Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:00:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 316004 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #330 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 09:12:02 pm »

        Hắn vừa dứt lời, đồng chí trung uý của ta nghiêm nét mặt, chậm rãi nói:

        -  Có chiêu hồn các người chứ chiêu hồi cái gì. Đủ mùi dơ dáy, bẩn thỉu của những kẻ bán nước, làm tay sai cho bọn đế quốc xâm lược. Tôi nói để thiếu tá biết là phải bỏ ngay trò chiến tranh tâm lý rẻ tiền, bẩn thỉu ấy đi, Mỹ đã cút rồi, ngụy nhào không còn xa nữa đâu!

        Tên thiếu tá an ninh của ngụy cứ ngây người ra, không kịp phản ứng gì, khuôn mặt tái nhợt, lủi thủi bỏ đi…

        Trên một chuyến bay liên lạc thường kỳ Sài Gòn – Hà Nội, có một đại uý ngụy cất giọng khiêu khích:

        -  Các ông lên máy bay C130 mà không biết gài nịt (dây an toàn) làm sao đánh Mỹ nổi?

        Một chiến sĩ của ta ngồi cạnh đó không đắn đo, đáp lại ngay:

        -  Mấy người quen ngồi máy bay Mỹ nên quen gài nịt Mỹ. Chúng tôi không quen gài nịt Mỹ nhưng chúng tôi biết quật cổ “pháo đài bay B52” của Mỹ. Chúng tôi biết làm chủ khoa học kỹ thuật bắn tan xác máy bay hiện đại nhất của Mỹ, ở chiến trường chúng tôi đánh cho Mỹ thua liểng xiểng nên mới phải ký kết Hiệp định Paris. Những điều đó liệu các người có hiểu không?

        Tên đại uý ngụy cụt hứng, hắn không ngờ chỉ một người lính cách mạng bình thường mà có lời đối thoại sắc sảo đến vậy. Suốt chuyến bay hơn ba tiếng đồng hồ, y không hé thêm nửa lời, có lẽ vì câu nói của đồng chí cảnh vệ đi cùng trên chuyến máy bay này đã làm cho hắn mở mắt thật sự!

        Cơ quan an ninh xác định việc bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ của cán bộ, chiến sĩ ta tham gia BLHQS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, không cho phép lơ là mất cảnh giác để xảy ra mất an toàn dù chỉ một lần. Vì nếu có chuyện đó sẽ không thể sống lại một lần nữa mà rút kinh nghiệm, khắc phục hậu quả. Chúng tôi đã quá hiểu kẻ thù, thực tiễn chiến đấu trên chiến trường cho chúng tôi nhiều bài học quý giá. Đã có lần trong một trận đánh Xuân – Hè 1969 hướng tấn công của đơn vị Z không hoàn thành nhiệm vụ. Sự mất tích “bí ẩn” của phân đội bộ binh tham gia mũi đột kích đánh vào căn cứ địch đã làm cho cơ quan an ninh Quân giải phóng B2 tốn rất nhiều công sức tìm hiểu.  Cuối cùng ta đã giải mã được trường hợp “mất tích” này. Khi có lệnh nổ súng, bộc phá của quân ta đã nổ hướng mở, địch tập trung hoả lực chế áp mãnh liệt không để xung kích ta đột nhập vào căn cứ, cùng lúc, chúng bắn đạn chứa chất gây tê liệt thần kinh vào khu vực cửa mở. Bộ đội ta bị ngấm thuốc, mất sức chiến đấu, địch đã xông ra bắt sống số anh em của phân đội đột kích trong đó có đồng chí cán bộ chỉ huy tiểu đoàn…

        Trường hợp đi công tác lẻ, xa đơn vị của cán bộ ta vào vùng kiểm soát của đối phương cũng khá phức tạp. Đầu năm 1974, ta cử một tổ sĩ quan ra Thạch Hãn (Quảng Trị) làm việc, đến sân bay Đà Nẵng để chuyển lên máy bay lên thẳng bay ra Huế và Quảng Trị, nhưng ngoài đó mưa lớn, thời tiết rất xấu nên phải chờ. Trời tối, không thể đi tiếp, tổ cán bộ ta gọi điện thoại báo cáo về Tân Sơn Nhất. Đồng chí Hoàng Anh Tuấn đồng ý cho tổ nghỉ ở lại Đà Nẵng, dặn dò anh em hết sức cảnh giác. Tối đó, trong bữa ăn, phía đối phương thay nhau trổ tài “thuyết giáo tâm lý chiến” có lúc doạ dẫm, có lúc rủ rê tán tỉnh, phía họ đông hơn cả chục người, bên ta chỉ có ba đồng chí nhưng lý lẽ của các anh vừa có tình lại có lý nên đã làm cho đối phương bất lực. Đêm đó, các anh không ngủ, chong đèn đến sáng đề phòng “chủ nhà” giở trò bỉ ổi!

