altus
Moderator

Bài viết: 1782
|
 |
« Trả lời #260 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 08:25:04 pm » |
|
Nghe ngang tai chưa. Trưởng đoàn của Mỹ phát ngôn như thế đó. Các trưởng đoàn ta đập lại: thật là vô lý, rất mờ ám trong việc này. Quân Mỹ và chư hầu có cả hàng chục vạn quân còn đóng trong các căn cứ của Mỹ và chư hầu mà lại bảo rằng đã chuyển cho VNCH từ trước khi ký Hiệp định ( ! )
Út- Uốt lại ngồi im chịu trận. Không nói thêm được điều gì và cũng không cãi lại, không thanh minh.
Hị hị, các cụ "đấu trí" được với Mỹ là tên lửa SAM ở nam sông Bến Hải là Quân giải phóng "tự có" trước thời điểm ký hiệp định thì cũng phải chấp nhận địch nó chơi "ngang tai" chớ. 
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #261 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 06:04:16 pm » |
|
* Trở lại vấn đề rút quân Mỹ. Đợt 2 và đợt 3 rút quân Mỹ tuy có vài trục trặc nhưng được tiến hành trót lọt theo đúng thời gian đã định. Nói đến có trục trặc, nhớ lại 1 câu chuyện khá lý thú. Số là, khi bàn trao trả đợt II, Dư Quốc Đống đưa ra con số trao trả cho Chính phủ cách mạng từ 7.000 trao trả đợt I, tụt xuống có 3.000 trao trả trong đợt II. Lý do: "Tôi được lệnh của chính phủ chúng tôi như vậy, ngừng bắn chưa thực hiện hoàn toàn thả nhiều quá để các vị lại tổ chức hàng trung đoàn tấn công chúng tôi sao!".
Ta báo cho Đống biết rằng, cứ theo Hiệp định và nghị định thư mà tiến hành. Ở Pari, 4 đoàn đã thống nhất trao trả làm 4 đợt cũng như rút quân làm 4 đợt mỗi đợt không được dưới tỷ lệ 25% tổng số đã công bố.
Thật nực cười cho trưởng đoàn ngụy Sài gòn, Dư Quốc Đống nói tôi không được biết tỷ lệ này hết trọi! Ta chất vấn Út-Uốt trưởng đoàn Mỹ rằng "chính ông có mặt trong các cuộc thương lượng ở Pa-ri, ông hãy trả lời có hay không những điều thoả thuận đó?".
Út-Uốt không thể cãi vì vấn đề đã rõ ràng ghi trong Hiệp định và Nghị định thư- Út-Uốt nói "có, các bên đã thoả thuận điều đó ở Pa-ri".
Dư Quốc Đống ngớ người ra- Cuộc họp tiếp theo, vấn đề này vẫn bế tắc Đống lại nói: "Chúng tôi là quân nhân, tôi phải phục tùng thượng cấp. Chúng tôi không ngoan cố".
Các đoàn ta tuyên bố rõ là: "Nếu phá hoại như thế này thì toàn bộ công việc trao trả bị đình trệ. Đó là trách nhiệm của phía Sài gòn và Hoa kỳ".
Út-Uất rất lo lắng và đá Đống một phát: "như hôm kia tôi đã tuyên bố, giữa các bên ở Pa-ri đã có thoả thuận mỗi đợt phải trao trả không dưới 25%- Chỉ có những người điếc, không muốn nhận lẽ phải mới cứ cố phủ nhận điều này".
Đến ngày 12/3/1973, Sài gòn phải theo lệnh Mỹ, phải chính thức báo tin trao trả 6.300 NVQS cho Chính phủ cách mạng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #262 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 06:10:58 pm » |
|
4. Những ngày cuối cùng quan Mỹ Phải rút hết ra khỏi miền Nam Việt Nam.
17 giờ ngày 21/3/1973 ta gửi công hàm cho phía Mỹ báo là ta sẵn sàng trao trả đợt 4 trước thời hạn với điều kiện Mỹ cũng rút hết quân trong cùng thời hạn đó.
22 giờ cùng ngày, Út-Uốt trưởng đoàn Mỹ gửi công hàm trả lời thoả thuận hoàn toàn. Trao trả và rút quân cùng hoàn thành trong ngày 25/3/1973.
Sáng ngày 22/3/1973, xảy ra một sự kiện là phó đoàn Mỹ Uých- Khâm gửi bị vong lục đến cho hai đoàn ta. Nội dung bị vong lục là huỷ bỏ công hàm do trưởng đoàn Mỹ Út-Uốt gửi cho ta lúc 22 giờ ngày 21/3/1973, đồng thời nêu ra một yêu sách là đòi ta phải trao trả quân nhân Mỹ bị bắt ở Lào ( ! ).
Mỹ có tính toán gì đây? Trước hết chúng ta bác bỏ thẳng thừng vấn đề đòi ta phải trao trả quân nhân Mỹ bị bắt ở Lào. Thật là vô lý. Ở bàn đàm phán tại Phu, Mỹ đã đưa ra vấn đề này và đã bị ta bác bỏ. Nay Mỹ lại nêu ra để làm gì? Phải chăng là để trì hoãn việc rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Trong cuộc họp ngày 24/3/1973, ta lên án phía Mỹ, bác bỏ đòi hỏi vô lý này và nói rõ rằng không thể gắn việc thả tù binh ở Lào với việc rút quân Mỹ được.
Uých-khâm mặt đỏ gay, nói rằng chỉ đưa ra yêu sách "Theo lệnh của chính phủ chúng tôi" Thế là rõ, đòi hỏi vô lý này là từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Ta lập tức tố cáo thái độ phá hoại hiệp định của Mỹ và Sài gòn, lên án sự lật lọng của Mỹ trong vấn đề trao trả và rút quân. Cuộc họp bế tắc.
Theo dõi diễn biến mấy ngày nay, ta thấy có một số báo Sài gòn đưa tin là các bên đã thoả thuận "triển hạn" (tức là kéo dài thời hạn) hoạt động của Ban liên hợp quân sự 4 bên ( ! ). Ở tiểu ban thủ tục Bôn-dơ cũng đưa tin rằng các bên đang cứu xét vấn đề "triển hạn" ở cấp chính phủ ( ! ).
