vì bản thân Hiệp định đã được đánh giá là thất bại của Mỹ - ngụy, thắng lợi ngoại giao tuyệt vời của ta, là dấu son sáng chói trong lịch sử ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, hoàn thành nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút", tạo điều kiện tiến lên "đánh cho ngụy nhào".
b. Trong tình huống Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định, việc ta nắm vững ngọn cờ Hiệp đinh Paris có lợi nhiều mặt cho ta: - Bảo đảm cơ sở pháp lý quốc tế giúp ta duy trì các Đoàn đại biểu quân sự trong sào huyệt địch tại Sài Gòn, đặc biệt là nâng cao vị trí Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
- Biểu thị đường lối đúng đắn và thiện chí của ta, tranh thủ dư luận yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trong nước và thể giới.
- Vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định, dùng quân sự đánh chiếm vùng giải phóng, tăng cường chiến tranh.
- Từ đó, ta tranh thủ sự ủng hộ và đồng tình rộng rãi đối với hành động của ta đánh trả, trừng phạt kẻ vi phạm Hiệp định, tạo điều kiện hỗ trợ, phục vụ cho hoạt động quân sự chủ động của ta trên chiến trường. Khi địch quyết dùng quân sự giải quyết vấn đề chiến sự ngày càng lan rộng, chiến anh càng nóng bỏng, ta càng tập trung dựa vào Hiệp định Paris để đấu tranh dự luận hỗ trợ chiến trường, từ đánh trả vi phạm, tiến lên chủ động tấn công và cuối cùng là cuộc chiến mùa Xuân giải phóng toàn miền Nam 1975.
Thực tế việc ta kiên trì đường lối thi hành Hiệp định Paris đã làm nổi bật trước dư luận quốc tế thái độ ngoan cố của địch phá bỏ Hiệp định, đưa miền Nam trở lại tình trạng chiến tranh, sự khác nhau về lập trường và thái độ của mỗi bên đối với Hiệp định; làm chuyển hóa cách nhìn và đánh giá của đông đảo báo chí ở Sài Gòn (80 hãng Thông tấn báo chí, chủ yếu là phương Tây) ngày càng thuận lợi cho ta về diễn biến chiến trường, thậm chí tỏ thiện chí đối với ta khi triển vọng thắng lợi hoàn toàn càng đến gần.
Thành công của việc ta nắm ngọn cờ Hiệp định Paris trên trận địa dư luận là một thắng lợi rất quan trọng trong cuộc đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trên chiến trường trong giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định, đi đến thắng lợi hoàn toàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #251 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 10:55:07 pm » |
|
3. Bài học thứ ba: Phát huy cao độ bản chất Bộ đội Cụ Hồ của đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ các Đoàn Đại biểu của ta trong Các Ban liên hợp quân sự để bảo đảm "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng" trong tình hình mới "vào hang hùm bắt cọp".
Để thực hiện nhiệm vụ ngoại giao - quân sự độc đáo này, Đảng và Nhà nước, Bộ Quốc phòng cùng các Bộ, ngành liên quan, nhất là Ngoại giao, Công an, Văn hóa, Thông tin, báo chí... đã cử một lực lượng ưu tú, hùng hậu tướng lĩnh, sỹ quan chiến sỹ, cán bộ tham gia 2 đoàn đại biểu quân sự Chính phủ VNDCCH và Cách mạng lâm thời CHMNVN, hành quân thân tốc đặc biệt chưa từng có trong lịch sử bằng máy bay C130 và trực thăng, do chính kẻ thù Mỹ cung cấp, để tiến thẳng về Sài Gòn; thiết lập khu giải phóng công khai đầu tiên trong lòng địch, chỉ cách Bộ Tổng tham mưu Nguy 1 km theo đường chim bay.
Đối mặt với một kẻ thù ngoan cố phá hoại, xóa bỏ Hiệp định Paris với thái độ hung hăng, lật lọng, côn đồ, khiêu khích trắng trợn, hèn hạ nhất trong đàm phán cũng như trong xử sự đối với mọi sinh hoạt ăn, ở, làm việc của ta ngoài hội nghị, thậm chí chúng đã uy hiếp, hành hung và dự tính đến tấn công vào trụ sở bắt làm con tin hay tiêu diệt ta bất cứ lúc nào; cán bộ, chiến sỹ các đoàn ta không một phút lơ là cảnh giác, luôn giữ lập trường đấu tranh không khoan nhượng và khôn khéo, giữ thái độ hiên ngang, đàng hoàng, chững chạc, dũng cảm, thông minh, đầy thiện chí hòa bình.