        Việc địch bố trí nơi đặt trụ sở của phái đoàn ta, chúng đã có sự toan tính rất kỹ, không để ta tự do ra vào doanh trại mua bán lương thực, thực phẩm… Họ buộc ta phải ăn, ở theo sự sắp xếp sẵn và phụ thuộc vào nguồn cung ứng hàng hoá. Chúng giải thích ngụy biện:

        -  Quí bị ra ngoài chúng tôi không đảm bảo an toàn vì dân chúng rất oán ghét Việt cộng!

        Nguồn nước uống, các loại lương thực, thực phẩm do đối phương dưới danh nghĩa “nhà thầu” đem vào bán, cơ quan an ninh của ta đều phải xem xét, nghiên cứu tỉ mỉ, thận trọng. Mỗi miếng cơm ăn, từng ngụm nước uống hoặc hàng nhu yếu phẩm đưa vào hàng ngày, bao giờ cũng được kiểm tra nghiêm ngặt bằng các phương tiện tương đối hiện đại do cấp trên ưu tiên trang bị để phân tích, so sánh, thử nghiệm các phản ứng sinh hoá… Kết hợp cả hiện đại với những biện pháp thô sơ truyền thống nhưng rất hiệu quả như sử dụng các loại sinh vật chim, khỉ, cá cảnh để xác định độc chất trong ăn uống… Ngoài ra, cán bộ an ninh còn tình nguyện nếm thử các loại thức ăn uống trước khi đưa ra phục vụ mọi người. Ai cũng chỉ nghĩ đơn giản nếu có lỡ xảy ra chuyện gì không may với mình thì hậu quả được hạn chế ở mức thấp nhất, đơn vị còn có cơ hội khắc phục kịp thời! An toàn cho hàng trăm cán bộ, chiến sĩ là trên hết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #331 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 09:37:26 pm »

        Đối với các đồng chí lãnh đạo đây là nơi tập trung những nội dung cần bảo mật hơn cả, cơ quan an ninh đã bố trí nhiều phương án bảo vệ an toàn ở mức cao nhất về tính mạng và tài liệu của các anh, kể cả khi có tình huống xấu nhất!

        Công tác bảo mật trong hoạt động của ta tại BLHQS là một nội dung được quan tâm đặc biệt. Ngày đầu tiên vừa đặt chân tới trụ sở “trại Davis” cơ quan an ninh đã kịp thời vô hiệu hoá “lũ rệp” do đối phương có “nhã ý” cài đặt từ trước. Đúng là khoa học hiện đại nhất thời kỳ này được ứng dụng triệt để. Tại các căn nhà đối phương giới thiệu “giành cho ông lớn” Mỹ ngụy đã ưu tiên bố trí những chiếc máy thu phát rất tinh vi, đặt vào những vị trí bất ngờ và có thể tạo được hiệu quả cao nếu không bị phát hiện. Một số căn nhà khác, địch phán đoán ta sẽ sử dụng làm nơi họp bàn nên cũng được chúng cài đặt “rệp”…

        Sau khi ta bóc gỡ “lũ rệp”, cơ quan an ninh lập tức thay đổi cấu trúc các căn hộ và dùng loại trang thiết bị đưa từ Hà Nội vào, tận dụng những nguyên vật liệu tại chỗ nhưng được xử lý kỹ không còn nghi ngại gì để xây dựng “căn buồng hạnh phúc” (phòng họp an toàn) đã “bịt tai, che mắt” những phương tiện thu phát tại chỗ, những thiết bị từ xa chúng đặt bên ngoài hàng rào chõ vào trụ sở của ta.

        Những chiếc máy thu phát của địch sau khi bóc gỡ, làm vô hiệu chúng, cơ quan an ninh kịp thời phổ biến rộng rãi cho mọi người biết được thủ đoạn này để cùng nâng cao ý thức cảnh giác. Nếu có trao đổi công việc hoặc sinh hoạt nên cố gắng hạn chế thấp nhất những từ ngữ mà kẻ địch vẫn có khả năng thu thập nhằm phán đoán được ý đồ, công việc thật của ta… Sau khi xem hiện vật, nghe phổ biến các quy định bảo mật, có anh còn mỉa mai: “Không ai giỏi hơn Mỹ về công nghệ nghe trộm! Đến cả Nic-Xơn còn say mê trò gian trá này kia mà!”

        Chúng ta đã đánh giá đúng đối phương và đề ra các biện pháp ngăn chặn kịp thời có hiệu quả trước những việc làm bẩn thỉu của họ.

        Đối với các loại giấy tờ, tài liệu nếu buộc phải đem đi làm việc với đối phương hoặc những văn bản báo cáo tình hình nhiệm vụ, kế hoạch thực hiện, biện pháp đấu tranh hoặc chỉ thị, thông báo, hướng dẫn của cấp trên gửi xuống nếu không qua đường điện tín thì cơ quan an ninh phải tính toán kỹ cách đảm bảo an toàn khi đi trên đường, đề phòng không để địch đánh cắp, cướp đoạt. Trường hợp xấu nhất, lỡ lọt vào tay chúng cũng không thể dễ dàng khai thác.