Ta nhận định rằng không phải ngẫu nhiên mà có những tin đó và những tin đó có liên quan gì đến việc Mỹ đòi gắn việc trao trả tù binh Mỹ ở Lào với rút quân hay không? Phải chăng đây là mưu đồ của Mỹ, và là mưu đồ gì? Mỹ muốn kéo dài thêm sự có mặt công khai của phái đoàn Mỹ? Để nguỵ bám vào Mỹ che chở cho chúng? Hay là giữ phái đoàn của Việt Nam dân chủ cộng hoà ở lại giải quyết thêm một số việc có lợi cho Mỹ? và hay là để hạ thấp vai trò của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam? Các báo của Sài gòn và của các hãng thông tấn nước ngoài có mặt ở Sài gòn tới tấp gọi điện thoại đến hai đoàn ta để hỏi về vấn đề này.
Ta đã trả lời với họ là đúng 60 ngày hoạt động của Ban LHQS 4 bên kết thúc. Ban Liên hợp quân sự hai bên sẽ làm nhiệm vụ tiếp theo đúng như hiệp định Pa-ri đã quy định. Chỉ còn lại ở Sài gòn một tổ Liên hợp quân sự 4 bên để giải quyết vấn đề mồ mả và người mất tích của các bên.
Đánh giá về việc Mỹ đòi hỏi ta phải trả tù binh Mỹ ở Lào, xã luận báo Nhân Dân số 6910 ngày 27/3/1973 đã lên án về việc Mỹ đòi hỏi ta phải trả cả những nhân viên quân sự không do ta bắt và giam giữ.
Xã luận viết: "Không ai có thể đáp ứng được những đòi hỏi lạ lùng ấy. Họ vin vào cớ ấy tuyên bố không rút đợt quân cuối cùng của họ về nước.
Nghiêm trọng hơn nữa là chính Tổng thống Mỹ cũng đưa ra những đòi hỏi vô lý đó và coi việc ta phải trả những nhân viên quân sự do nước khác giam giữ thành một điều kiện để Mỹ rút hết số quân còn lại của họ... âm mưu của Mỹ là kiếm cớ để quân Mỹ và quân chư hầu ở lại, không chịu rút đi đúng thời hạn. Mỹ còn nhiều hành động khác nữa để tiếp tục dính líu về quân sự ở miền Nam nước ta.
Ngày mai 28/3/1973 là hạn cuối cùng quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút khỏi miền Nam nước ta và phải hoàn thành việc trao trả các nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ. Bất kỳ điều gì xẩy ra làm cho các điều khoản về những vấn đề trên đây không được thực hiện đầy đủ và đúng thời hạn, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về phía Hoa Kỳ.
Gia đình các nhân viên quân sự bị bắt và các quân nhân Mỹ chưa được về, cứ điện thẳng về Nhà Trắng và lầu Năm góc mà đòi hỏi.
Trách nhiệm thuộc về hai nơi ấy". Xã luận nhấn mạnh: "... Tạo ra lý do để duy trì sự dính líu về quân sự, Hoa Kỳ muốn mưu tính gì đây? Họ có thật sự muốn rút ra khỏi cái bãi lầy đã làm cho họ khốn khổ hay chưa? Họ đã thật sự muốn cho lịch sử quan hệ giữa nước Mỹ và nước ta mở sang trang khác hay là vẫn muốn tiếp tục viết những trang cũ. Họ lại tung ra những lời đe doạ xưa nay chưa từng làm ai run sợ- Người Việt Nam đã từng đương đầu biết bao lần với những cái còn tệ hại hơn cả những lời đe dọa hung hăng nhất.
Ngày nay không phải là những lời đe doạ có thể gây tác dụng và phải là sự thi hành nghiêm chỉnh hiệp định Pa-ri".
Sáng 26/3/1973 cuộc họp trưởng đoàn trong tuần cuối. Đoàn VNDCCH đến lượt điều khiển cuộc họp. Chúng ta nêu những vấn đề lớn:
- Mỹ phải rút hết quân.
- Lập tổ 4 bên về mồ mả và người mất tích.
- Kế hoạch trở về của Đoàn đại biểu quân sự VNDCCH và Hoa Kỳ sau khi hết hạn 60 ngày.
- Phiên họp cuối cùng bế mạc của Ban LHQS 4 bên vào ngày 28/3/1973.
20 giờ ngày 26/3/1973 ta triệu tập những người cầm đầu của đoàn Mỹ đến để nói rõ về trao trả và rút quân. Chỉ sau 20 phút, trưởng đoàn Út-Uốt đã đến, sau đó là phó đoàn Uých-khâm và một số đại tá trong đó có Rớt-xơn phụ trách về trao trả.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #263 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 06:14:07 pm » |
|
Ta báo tin về tù binh Mỹ ở Lào là do Pa-thét Lào quyết định. Vấn đề này không có quan hệ gì đến Hiệp định Pa-ri và cũng không phải là công việc của Ban LHQS 4 bên ở đây. Vì thiện chí và cũng do Mỹ không có quan hệ ngoại giao với Pa-thét Lào nên ta giúp Mỹ về vấn đề này. Khi nào có tin trả lời thì sẽ báo cho phía Mỹ biết.
Và đây là kế hoạch mà ta thông báo cho phía Mỹ để các bên cùng thực hiện.
- Trao trả hết số còn lại trong 3 ngày 27/3/1973, 28/3/1973 và 29/3/1973.
- Quân Mỹ cũng phải rút hết trong 3 ngày đó.
Ban LHQS 4 bên và Uỷ ban quốc tế sẽ kiểm tra, giám sát cuộc rút quân đó.
Út-Uốt xin tiếp nhận.
Sau đó, Út-Uốt báo cụ thể về thời gian, số lượng quân Mỹ rút trong 3 ngày:
- 27/3/1973 quân Mỹ rút 816 binh sỹ trong 10 chuyến máy bay.
- 28/311973 quân Mỹ rút tiếp 1966 binh sỹ.