Cuộc đấu tranh căng thẳng về từng điều khoản Hiệp định ở cấp TW và địa phương đã đem lại một số kết quả quan trọng:
Nhìn chung, trong thời gian đầu 60 ngày, ngừng bắn có được thực hiện trên toàn miền Nam, tuy nhiên có một số vụ vi phạm nổ súng lấn chiếm của quân Ngụy nơi này, nơi khác vẫn là phổ biến và ngày càng trắng trợn.
- Mỹ và chư hầu buộc phải rút hết quân chiều 29/3/73 toán quân Mỹ cuối cùng đã lên máy bay rời Sài Gòn Đây là yêu cầu cơ bản và bức thiết nhất của ta, là bước ngoặt thay đổi tương quan lực lượng, tạo điều kiện để ta chủ động và có ưu thế trong mọi tình huống hòa bình hay trở lại chiến tranh.
- Địch phải trao trả cho ta nhân viên quân sự và dân sự bị bắt cả 2 thời kỳ LHQS 4 bên và 2 bên trên 31.000 người.
Ta liên tục và quyết liệt đấu tranh.pháp.lý và dư luận chống vi phạm Hiệp định của địch, duy trì họp báo hàng tuần nhằm lên án âm mưu, hành động chiến tranh của Mỹ - ngụy, giải thích sự nghiệp chính nghĩa của ta và tính chính đáng của hành động vũ trang đánh trả của ta chống lấn chiếm cũng như trong Tổng tấn công giải phóng miền Nam. Cho đến ngày toàn thắng dư luận quốc tế càng chuyển biến thuận lợi cho ta.
Thời gian diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, cán bộ chiến sỹ ta ở trại Davis - Tân Sơn Nhất đã tích cực, sẵn sàng chiến đấu tại chỗ và phối hợp hành động với các mũi tấn công địch bằng hoạt động ngoại giao nghi binh, đánh lạc hướng.
Đội ngũ cán bộ, chiến sỹ ta qua đấu tranh, đã tỏ ra anh hùng, bất khuất, chịu đựng hy sinh gian khổ, vượt qua mọi khó khăn trở ngại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng là những đại diện của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong quá trình hoạt động 6 đồng chí đã bị hành hung và bị thương, 1 đồng chí qua đời vị bênh sốt xuất huyết mà không đưa về hậu phương điều trị được, 2 đồng chí hy sinh và 4 bị thương trong chiến dịch Hồ Chí Minh tại trại Davis. Đó là những tấm gương cao quý của Bộ đội Cụ Hồ trong đấu tranh thi hành Hiệp định góp phần giải phóng miền Nam.
Ba bài học rút ra từ thực tiễn trên đây có giá trị lớn trong giai đoạn đấu tranh ngoại giao - quân sự thi hành Hiệp định Paris, thiết thực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của Cách mạng miền Nam.
IV. Đề xuất kiến nghị
Trong Hội thảo kỷ niệm 30 năm ký Hiệp định Paris vào 1/2003 tôi có đề xuất ý kiến, kiến nghị lên trên công nhận Trại Davis là 1 địa danh di tích lịch sử trong đấu tranh thi hành Hiệp định Paris và giải phóng miền Nam; xây dựng tại đây khu lưu niệm (như thành phố Hà Nội đã tôn tạo khu di tích Trung Giã là nơi họp Ban liên hiệp Việt-pháp sau Hiệp đinh Giơnevơ), như là 1 biểu tượng của chủ nghĩa anh hừng cách mạng Việt Nam đối với các thế hệ mai sau.
Được biết, theo đề nghị của các Ban liên lạc Cựu chiến binh trong các đoàn đại biểu quân sự Chính phủ VNDCCH và Cách mạng lâm thời CHMNVN trong các Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên trong thi hành Hiệp định Paris, các Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa Thông tin (cũ) và Thành phố Hồ Chí Minh đã nhất trí về chủ trương xây dựng khu lưu niệm Trại Davis. Tuy nhiên việc xúc tiến còn quá chậm.
Chứng tôi mong rằng, sau khi Bộ Ngoại giao đã đánh giá cao việc đấu tranh thi hành Hiệp định và đã trao tặng kỷ niệm chương cho cán bộ, chiến sỹ đã hoạt động trong các Ban liên hợp quân sự ở miền Nam Việt Nam từ 1973- 1975, thì dự án khu lưu niệm này sẽ được thúc đẩy khẩn trương hơn để có thể khánh thành vào dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng miền Nam vào 2010./.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #252 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 08:29:06 am » |
|
QUÂN MỸ PHẢI RÚT HOÀN TOÀN RA KHỎI MIỀN NAM VIỆT NAM Nguyễn Văn Khả(Vũ Nam Bình) 1. Tham gia đấu tranh thi hành hiện định Pa-ri về Việt Nam. Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được các bên tham gia hội nghị Pa-ri về Việt Nam ký ngày 27/01/1973. Theo Hiệp định, các bên ký kết thoả thuận cử ngay đại diện để thành lập Ban liên Hợp quân sự 4 bên (BLHQS 4b) có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện một số điều khoản về quân sự và cũng là những điều khoản quan trọng đầu tiên của Hiệp định. Những điều khoản đó là: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam; - Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội Hoa Kỳ và quân đội các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 8 (a) về việc trao trả những nhân viên quân sự (NVQS) của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt. - Điều 8 (b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #253 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 08:30:07 am » |
|
*
* * Một số cán bộ chiến sỹ chúng tôi đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam Việt Nam, được điều động về đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) tham gia vào Ban liên hợp quân sự 4 bên Trung ương tại Sài Gòn. Tôi được giao hai nhiệm vụ: Nhiệm vụ thứ nhất là về phía nội bộ tôi là Phó phòng bảo vệ Cục chính trị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trực tiếp phụ trách công tác Bảo vệ an ninh của Đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN. Nhiệm vụ thứ hai về phía công khai là tham gia vào tiểu ban trao trả người bị bắt của các bên với cương vị Phó trưởng tiểu ban trao trả của CPCMLTCHMNVN. Tôi đã làm 2 nhiệm vụ đó suốt trong thời kỳ Ban liên hợp quân sự 4 bên và ở lại thêm một thời gian nữa trong Ban liên hợp quân sự 2 bên Trung ương. Khi nhận nhiệm vụ ở Đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN, chúng tôi đã được Quân uỷ miền phổ biến những nhận định, đánh giá của Trung ương và Trung ương Cục miền Nam về thời kỳ đấu tranh thi hành hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Ký được hiệp định Pa-ri là một thắng lợi lớn, thắng lợi rất quan trọng của nhân dân cả nước ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đối với Mỹ ngụy thì đây là một thất bại cay đắng của chúng. Mỹ phải ký hiệp định Pa-ri chỉ là một bước lùi về chiến lược. Thực chất là Mỹ vẫn tiếp tục "Việt Nam hoá" chiến tranh, vẫn bằng mọi cách để giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo của Mỹ. Vì vậy, Mỹ chỉ thi hành những điều khoản nào theo yêu cầu của Mỹ, có lợi cho Mỹ, các vấn đề khác chúng sẽ phá và dung túng, thúc đẩy bọn ngụy Sài Gòn phá hiệp định. Còn nguỵ Sài Gòn trước sau vẫn chống lại việc ký kết Hiệp định Pa-ri. Vì lệ thuộc Mỹ buộc phải ký nên chúng sẽ quyết liệt phá Hiệp định Pa-ri. Ngay từ phiên họp đầu tiên của BLHQS 4 bên trung ương, phía Mỹ yêu cầu thành lập ngay các Tiểu ban trao trả để hoạt động khẩn trương giải quyết kịp thời vấn đề trao trả người bị bắt của các bên. Chúng ta biết rất rõ phía Mỹ rất nóng lòng lấy được tù binh Mỹ càng sớm càng tốt. Ở hội nghị Pa-ri, phía Mỹ còn đưa ra kiến nghị là trao trả được tiến hành xong trước khi rút quân Mỹ 2 tháng nhưng