Có riêng một công hàm của phía Mỹ gửi cho hai đoàn ta nói rõ về ngày rút quân cuối cùng 29/3/1973: quân Mỹ rút 1924 binh sỹ trên 13 chuyến máy bay tại sân bay Tân Sơn Nhất, tại Đà Nẵng quân Mỹ rút 577 binh sỹ trên 6 chuyến máy bay.
Tất cả ngày cuối cùng này là 2501 binh sỹ Hoa kỳ. Cuộc rút quân Mỹ những ngày cuối cùng này được diễn ra đúng theo kế hoạch đã định.
Ở đây xin ghi lại những điều thú vị trong cái ngày cuối cùng mà 2501 binh sỹ Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam.
10 giờ sáng 29/3/1973, đoàn Mỹ báo tin hôm nay hệ thống điện thoại quân sự Mỹ chấm dứt hoạt động. Nó được tháo dỡ ngay chiều nay gồm hơn 7.000 máy Ở khu vực Sài gòn- Biên Hoà. Còn hệ thống vô tuyến truyền hình của quân đội Mỹ ở Việt Nam (băng số 7) chấm dứt từ 24 giờ ngày 28/3/1973.
Theo tin của hãng Roi tơ từ Sài gòn, ngày 29/3/1973 vai trò quân sự của Mỹ ở Việt Nam chấm dứt bằng một buổi lễ âm thầm cuốn lá cờ của Bộ chỉ huy Mỹ đã từng ngự trị ở Nam Việt Nam trong 10 năm. Tư lệnh Mỹ, tướng Uây-en và Đại sứ Ban-cơ đứng chào cờ trên một cái bục nhỏ trong một cái sân của Bộ chỉ huy tại căn cứ Tân Sơn Nhất, trong khi máy ghi âm quay bài quốc ca Mỹ.
42 quân nhân đại diện cho 4 quân chủng đã từng đưa tới đây 2 triệu rưỡi quân nhân Mỹ, đứng để duyệt binh tại buổi lễ 15 phút này.
Một giờ sau đó, 42 quân nhân này đáp một máy bay phản lực chở họ ra khỏi Nam Việt Nam cùng với 2.500 người nữa trong số những lính Mỹ cuối cùng (tin đưa trên báo Nhân Dân số 6913 ngày 30/3/1973).
Hãng UPI cho biết thêm: "Sau khi làm lễ cuốn cờ, tướng Uây-en đã tới nhập với 2501 quân nhân Mỹ đang rời khỏi Việt Nam hôm nay. Đây là những người cuối cùng trong số hai triệu rưỡi quân nhân Mỹ đã phục vụ ở Việt Nam trong 12 năm qua".
Tại sân bay Tân Sơn Nhất, đúng 12 giờ tổ kiểm tra kiểm soát của ta ra sân bay.
Chuyến thứ nhất của buổi chiều 29/3/1973 được bắt đầu, thiếu tá Đoàn Văn Diễn sỹ quan của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận bản danh sách do Trung tá Slớt-ka của Mỹ trao và báo cáo rằng chuyến này thuộc quân số của MACVI gồm đủ hải, lục, không quân. Người cao cấp nhất là trung tướng Rô-dê-bu-ruph.
Và đây là chuyến cuối cùng, 15 giờ 25 họ đến sân bay, Trung tá Slớt-ka đến nói với sỹ quan của ta là chuyến này vẫn là quân của MACVI, có đại tá Nan- Đoóc là tư lệnh căn cứ không quân Tân Sơn Nhất cùng hai đại tá nữa là Hem-ma và Ô-đen.
Tên lính Mỹ đi sau cùng là thượng sĩ Mắc-bi-en-ki lên chiếc DC9 thuộc Bộ chỉ huy vận tải quân sự mang số hiệu 40.619.
Tên đại tá Ô-đen lên máy bay từ trước, nhảy xuống mở chai rượu vang tu từng hớp rồi ôm lấy tên đại tá cảnh sát nguy Sài gòn có cái tên thêu trên ngực áo là "Ngưu" và chia cho hắn cùng uống. Ô-đen loạng choạng bước lên cầu thang đi vào trong máy bay.
Đúng 16 giờ 25 phút, cánh cửa máy bay sập xuống từ từ lăn ra bãi. Cất cánh đi thẳng hướng đông.
Đáng ghi lại một điều lý thú nữa là, trong thông báo của đoàn Mỹ gửi cho ta, có 1 đoạn ghi rõ:
"Phi-đrich Uây-en, đại tướng Tổng chỉ huy MACV 1 cũng rút khỏi Nam Việt Nam ngày cuối cùng, cùng với 5 sỹ quan tham mưu cao cấp tuỳ tùng của ông ta".
Về toán lính Mỹ cuối cùng cuốn gói, hãng AFP viết: "Trong suốt cả ngày và đêm 28/3, các máy bay vận tải quân sự và máy bay đi thuê (của các hãng tư nhân) bay đi, bay về giữa 2 sân bay Clác và Tân Sơn Nhất để chở các lính Mỹ rút đi... Hôm nay 29/3/1973 những lính Mỹ cuối cùng đã rời Nam Việt Nam hồi 17 giờ 30 phút giờ Sài gòn ( 16 giờ 30 phút giờ Hà Nộ ). Người Mỹ cuối cùng rời khỏi Nam Việt Nam là đại tá không quân Đê-vít Ô-đen. Các đại diện của Bắc Việt Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời đã có mặt tại chỗ để giám sát việc rút số lính Mỹ còn lại".
Như vậy là, tính từ 16giờ 30 giờ Hà Nội ngày 29/3/1973 các đơn vị chiến đấu của quân đội Mỹ, quân đội các nước chư hầu đã rút hết ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam mà thực tế là Bộ tư lệnh tối cao của Mỹ chỉ huy toàn bộ quân đội Mỹ, quân đội các nước chư hầu và quân đội ngụy Sài Gòn, có trụ sở ở Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi "lầu năm góc phương Đông" cũng đã hạ cờ, cuốn gói.
Đánh giá về sự kiện ngày 29/3/1973 xã luận báo Nhân dân số 6914 ngày 31/3/1973 nêu rõ: "Thực hiện cái thuyết lấp chỗ trống ở Đông Nam á, sau khi Pháp và Anh phải lần lượt rút khỏi vùng này, đồng thời thực hiện vai trò sen đầm quốc tế ngăn chặn phong trào cách mạng từ khu vực đang bùng nổ, Mỹ vội vã nhảy vào nước ta.