bị ta bác bỏ. Hai tiểu ban trao trả của VNDCCH và CPCMLT được lãnh đạo hai đoàn chỉ đạo là phải nắm thật vững điều 8 (a) trong hiệp định Pa-ri: "Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiên hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong điều 5". Chúng tôi hiểu rất rõ rằng quân Mỹ và quân chư hầu nhất định phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng không thể cưỡng lại được nhưng phải hết sức cảnh tỉnh trước những mưu đồ của chúng trong vấn đề rút quân Mỹ. Cần theo dõi thật sát, nắm những diễn biến cụ thể trong nấc phát biểu của Mỹ- ngụy trên bàn hội nghị cấp trưởng đoàn và cấp tiểu ban, và những diễn biến tải những nơi tiến hành trao trả nhất là những nơi trao trả các quân nhân Mỹ bị bắt. Ở cấp trưởng đoàn cũng như ở cấp tiểu ban trao trả phải thật tỉnh táo nắm vững con bài tù binh Mỹ trong vấn đề song song trao trả với rút quân Mỹ ngay trong từng đợt và trong cả 60 ngày của thời kỳ LHQS 4 bên. Phía ta phải thực hiện thật đúng những quy định cụ thể của Hiệp định và của Nghị định thư về trao trả, không để có sơ hở đề phòng chúng vu khống tạo cớ để dây dưa kéo dài việc rút quân Mỹ hoặc không rút hết quân. Về công tác trao trả, chúng ta đã thi hành nghiêm chỉnh mọi điều khoản, mọi quy định của Hiệp định, đối xử rất nhân đạo, trao trả hết tất cả tù binh Mỹ bị bắt và trao trả vào đúng thời gian mà các bên đã thảo thuận. Chính điều này đã trở thành một sức mạnh, một sức ép lớn chống lại ý đồ của phía Mỹ tạo ra những lý do phi lý tìm cách dây dưa việc rút hết quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nó cũng là những cơ sở vững chắc để chống lại những mưu đồ của chính quyền Sài gòn gây ra những trục trặc khó khăn để không trao trả hết tù binh của ta.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #254 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 09:06:29 am » |
|
*
* * 2. Đấu tranh căng thẳng kéo dài ở Hội nghị Pa-ri về vấn đề quân Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Một trong những vấn đề đấu tranh gai góc nhất, quan trọng nhất ở cuộc đàm phán Pa-ri về Việt Nam là vấn đề quân đội Mỹ và quân đội các nước ngoài thuộc phe Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đây cũng là mục tiêu số 1 của chúng ta. Chúng ta nhớ lại, từ ngày 12 tháng 8 năm 1965, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của ông Philip Deville phóng viên báo Le Mon de của Pháp về tiến tới một giải pháp cho vấn đề Việt Nam, Bác đã xác định rõ: " Chính phủ Mỹ phải chấm dứt ngay những cuộc tấn công bằng không quân vào lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước chúng tôi, rút quân đội và các loạt vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đó là "hoà bình trong danh dự, ngoài ra không có con đường nào khác" [1]. Trong lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch với câu nói nổi tiếng "Không có gì quý hơn độc lập tự do" tháng 7 năm 1966, Bác khẳng định: "Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hoà bình sẽ trở lại ngay lập tức" [2]. Đến thư chúc mừng năm mới Xuân 1969 Bác nêu rõ: "Vì độc lập vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào..." Chấp hành những lời dạy của Bác, ngay từ ngày mồng 06 tháng 5 năm 1969, với tuyên bố 10 điểm của Đoàn đàm phán Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau này là Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam tại hội nghị 4 bên ở Pa-ri, trong đó làm nổi bật 2 vấn đề: - Rút hết quân Mỹ, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh ra khỏi miền Nam Việt Nam. - Thành lập chính phủ liên hiệp lâm thời. Còn phía Mỹ thì kiên quyết và kiên trì đòi 2 bên phải cùng xuống thang, cùng rút quân. Chính Nixon đã nói khi đưa ra 8 điểm ngày 14/5/1969 là đánh đổi việc rút quân Mỹ và việc rút quân miền Bắc và giữ chính quyền Sài gòn. Mỹ coi vấn đề đánh đổi rút quân Mỹ và quân miền Bắc là vấn đề cơ bản, then chết của Mỹ. Suốt cả quá trình đấu tranh ở Hội nghị Pa-ri, phía Mỹ bám rất chặt vấn đề này, đưa ra nhiều phương án cùng rút quân, có bất kỳ 1 cơ hội nào là Kissinger lại đưa ra vấn đề quân miền Bắc cũng phải rút. Hariman có lúc vặn vẹo đồng chí Xuân Thuỷ rằng tôi chỉ hỏi Bộ trưởng là có quân miền Bắc ở miền Nam không? Đây là vấn đề thiêng liêng và rất quan trọng. Tại diễn đàn Quốc hội ngày 08/6/1968, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố: "Thực hiện quyền dân tộc tự vệ thiêng liêng, mỗi người dân Việt Nam có quyền chiến đấu chống xâm lược trên bất kỳ mảnh đất nào của Tổ quốc". Tuy có đẩy lùi được một bước về vấn đề quân miền Bắc và cùng với tuyên bố của đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời là "Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết" là đã tước quyền của Mỹ không để Mỹ dính vào vấn đề các lực lượng vũ trang ở miền Nam. Tuy nhiên vấn đề còn khá là căng thẳng. Kissinger đưa ra rất nhiều công thức, nào là 2 bên cùng rút quân, rồi rút quân hỗ tương- Kissinger lập luận rằng không đặt vấn đề quân Mỹ với quân miền Bắc trên một cơ sở pháp lý như nhau, và rằng hai bên sẽ được giải quyết vấn đề này bằng 2 kế hoạch riêng rẽ. Bị ta bác bỏ hoàn toàn, nhưng Mỹ vấn cố bám. Những ngày cuối năm 1972, Mỹ vấn còn đề nghị là, sau khi ngừng bắn, 2 bên trao cho nhau bản kế hoạch bố trí lực lượng. Khi ta đòi vấn đề trao trả nhân viên dân sự một cách quyết liệt thì Kissinger nêu rằng: "Chính quyền Sài gòn sẽ thả một số đáng kể thường dân bị giam giữ đồng thời với việc triển khai lại một số đáng kể quân đội ở phía Bắc Nam Việt Nam". Cũng là ý đòi quân miền Bắc phải rút về miền Bắc. Nguyễn Văn Thiệu thì than thở rằng nếu quân Mỹ rút hết khỏi miền Nam Việt Nam thì chúng tôi mất chỗ dựa, và nếu quân miền Bắc ở lại Nam Việt Nam thì là vấn đề sống chết với chúng tôi. ---------------- [1] Hồ Chí Minh toàn tập- Nhà xuất bản chính trị quốc gia- Hà Nội 2000, tr.11, tr.469. [2] Hồ Chí Minh toàn tập- Nhà xuất bản chính trị quốc gia -Hà Nội 2000, tr.108 - 109.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #255 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 09:10:14 am » |
|
Chúng ta biết khi Mỹ đưa cho Thiệu xem bản dự thảo Hiệp định thì Thiệu đòi sửa 69 điểm mà tập trung là đòi quân miền Bắc phải rút khỏi Nam Việt Nam, không công nhận CPCMLTCHMNVN, đòi sửa những điểm về khu phi quân sự và hàm ý biến miền Nam thành 1 quốc gia riêng biệt. Thiệu nói với Bunker đại sứ Mỹ rằng "đây là vấn đề sống chết với Nam Việt Nam và 17 triệu dân Nam Việt. Vị trí của chúng tôi rất là bất hạnh, chúng tôi đã rất trung thành với Mỹ và bây giờ chúng tôi cảm thấy mình đang bị hy sinh- Nếu chúng tôi chấp nhận văn kiện như hiện có, chúng tôi sẽ tự sát" [3].
Kissinger cũng đưa ra những điểm mà Thiệu đòi sửa đổi. Chính Mỹ cũng muốn thay đổi những điểm cơ bản trong dự thảo Hiệp định.
Chúng ta lên án những đòi hỏi phi lý của Mỹ.
Chúng ta phản kích và ta đưa ra 57 điểm sửa đổi.
Chúng ta lên án mạnh mẽ thái độ đe doạ của Mỹ.
Chiến dịch ném bom B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng chính là nhằm ép ta phải nhân nhượng về vấn đề rút quân miền Bắc. Quân dân ta đánh bại chiến dịch B52 của Mỹ và Mỹ không thể ép được ta nhân nhượng.
Thế là đợt gặp riêng cuối cùng từ 08/01/1973 đến 18/01/1973 đã nhanh chóng đạt được thoả thuận, những vấn đề cơ bản có lợi cho ta vẫn được giữ vững.
Ngày 21/01/1973 Thiệu phải đồng ý ký Hiệp định Pa-ri.
Ngày 23/1/1973 Hiệp định Pa-ri được ký tắt.
Ngày 27/1/1973 Hiệp định Pa-ri được ký chính thức tại hội trường quốc tế đường Kbéber Pari.