Chúng lần lượt áp dụng bốn chiến lược khác nhau và đã tiến hành một cuộc chiến tranh thực dân mới to lớn nhất, tàn bạo nhất, lâu dài nhất để hòng đè bẹp cuộc chiến đấu cứu nước của nhân dân ta, bắt chúng ta phải chấp nhận ách thống trị của chúng.
Kể từ tháng 7/1954 đến ngày 29/3/1973, khi tướng Vây- en "làm lễ từ biệt" và tên lính cuối cùng của Mỹ là đại tá Ô-đen rời khỏi Sài Gòn là 18 năm 8 tháng.
Ngày 29/3/1973 là một cái mốc lịch sử. "Lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc và của loài người tiến bộ chắc rằng hàng nghìn đời sau cũng sẽ ghi mãi những chiến công của người Việt Nam" một dân tộc nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #264 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 06:18:13 pm » |
|
*
* * Mốc lịch sử đánh dấu từ 115 năm nay tính từ năm 1858 trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta đã sạch bóng quân xâm lược của các nước đế quốc. Quân Mỹ, quân các nước chư hầu của Mỹ phải rút hết khỏi Việt Nam, quân miền Bắc Việt Nam vẫn ở lại Nam Việt Nam. Và cũng từ đây so sánh lực lượng đã nghiêng hẳn về phía cách mạng. Thực tiễn đã chứng minh rằng, sau khi Mỹ cút dù là Mỹ có lén lút để lại và đưa thêm vào trên một chục nghìn cố vấn quân sự để điều khiển cuộc chiến tranh Việt Nam hoá, dù có để lại và còn đưa thêm đủ mọi thứ vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh, dù có để lại nguyên vẹn tất cả các loại căn cứ quân sự của Mỹ và chư hầu thì ngụy Sài gòn vẫn không cứu vãn nổi sự suy sụp của chúng. Ngụy Sài gòn đã mất chỗ dựa lại bị quốc hội Mỹ ngày càng cắt giảm viện trợ cả "quân viện" lẫn "kinh viện" thì sức lực của chúng cũng khác xa rồi. Mỹ và ngụy ra sức phá hoại hiệp định Pa-ri nên ngày càng bị cô lập, càng bị lên án. Còn chúng ta sau khi giành được thắng lợi cơ bản, chúng ta rất tỉnh táo dự kiến tình hình sắp tới, chủ động chuẩn bị mọi mặt, xốc lại đội hình, tăng cường sức mạnh để bất cứ tình hình nào xẩy ra thì chúng ta vẫn giành thắng lợi hoàn toàn. Đúng như dự kiến, kẻ thù không thi hành hiệp định, không chấm dứt chiến tranh mà tiếp tục chiến tranh nên chúng ta phải dùng thế và lực mạnh để phản công, tiến công tiêu diệt chúng. Ngụy đã phải nhào, ta giành thắng lợi hoàn toàn. Cuối cùng của bài viết này, tôi xin trích những lời than thở của những nhà chóp bu chính quyền Mỹ thời bấy giờ về quân Mỹ phải rút hết khỏi Nam Việt Nam và quân Bắc Việt Nam vẫn ở lại Nam Việt Nam như sau : - Kissinger một nhân vật chủ yếu trong hội đàm Pa-ri với đồng chí Lê Đức Thọ, người ký tắt hiệp định Pa-ri ngày 23/01/1973 cùng với đồng chí Lê Đức Thọ trong cuốn sách Diphomacy nói về hiệp định Pa-ri, khi so sánh với các hiệp định đình chiến ở Châu âu và Triều Tiên cho rằng: "Hoà bình được lập lại từ lâu, nhưng hai thế hệ quân nhân Mỹ còn đóng tại ở Châu âu; đình chiến ở Triều Tiên đã được quân Mỹ bảo vệ trong hơn 40 năm qua. Chỉ riêng ở Việt Nam, do bất đồng trong nội bộ dồn ép, Mỹ đã ký thoả thuận không để lại số quân còn lại sau cùng, tự mình tước bỏ giới hạn an toàn khi cần phải bảo vệ hiệp đinh... [6] "Tất nhiên, năm 1975, nỗ lực của Mỹ ở Đông Dương đã kết thúc bằng một cuộc tháo chạy " [7]. Kissinger kết luận: "Chúng ta có quyền và đương nhiên có trách nhiệm bảo vệ một hiệp định mà để đeo đuổi nó, 50 nghìn quân Mỹ đã tử trận. Nếu không như thế thì bất cứ hiệp định hoà bình nào với Mỹ cũng giống như hợp pháp hoá sự khuất phục. Những điều khoản không được bảo vệ cũng ngang bằng với sự đầu hàng" [8]. - Wesmoreland- Nguyên Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam, trong hồi ký xuất bản năm 1976 đã thừa nhận " Số phận Nam Việt Nam đã được định đoạt khi Kissinger ký hiệp định ngừng bắn tại chỗ, rút quân Mỹ và cho phép hàng nghìn binh lính chính quy Bắc Việt Nam ở tại miền Nam ". Hai chục năm sau, có dịp xem lại nội dung hiệp định Pa-ri, Nixon vẫn còn bị ám ảnh khi ông ta thú nhận rằng: "Khi nhìn lại, tôi nghĩ rằng khuyết điểm lớn nhất của Hiệp đinh hoà bình Pa-ri năm 1973 là những điều khoản ngừng bắn cho phép quân đội Bắc Việt được ở lại trong một số lãnh thổ của Nam Việt Nam " [9]. Nixon nghĩ rằng đó là khuyết điểm lớn nhất. Không phải là như thế. Thật ra, Mỹ đã biết rất rõ, quá rõ về vấn đề này và đã cố hết mức trên chiến trường cũng như trên bàn hội nghị. Cao nhất là đã dùng đến biện pháp rất mạnh B52 ném bom vào Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi trên miền Bắc cuối năm 1972. Cuối cùng không thể làm gì được nên phải chấp nhận là quân Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi Nam Việt Nam, quân miền Bắc vẫn ở lại Nam Việt Nam./. Hà Nội, Ngày 27 tháng 01 năm 2009 ---------------- [6], [7], [8] H. Kissinger- Diplomacy- Nhà xuất bản JoucheTone, New yock- 1995, trang 691, 695, 696. [9] Larry Berman. Không hoà bình, chẳng danh dự (bản dịch tiếng Việt 2003) Nhà xuất bản Free Press New york 2001- trang 307, 313.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #265 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 08:25:33 pm » |