Điều mà ta và Mỹ đấu tranh căng thẳng nhất đã được ghi rất đậm nét trong Hiệp định Pa-ri.
Đó là:
- Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước VNDCCH, tháo gỡ làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam.
- Mỹ phải rút hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam - Mỹ phải huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam.
- Mỹ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Đặc biệt, có một vấn đề được coi là rất quan trọng mà phía Mỹ coi là cơ bản, là then chốt và Mỹ có rất nhiều lý lẽ, nhiều phương án đấu tranh và dùng cả phương pháp rất mạnh là chiến dịch B52 đòi quân miền Bắc phải rút khỏi Nam Việt Nam nhưng lại không được ghi một điều nào trong Hiệp định Pa-ri.
Chúng ta đã đấu tranh giành thắng lợi tuyệt đối về điểm này- Hiệp định chỉ ghi ở trong điều 3 (b) là "Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân".
Đánh giá về Hiệp định Pa-ri, đồng chí Lê Duẩn- Tổng Bí thư Đảng ta xác định rằng: "... Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp đinh Pa-ri không phải là ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, tiên tới thành lập chính phủ ba thành phần, mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại, hành lang Nam Bắc vẫn nối liền, hậu phương gắn liền với tiền phương thành một dải liên hoàn thống nhất; thế trận tiên công của ta vẫn vững. Ý định của ta là giữ nguyên thế và lực của mình ở miền Nam để tiên lên tiếp tục tấn công địch... " [4].
Đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời một nhà bình luận truyền hình Mỹ nhân dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam đã nêu rõ : "... Hiệp định Pa-ri là một thắng lợi quan trọng của nhân dân chúng tôi trong cuộc chống Mỹ, cứu nước. Đối với chúng tôi, những điều khoản của nó là thoả đáng, như điểm 1 bảo đảm những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân chúng tôi. Điều 5 quy định việc rút hết quân đội viễn chinh Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam...
Hiệp định Pa-ri mở đường cho thắng lợi vĩ đại mùa xuân 1975, kết thúc hơn một thế kỷ đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước chúng tôi, đem lại độc lập tự do và thông nhất tổ quốc chúng tôi" [5]. ---------------- [3] Báo New York Times - Chủ nhật ngày 30/4/2000. [4] Lê Duẩn "Gửi anh Bảy Cường" Thư vào Nam - Nhà xuất bản sự thật - Hà Nội 1986 – tr.372, 373. [5] Phạm Văn Đồng. Vì sao Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhà xuất bản sự thật Hà Nội tr.5-10.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Ba, 2012, 09:15:36 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #256 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 11:22:36 am » |
|
3. Đấu tranh quyết liệt ở Ban liên hợp quân sự 4 bên về quân Mỹ phải rút hết trong thời gian 60 ngày.
Trong thời kỳ Ban liên hợp quân sự 4 bên, nhiệm vụ chính của nó là bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên để thực hiện một số điều khoản quân sự. Hai đoàn đại biểu quân sự của ta trong BLHQS 4 bên đấu tranh một cách mạnh mẽ để buộc các bên thi hành có hiệu quả tất cả những điều khoản của Hiệp định theo nhiệm vụ đã được quy định trong Hiệp định Pa-ri.
Trong phần này chúng tôi xin đi sâu phản ảnh rõ rét về diễn biến cuộc đấu tranh trong vấn đề quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ phải rút ra khỏi Nam Việt Nam.
Trước khi đi vào bàn bạc của Ban LHQS 4 bên về thực hiện đợt I trao trả và rút quân, chúng tôi nhận được nhiều tin tức về cuộc hành quân lấn chiếm Cửa Việt và hành quân lấn chiếm đóng đồn bốt ở nhiều nơi của bọn nguỵ Sài gòn.
Mỹ thì hối hả chở vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh cho ngụy, các chiến dịch tràn ngập lãnh thổ của nguỵ được thực hiện ráo riết v.v...
Tại Ban LHQS 4 bên, hai đoàn ta đấu tranh quyết liệt về những sự vi phạm ngừng bắn của Mỹ- ngụy. Ngay những ngày đầu tiên này chúng ta đã lên án, vạch rõ là Mỹ và ngụy Sài gòn không thi hành Hiệp định mà là tiếp tục chiến tranh chứ không có chấm dứt chiến tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #257 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 11:24:08 am » |
|
* Việc rút quân Mỹ là điều chúng ta đặc biệt quan tâm.