|
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA QUÂN MỸ Ở NAM VIỆT NAM NGUYỄN SINH NƠI NÀY 8 NĂM SAU Tháng 3 năm 1965, Đà Năng nhộn nhạo bởi sự kiện lính thuỷ đánh bộ Mỹ Ồ ạt đổ quân lên bãi biển Sơn Trà. Chui ra từ chiếc tàu hũ mồm, những tên lính cổ da hung hăng lội qua mép nước, đặt những bước chân xâm lược đầu tiên lên bờ cát, tay súng M16 lăm lăm, đầu đội mũ sắt tùm hụp. Chúng giương mắt nghênh ngáo, ngước lên bầu trời xanh ngắt của xứ sở nhiệt đới xa lạ. Những chiếc máy vô tuyến điện thoại cầm tay rồ rồ, lạo xạo của lính Mỹ hoà với tiếng kèn đồng rít lên inh tai, nhức óc mà đám quân nhạc mặc đồng phục nhà binh nguỵ để tạo nên thứ âm thanh hỗn tạp. Trên trời những chiếc phản lực F4 (con ma) gầm gào cắt ngang qua đầu đám tường lính nguy, bọn chính khách bản xứ và lũ gái điếm đang dậm dật chân cẳng, mặt mày hớn hở chào đón đội quân xâm lược. Cùng với nửa triệu quân Mỹ đổ vào xâm lược, tiền của Mỹ, lối sống Mỹ cũng đổ vào cuồn cuộn. Một "Nhà trắng Phương Đông" và một "tiểu Ngũ giác đài" mọc lên giữa Sài Gòn. Những căn cứ quân sự mang tên Alpha, Charlie, Evens.., nhan nhản suốt từ mũi Cà Mau đến bờ sông Bến Hải. "Hòn ngọc Viễn Đông" trở thành một trại lính và một nhà chứa khổng lồ, ngày đêm sặc sụa mùi khói bom, mùi rượu uýt-ki, mùi thuốc lá Xa-lem và tiếng nhạc kích động. Những thầy cai, thầy đội khố đỏ, khố xanh nay lên hàng tướng tá trong quân đội Sài Gòn giả vờ quên "méc - xi,,, "ô - voa để quay sang "thanh - kỳ - ư', "gút - bai".., ngậu xị. Những tên hung nô hiện đại và lũ Trần Di Ái, Trần ích Tắc thời nay, những tưởng với B52 và "đôla đỏ", "đôla xanh" [1] còn có thể ăn đời ở kiếp với nhau để kéo dài biên giới Hoa Kỳ sang tận vĩ tuyến 17 như một tên bán nước thuộc hàng cha chú của Nguyễn Văn Thiệu từng nói. Nào ngờ Mỹ thua, Mỹ phải cuốn gói chuồn. ôi, cái cảnh chia ly sao mà não vậy! Đà Nắng tháng 3 - 1973, lịch sử rõ trớ trêu. Một buổi chiều mây thấp nặng nề, sóng biển Sơn Trà gào thét. Lính Mỹ đang xem lần chót một màn vũ "xếch - xy" [2] sản phẩm USA nhập cảng. Trên sân khấu, một người con gái mặt trát bự son phấn, mắt đờ đẫn, chỉ còn đeo lỏng lẻo trên thân mình hai mẩu vải bé tẹo đang ườn ẹo, oằn oại... Tiếng kèn sắc - xô lúc rít lên, lúc rền rĩ, tắc tị đột ngột... Lính Mỹ đứng ngồi lộn xộn. Loáng thoáng có những bộ mặt tái xanh, hốc hác, đầu tóc bù xù, mắt trắng dã lờ đờ vì ma tuý. Một người lính ngồi dựa lưng vào tường, ngực áo cởi phanh, cầm trong tày một mảnh bìa cứng có dòng chữ: " HANORABLE PEACE?" (hoà bình trong danh dự). Cái dấu chấm hỏi anh ta vẽ to tướng. Màn vũ cuối cùng kết thúc. Không có những tiếng húyt sáo, những tiếng hô "ô-kê", "ve-ri-gút" cuồng loạn như mọi lần khác. Lính Mỹ đứng dậy, xếp hàng lên máy bay. Chiếc máy bay cất cánh, rời khỏi mặt đất, lao vút vào bầu trời mây đen đang vần vũ... Từ trong cửa sổ một ngôi nhà sang trọng có gắn máy lạnh của người Mỹ bỏ lại, mấy sỹ quan Sài Gòn và mấy cô vũ nữ đứng nhìn theo ngán ngẩm, người Mỹ đến, người Mỹ đi rồi... --------------- [1] "đôla đỏ", "Đôla xanh" - "đô-la đỏ" (đồng đô-la đùng trong quân đội Mỹ) và "đô-la xanh" (đồng đô-la trong thương mại). [2] Xếch-xy - vũ khoả thân
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #266 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 08:27:41 pm » |
|
"DẸP TIỆM"
Khắp miền Nam đang diễn ra một cảnh "dẹp tiệm" của người Mỹ, vội vàng, tất bật, ngó thật thảm hại. Bộ chỉ huy tập đoàn không quân số 7 hùng mạnh đóng tại căn cứ Tân Sơn Nhất "dẹp tiệm". Tướng Giôn Vốc (John Vogt) đem bộ sậu cùng hàng trăm tấn máy móc điện tử bán xới sang Na-khom bên Thái Lan. Cuộc ra đi cũng lặng lẽ âm thầm. Đến lượt bộ chỉ huy "quân đội Đại Hàn" dẹp tiệm; phái bộ cố vấn "Trung hoa dân quốc ra đi. Đài phát thanh quân đội Mỹ rồi đài vô tuyến truyền hình Mỹ ngậm ngùi gởi lời chào giã biệt...