Trong các phiên họp đầu tiên của BLHQSTW, các trưởng đoàn ta luôn yêu cầu phía Hoa Kỳ cho biết kế hoạch rút quân và phá các căn cứ quân sự.
Có lúc trưởng đoàn ta phải nhắc lại điểm 8b cho hai trưởng đoàn Mỹ và nguỵ như sau: "Trong vòng năm ngày sau khi ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực, Hoa Kỳ sẽ báo cho BLHQS 4 bên và Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát biết những chương trình chung về thời gian biểu cho việc rút hoàn toàn quân đội sẽ được tiến hành làm bốn đợt, mỗi đợt 15 ngày... Số quân đại thể rút trong mỗi đợt sẽ được báo cho Ban LHQS 4 bên và UBQT trước một thời gian đủ để cho Ban LHQS 4 bên và UBQT có thể thực hiện một cách thích đáng nhiệm vụ của họ đối với vấn đề này".
Thiếu tướng Út-Uốt trưởng đoàn Hoa Kỳ nghe rất rõ nhưng ông ta ậm ậm ờ ờ rồi đưa sang vấn đề khác. Hai trưởng đoàn ta không cho qua được và nhắc lại rằng yêu cầu trưởng đoàn Hoa Kỳ báo cáo rõ để Ban LHQS thi hành nhiệm vụ.
Trong một cuộc họp tiếp theo trưởng đoàn Mỹ làm ra vẻ trịnh trọng thông báo về Hoa Kỳ đã nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, đã tháo gỡ mìn, thuỷ lôi và đã rút ra khỏi Nam Việt Nam 8.000 binh sĩ, có cả quân đồng minh.
Hai trưởng đoàn ta lập tức phản đối quyết liệt. Chúng ta không chấp nhận một sự thông báo hời hợt vô trách nhiệm như vậy. Có cái gì làm bằng chứng cho việc quân Mỹ và quân chư hầu đã rút- Phải chăng con số đó là bịa đặt- Ai tin được.
Bất cứ cuộc rút quân nào cũng phải thông báo trước. Không thông báo trước, không có sự kiểm tra kiểm soát của Ban LHQS, không có sự giám sát của UBQT là không có giá trị. Hai trưởng đoàn ta khẳng định cho đến hôm nay chưa có người lính Mỹ và lính chư hầu nào đã rút ra khỏi Nam Việt Nam từ sau khi ký Hiệp định Pa-ri.
Út-Uốt mặt xệ xuống, ngồi im chịu trận, không nói thêm được điều gì nữa. Nhưng có một người lên tiếng, đó là Dư Quốc Đống trưởng đoàn nguỵ Sài gòn- Đống nói rằng các ngài (ý nói hai trưởng đoàn ta) có cần kiểm tra kiểm soát đâu. Các ngài chỉ muốn quay phim, chụp ảnh, viết báo rồi tuyên bố với thế giới rằng quân Mỹ đã thua, quân Mỹ phải rút hết về nước.
Thật là trơ trẽn cho kẻ tay sai của Mỹ. Trước đòn tấn công ấy, ngày 16 tháng 02 năm 1973 phía Mỹ phải nhượng bộ, phải gửi công hàm cho ta chính thức để các tổ LHQS 4 bên đến các địa điểm mà quân Mỹ và quân chư hầu rút để theo dõi, kiểm tra và quay phim chụp ảnh những cuộc rút quân đó.
Chúng ta ghi nhận đây là điều vi phạm thứ nhất trong vấn đề rút quân Mỹ và chư hầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #258 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 11:25:36 am » |
|
* Còn việc rút hoàn toàn ra khỏi Nam Việt Nam mọi vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và các nước ngoài phe Mỹ thì sao? Họ có thi hành đúng như quy định của điều sa trong nghị định thư hay không? Nghị định thư quy định: "Thực hiện điều 5 của Hiệp định, Hoa Kỳ và các nước khác thuộc phe Mỹ sẽ mang đi với họ mọi vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của họ. Sau khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực, không được chuyển giao những thứ nói trên nhằm để lại những thứ đó ở miền Nam Việt Nam, trừ trường hợp chuyển giao những dụng cụ thông tin, vận tải những dụng cụ khác không phải để chiến đấu cho Ban LHQS 4 bên hoặc UBQT kiểm soát và giám sát”.