Trong khi trên bến cảng Sài Gòn, công binh Mỹ hì hục tháo gỡ các cầu tầu nổi thì tại khách sạn TN ở đường Phạm Ngũ Lão "Pi-ếch"-Sài Gòn, của quân đội Mỹ cũng "dẹp tiệm". P.X này suốt bảy tám năm trời từng là nơi "đưa người cửa trước, rước người cửa sau vào loại náo nhiệt nhất Sài Gòn. Suốt ngày đêm dập dìu những tướng, tá, chính khách, những ông bự, bà bự, các loại vợ Mỹ lấy từng năm, từng mùa, từng tháng. Họ vào đây, chìa chút nhân phẩm cuối cùng đổi lấy những ti vi, máy lạnh, nước uống côcacôla...
Một đoàn xe vận tải cỡ lớn đỗ dài trước khách sạn. Lính Mỹ cởi trần trùng trục, mồ hôi mồ kê nhễ nhại đang đóng hòm những gì không để lại: máy phát điện, trang bị nhà bếp, những bức tranh thuỷ mạc bày bán trên đường phố, những con voi, con cóc bằng sành, những tượng Chăm cướp được trong các cuộc hành quân... Tiếng búa đóng đinh nện vào thùng nghe như tiếng nện áo quan...
Cách đó vài phố, có một người đàn bà rách rưới, bẩn thỉu, chỉ còn da bọc xương, ngồi bệt trên vỉa hè lề đường ngửa tay xin khách qua đường bố thí. Người đàn bà đeo trước ngực tấm ảnh một cô gái trẻ trung, rực rỡ trong y phục một gái nhảy. Người ăn mày tàn tạ và cô gái nhảy rực rỡ năm xưa trong tấm ảnh chỉ là một: vũ nữ Cẩm Nhung, từng được phong là "vương hậu về đêm" của Sài Gòn, có thời là vợ chính thức của một ông tướng Sài Gòn đương chức, từng được không biết bao nhiêu nhân vật tai to mặt lớn của chế độ Sài Gòn o bế.
Người Sài Gòn vốn tính trào lộng, mỗi lần đi qua trước toà nhà lớn được bao kín trong mấy tầng lô cốt và rào kẽm gai gọi là "dinh Độc Lập" lại hỏi nhau:
- Nề, anh Tư, đến lúc nào thì sở Mỹ này "phéc-mê bu-tích" [3]
- Cũng sắp rồi. Người ta hoà giải hoà hiệp dân tộc, để cái của nợ đấy ở đây làm chi?
- Mà người Mỹ họ thực dụng lắm nghe. Máy lạnh, ti vi họ chở về xài, chó đá họ chở về đặng làm kỷ niệm. Còn như "ông tổng" mà khi không cần nữa là họ liệng cái rụp, họ đâu có xài mãi thứ đó. --------------- [3] Fermer boutique (tiếng Pháp) - dẹp tiệm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #267 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 09:23:18 pm » |
|
CUỐN CỜ Ngày 15-3, bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt nam MACV (Mắc-vi), "Tiểu ngũ giác đài', "cái tiệm" 'to nhất, quan trọng nhất của Mỹ chính thức dẹp bỏ. Người Hoa Kỹ là chúa vẽ vời hình thức, càng ê mặt họ càng vẽ vời để che đậy trước bàn dân thiên hạ. Thế nhưng lần này biết chắc là không thể che đậy vào đâu được, thôi thì đơn giản, lặng lẽ cho nó đỡ lố bịch. MACV hoạt động tám năm trời chỉ huy một đội quân đông tới trên 50 vạn người, nay buổi lễ ra đi chỉ kéo dài có... 18 phút rưỡi. Theo tập quán cổ truyền của quân đội Hoa Kỳ, những buổi lễ hạ cờ phải tổ chức ngoài trời. Nhưng lần này, cũng lại trái với tập quán, người ta cho làm trong một nhà hát ở căn cứ Tân Sơn Nhứt. Nhà hát này dựng lên từ ngày có MACV, chuyên để nhảy xếch-xy, dành riêng cho sỹ quan Hoa Kỳ. Cung cách buổi lễ giống hệt như một buổi diễn kịch. Trước mặt 300 "khán giả" mặc đồng phục ka-ki vàng, một tên lính cầm lá cờ của lục quân Mỹ tiến ra đứng giữa sân khấu. Lá cờ hình một chiếc mộc nền đỏ, một thanh kiếm màu trắng kẹp giữa hai mảng tường vàng, tượng trưng sứ mệnh "ngăn chặn làn sóng đỏ". Chung quanh sân khấu có binh sỹ "đồng minh tham chiến ở Việt Nam" cầm cờ nước họ. Vì Úc và Tân Tây Lan ngày nay đã ớn cái "vinh dự" ấy cho nên cờ hai nước đó phải dùng lính Mỹ cầm thay. Khi tướng Uây-en tổng tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam và tướng Moc-gan Rô-dê-bu-ruph, tư lệnh lục quân Mỹ, bước lên sân khấu, đội lính kèn chuyên thổi thuê của không quân Sài Gòn thổi tò te một điệu hành khúc Hoa Kỳ. Rô-dê-bu-ruph liếc nhìn thượng cấp rồi bước tới ba bước. Y nói lí nhí một vài câu gì đó và đưa hai bàn tay run run đỡ lá cờ cuốn lại, bỏ vào chiếc bao da mà viên sỹ quan hầu cận đã mở sẵn. Một linh mục tuyên uý mắt sùm sụp, mặc lễ phục đen tuyền, vác cây thánh giá bước lên sân khấu, quỳ xuống lầm rầm cầu Chúa: "Xin hãy tha thứ cho chúng con về những lỗi lầm đã phạm phải trong nỗ lực để đi đến kết thúc hôm nay!" Đội lính kèn lại thổi một bài nữa. Đại tướng Uây- en chẳng nói chẳng rằng lặng lẽ quay đi. "Khán giả" đứng dậy, chấm hết. Buổi hạ cờ quân đội Mỹ vào hôm 29-3 lại còn tẻ nhạt hơn. Chỉ có 42 quân nhân gọi là "danh dự" với đại sứ Bân-cơ và tường Uây-en. Đọc xong một bài từ biệt bằng tiếng Việt bập bà, bập bọng dài khoảng ba, bốn phút, tường Uây-en cũng lại cuốn cờ cho vào bọc da để đóng hòm chở về nước. Ông ta cùng 42 người lính hộc tốc đi thẳng ra máy bay, chuồn... Sau buổi lễ hạ cờ MAVC vài tiếng đồng hồ, tại một nơi chỉ cách "tiểu ngũ giác đài" có một hàng rào dây thép gai trong trại Đa vít, hai đoàn ta chiếu bộ phim tài liệu "Chiến thắng Điện Biên Phủ" vừa kịp mang từ Hà Nội vào. Bộ phim cũng kết thúc bằng một cảnh cuốn cờ. Một viên tướng của quân đội xâm lược cũng mặt buồn rười rượi, đỡ lá cờ ba sắc vừa hạ trên đỉnh cột cờ thành 'Hà Nội xuống gập lại, bỏ vào hòm để đưa về nước... Cuốn cờ về nước