Những quy định đó thật là rõ ràng, cụ thể. Thế nhưng khi các sỹ quan của ta đi theo dõi kiểm tra việc rút quân Mỹ và chư hầu thì không thấy chúng mang theo vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh ở đâu cả. Khi vào Việt Nam, đội quân viễn chinh Mỹ được vũ trang đến tận răng thế mà khi phải rút về nước, chỉ thấy họ đeo lỉnh kỉnh và tay xách nách mang những thứ voi sành, voi đá, những bức tranh thuỷ mặc rẻ tiền bày bán trên các đường phố Sài gòn- Đà Năng...
Sĩ quan ta chất vấn, họ trả lời vũ khí trang bị đã chuyên chở theo đường biển.
Đây là sự bịp bợm trắng trợn nữa. Vẫn còn chưa hết, chẳng những chúng không mang vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh về nước mà với mưu đồ sâu xa của chúng, chúng còn đưa thêm vào Nam Việt Nam một khối lượng khổng lồ về các phương tiện chiến tranh. Ngay trước khi ký Hiệp định Pa-ri Mỹ đã hối hả gấp rút viện trợ cho ngụy Sài gòn 260.000 tấn vũ khí chủ yếu là máy bay và trực thăng, trị giá 2 tỷ đôla- Mỹ coi đây là một đợt tăng cường đặc biệt "Enhance Plus" và có cả thư của Nixon hứa tiếp tục bảo vệ Thiệu sau hiệp định Pari.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #259 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 11:28:50 am » |
|
* Tiếp theo, ta hãy xem phía Mỹ đã thực hiện điều 6 của Hiệp định Pa-ri như thê nào?
Điều 6 quy định rõ: "Việc huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài thuộc phe Mỹ sẽ hoàn thành trong thời hạn 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định này".
Điều 9 Nghị định thư còn ghi cụ thể là "sẽ tháo dỡ rồi chuyển ra khỏi miền Nam Việt Nam hoặc phá huỷ tất cả những căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều đó, kể cả những vũ khí mìn và những thiết bị quân sự khác tại những căn cứ này, để không được dùng vào những mục đích quân sự".
" ... và Hoa Kỳ sẽ cung cấp cho Ban LHQS 4 bên và UBQT những thông báo cần thiết về kế hoạch huỷ bỏ căn cứ để các bên đó có thể thi hành một cách thích đáng nhiệm vụ của họ đối với những việc đó".
Hai đoàn ta không nhận được bất cứ một thông báo nào từ phía Mỹ về việc huỷ bỏ những căn cứ quân sự. Hai trưởng đoàn ta liên tục chất vấn và đòi hỏi phía Hoa Kỳ phải đáp ứng.
Út-Uốt phải trả lời. Y lấy trong cặp một tập giấy và đọc nguyên văn như sau: "Chúng tôi được phép trả lời quý vị rằng ở miền Nam Việt Nam hiện nay không còn một căn cứ nào của chúng tôi cả. Tất cả đã chuyển cho Việt Nam cộng hoà từ trước khi ký hiệp định. Hiện nay quân Mỹ ở trong những căn cứ mượn tạm của VNCH. Xin chuyển sang vấn đề khác".
Nghe ngang tai chưa. Trưởng đoàn của Mỹ phát ngôn như thế đó. Các trưởng đoàn ta đập lại: thật là vô lý, rất mờ ám trong việc này. Quân Mỹ và chư hầu có cả hàng chục vạn quân còn đóng trong các căn cứ của Mỹ và chư hầu mà lại bảo rằng đã chuyển cho VNCH từ trước khi ký Hiệp định ( ! )
Út- Uốt lại ngồi im chịu trận. Không nói thêm được điều gì và cũng không cãi lại, không thanh minh.
Đến khi thất bại hoàn toàn năm 1975 trong cơn bực bội, tức giận mới nói ra sự thật. Chúng ta hãy nghe A.Brao viết trong chương 10 của cuốn sách: "Chiếc trực thăng cuối cùng": như sau: "Với khối lượng khổng lồ các trang thiết bị và vật liệu để lại khi chúng ta rút về cộng với số lượng tiếp tế thêm về sau, nhẽ ra quân lực VNCH phải có đủ khả năng đương đầu với đối phương mới phải".
Đúng, sự thật là như thế đó. Đây là sự vi phạm trắng trợn đã được tính toán từ trước
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|