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Ba, 2012, 09:43:28 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #268 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 09:25:37 pm » |
|
KHÔNG NGĂN CHẶN ĐƯỢC BƯỚC CHÂN LỊCH SỬ
Mỹ đâu có muốn ra đi. Những tên bán nước nhờ chiến tranh mà giàu sang phè phỡn lại càng không muốn Mỹ ra đi. Theo Mỹ, đi hành quân một trận, lính bỏ xác, nhưng tường tá lại thu về bạc triệu. Cho vợ đi "hữu nghị" với "đồng minh" một tối, sáng hôm sau đúng như gặp bụt trong cổ tích, ti-vi, máy lạnh, bột giặt, bơ sữa theo về. Đem những thứ ấy ra chợ giời bán lấy "đôla đỏ", rồi "đôla đỏ" đem đổi lấy "đôla xanh", gửi vào ngân hàng Brus-xen hay ngân hàng Thuỵ Sĩ...
Có một điều rất mỉa mai là khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên bàn việc giám sát Mỹ rút quân, người phản đối hăng nhất lại là một người, nói tiếng Việt, tóc đen, mũi tẹt. ông tường nhảy dù, trưởng đoàn Sài Gòn ấy nói:
- Mấy ông đâu có cần giám sát, mấy ông chỉ cần quay phim, chụp ảnh để nói với thế giới là Mỹ thua Mỹ rút thôi.
Hẳn là ông tướng Sài Gòn ấy đã có kinh nghiệm của một lần ra đi của quan thầy vào những ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ.
Một ông tường Sài Gòn khác, trước là một thẩy cai khố đỏ, từng là bại tướng bị huyền chức sau trận Quế Sơn, thì gân cổ lên mà bào chữa cho việc Mỹ để lại 159 tên lính thuỷ lính bộ canh gác sứ quán ở Sài Gòn. Ông ta nói như hoá dại:
- Đó là việc nội bộ của Hoa Kỳ với Việt Nam cộng hoà. Nếu cần, chúng tôi có thể để lại 300, 400...
Đúng là tâm địa Việt gian!
Mỹ không thể không đi nhưng Mỹ lần chần, cố kéo dài ra được phút nào hay phút ấy.
Ngày 21-3, tường Gil-bớc Út-uốc, trưởng phái đoàn Mỹ trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, thông báo cho phía chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt nam rằng số 5.498 nhân viên quân sự Mỹ cuối cùng sẽ rút khỏi miền 'Nam Việt Nam vào cuối ngày 25-3-1973. Nhưng đến 9 giờ 30 phút ngày hôm sau (22-3) Mỹ đột nhiên lật ngược tất cả những gì đã hứa hẹn hôm trước. Đã không nói dứt khoát ngày nào thì rút hết quân, Mỹ lại lờ tịt số trên 1.000 nhân viên quân sự của họ làm việc trong Ban liên hợp quân sự. Ngày 24-3, trung tường Trần Văn Trà đưa cho Gil-bớc Ut-uốc bức công hàm. Xin trích dưới đây một đoạn trong công hàm lịch sử ấy:
"Đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam yêu cầu.phía Hoa Kỳ phải hoàn thành nghiêm chỉnh việc rút quân đúng thời hạn 60 ngày như hiệp định và nghị định thư đã quy định mà không có một ngoại lệ nào. Yêu cầu cụ thể của chúng tôi là:
a- Việc rút quân của Hoa Kỳ và các đồng minh khác của Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà đợt cuối cùng phải bắt đầu từ 26-3-1973 và hoàn thành vào ngày 28-3-1973.
b- Số nhân viên quân sự Hoa Kỳ trong Ban liên hợp quân sự bốn bên phải rút hết trước 08 giờ ngày 29-3-1973. Sau thời hạn 60 ngày, ở miền Nam Việt Nam chỉ còn có một Tổ liên hợp bốn bên làm nhiệm vụ tìm kiếm những người chết và người mất tích. Chúng tôi không thể chấp nhận việc để lại 159 lính thuỷ đánh bộ canh gác sứ quán Hoa Kỳ ở Sài gòn vì điều đó trái với Hiệp định Paris và quy chế ngoại giao quốc tế.
Không biết Mỹ bàn bạc gì với nhau mà mãi tới hai giờ sáng ngày 25-3 mới tục sục đến gõ cửa để trao công hàm. Vẫn loanh quanh luẩn quẩn trong cái kiểu "hoà bình trong danh dự" của Ních-xơn, nhưng cuối cùng phải nhận... xin rút.
Ngày 27-3, Mỹ rút tất cả 11 chuyện tại sân bay Tân Sơn Nhất. Họ thông báo cho tổ giám sát của Ban liên hợp quân sự là sẽ kết thúc vào lúc 18 giờ 30. Thế nhưng đến tận 22 giờ mới xong được chuyến thứ mười. Chuyến thứ mười một bắt đầu vào lúc 23 giờ, lính Mỹ đang lên máy bay thì đột nhiên có lệnh từ đâu đó truyền xuống: "dừng lại".
Một sỹ quan Việt Nam dân chủ cộng hoà hỏi trung tá Permire của Mỹ:
- Tại sao dừng lại, ai ra lệnh?
- Dạ... Tôi cũng không biết nữa! Permire trả lời.
- Đề nghị trung tá xin chỉ thị của cấp trên ngay và có sự giải thích rõ ràng.
Permire chạy ngược chạy xuôi, một lát y quay lại nói:
- Dạ.., theo quy định của không quân Mỹ thì trẻ con đi máy bay quân sự phải có những chiếc rọ để treo lên. Chúng tôi đang cho người quay về trại Al-pha để tìm sáu cái rọ cho sáu đứa trẻ đi trong chuyến này.
Một đại uý Sài Gòn sốt ruột quá cằn nhằn:
- Gớm không biết lúc nào mới tìm được mấy cái rọ đây!
Đồng chí Diễn, sỹ quan của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam vỗ vai anh ta:
- Chịu khó tý. Nhìn cảnh Mỹ rút quân thế này người Việt Nam mình không ăn cũng no.
Viên đại uý Sài Gòn nói:
- Người Hoa Kỳ họ khoa học chứ đâu có thế này. Lình xình quá!
- Họ còn muốn lình xình hơn nữa cơ - đồng chí sỹ quan cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam vui vẻ nói - Họ đâu có muốn rút. Nhưng lình xình thì lình xình rồi cũng phải chuồn. Không ai ngăn nổi bước chân của lịch sử đâu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #269 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 09:28:09 pm » |
|
DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM Ngày 29-3, tôi đã có vinh dự được cùng với các sỹ quan của hai đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đến sân bay Tân Sơn Nhất giám sát toán quân xâm lược Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam. Đứng giữa sân bay, tự nhiên tôi bỗng nhớ Lê Anh Xuân và bài thơ của anh: Dáng đứng Việt Nam. Không biết người anh hùng vô danh, người anh hùng có dáng đứng Việt Nam, dáng đứng hiên ngang mà Lê Anh Xuân nói đến trong bài thơ đã đứng ở chỗ nào trên sân bay này? Chưa bao giờ tôi thấy niềm tự hào dân tộc trong tâm hồn tôi dấy lên mãnh liệt như lúc này. Kẻ thù xâm lược chưa quỳ gối đầu hàng, bóng đen của chủ nghĩa thực dân mới còn đè nặng một phần Tổ quốc, lá cờ sọc nhơ nhớp, ký hiệu của bọn Việt gian hết ôm chân Pháp đến ôm chân Mỹ vẫn còn đó. Nhưng.., bọn xâm lược hùng mạnh và tàn ác nhất trên thế giới đó phải cuốn gói ra đi trong khi Hiệp định Paris công nhận quyền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và đội quân giải phóng hùng mạnh đang tồn tại và không ngừng phát triển. Toán lính Mỹ thứ nhất rút trong buổi chiều ngày 29-3 bắt đầu đi. Chiếc máy bay vận tải hạng nặng C141 của Bộ chỉ huy không quân Mỹ mang phù hiệu tia chớp đã nổ máy. Ba chiếc xe buýt chở 95 lính và sỹ quan đến chỗ cách máy bay 50 mét. Trung tá Slớt-ka của Mỹ trao cho thiếu tá Đoàn Văn Diễn của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam một tập giấy đánh máy: - Thưa thiếu tá, đây là bản danh sách. Thiếu tá Diễn cùng các sỹ quan của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà xem xét cẩn thận. - Đề nghị trung tá Slớt-ka cho chúng tôi biết số quân rút trong chuyến này thuộc binh chủng nào và đơn vị nào? - Thưa, họ thuộc quân số của MACV, gồm đủ hải, lục, không quân. - Viên sỹ quan cao cấp nhất trong chuyến này là ai, cấp bậc gì? - Thưa là trung tướng, tên ông là Rô-dê-bu-ruph. Thiếu tá Diễn trao bản danh sách lại cho trung tá Slớt-ka và bảo ông ta cho lính trên xe xuống xếp hàng để lên máy bay. Chúng tôi đứng cạnh cửa máy bay, đếm cẩn thận từng tên lính Mỹ, trong khi các anh Bùi Duy Ly, Lâm Tấn Tài, Nguyễn Khả, từ các góc độ thuận lợi nhất, đưa máy ảnh, máy quay phim lên ghi lấy những hình ảnh cuối cùng của đội quân xâm lược đang rút lui. Giám sát chuyến thứ nhất xong, chúng tôi quay lại tìm các sỹ quan Sài Gòn để trao đổi ý kiến với họ thì chẳng thấy đâu cả. Té ra họ đã bỏ ra ngoài trốn nắng dưới cánh một chiếc máy bay Bô-inh 747. Một người ngồi nhai kẹo cao su, còn một người gục mặt trên hai đầu gối. Anh ta ngủ hay đang nghĩ điều gì? Nguyễn Ái Quốc! Nguyễn Ái Quốc! Tổng thống Mỹ Ních-xơn hễ nhắc đến Việt Nam là không quên nhắc kèm câu "hoà bình trong danh dự". Những lính Mỹ ngồi tù ở Hà Nội trở về đang được thốt lên thành anh hùng cũng không ngoài mục đích củng cố thứ "hoà bình trong danh dự" ấy. Khốn nỗi, lính Mỹ vừa thoát chết đang sướng như điên lại chỉ chịu phô ra những sự thật cay đắng, bôi tro trát trấu lên lời văn hoa mỹ của tổng thống họ. Có lần ngồi máy bay lên thẳng liệng thấp trên một căn cứ Mỹ ở vùng phụ cận Sài Gòn, tôi thấy trên.nóc một căn nhà có dòng chữ sơn trắng nét rất to "GOODBYE CRIMES" (giã từ tội ác). Tôi hỏi người lính phụ lái, anh ta bảo: - Bọn "bồ câu nó viết đấy! - Những người ấy có đông không? - Cũng khá đông. Chụp ảnh lưu niệm với phi hành đoàn PANAM Tại Tân Sơn Nhất. Phi hành đoàn có nhiệm vụ đưa những tên lính Mỹ cuồi cùng ra khỏi Việt Nam
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Ba, 2012, 10:05:24 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
|