        Các đồng chí văn thư, bảo mật đều tự giác chấp hành nghiêm qui định về công tác bảo vệ bí mật. Toàn bộ giấy than, giấy nháp, giấy đánh máy bị hỏng đều được huỷ vì những “nhân viên phục vụ” của họ rất quan tâm đến những sọt rác loại này.

        Khi đi công tác lẻ, phải nghỉ lại vùng do Mỹ ngụy bố trí nơi ăn nghỉ, ta cũng có phương án đối phó với các thủ đoạn của chúng nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài liệu và phương tiện được trang bị. Nhiều lần chúng tổ chức bọn lưu manh côn đồ hung hãn tấn công vào trụ sở của ta ở các khu vực, các nơi ta đến làm việc, cướp tài liệu của cán bộ đem theo. Anh em ta không một tấc sắt trong tay, không được lệnh đánh trả nhưng đã rất mưu trí, dũng cảm tránh né, che đỡ quyết bảo vệ an toàn tài liệu không để lọt vào tay địch. Có nhiều đồng chí bị thương phải đưa đi cấp cứu. Máu các anh đổ xuống vì sự an toàn tuyệt đối của những trang tài liệu quý báu đó.

        Thông tin liên lạc là hoạt động đặc biệt quan trọng đối với chúng ta. Sống giữa hang ổ của kẻ thù, hàng tuần có những chuyến bay liên lạc từ Tân Sơn Nhất đi Lộc Ninh và Tân Sơn Nhất đi Gia Lâm (Hà Nội). Mỗi khi có xung đột ngoài chiến trường, địch bị ta giáng trả đích đáng, hoặc muốn thể hiện “sức mạnh” của họ trước đối thủ, lập tức chiêu bài cắt chuyến bay, cắt điện, cắt nước và đưa quân lính cùng xe bọc thép bao vây, uy hiếp trụ sở hai đoàn ta… Mọi liên hệ với hậu phương chỉ còn dựa chủ yếu vào phương tiện thông tin vô tuyến, máy phát tin và ảnh của TTXVN.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #332 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 09:40:07 pm »

        Ngày đầu tiên vào trụ sở tại “trại Davis” chúng ta đã phải chống trả với những trò phá sóng, chèn sóng, gây nhiễu,… của địch. Chúng có ưu thế về khoa học kỹ thuật hiện đại trong lĩnh vực này nên sử dụng triệt để với gần 90 tần số vây quanh, đặt trạm thu tín hiệu thông tin và theo dõi ta rất chặt chẽ. Chúng sử dụng máy phát “toàn tần” với dải tần số từ 3 đến 16 mêgahéc, do đó chỗ nào ta cũng phát hiện đài địch. Chúng gây nhiễu toàn bộ dải sóng ngắn và cực ngắn, cứ ba giây phát một tín hiệu công suất rất mạnh… Có lúc, địch còn phát giả danh đài của ta và yêu cầu làm việc. Ta lập tức hỏi đối chứng, do không phải “người nhà” nên ấp úng không trả lời được, đành bỏ cuộc!

        Có trường hợp ta đang chuyển điện, thấy tiếng “ma níp” lạ đòi ta phải liên lạc với đài này. Nghi ngờ, ta hỏi mật khẩu, tiếng gõ lạ kia im bặt!

        Để đối phó với những hoạt động phá hoại của địch, ta thường xuyên thay đổi quy ước liên lạc, bố trí lại những quy ước chuẩn bị từ trước, giữa phiên liên lạc ta đổi sóng, đài cấp trên tăng công suất máy, số lần phát không theo quy ước cũ, ta phát hai lần: một lần hai chiều, một lần một chiều… Cơ quan an ninh cấp trên tăng cường cán bộ phản tình báo kỹ thuật vào trại Davis giúp giải quyết những trở ngại về kỹ thuật do địch gây nên. Chính vì vậy, mọi thủ đoạn xảo quyệt có sự trợ giúp đắc lực của khoa học hiện đại nhưng Mỹ ngụy cũng không thể khuất phục được hoạt động thông tin liên lạc của chúng ta.

        Quan hệ với hai đoàn bạn trong Uỷ ban quốc tế là Hung Ga Ri và Ba Lan, cơ quan an ninh của ta và bạn có sự phối hợp chặt chẽ hỗ trợ kịp thời phát hiện những âm mưu, thủ đoạn, hoạt động đánh phá của các cơ quan tình báo, đặc vụ Mỹ ngụy vào nội bộ ta và bạn. Hai bên đã thông báo, tạo điều kiện thuận lợi và bảo vệ an toàn cho nhau khi đi công tác xa đơn vị. Trong trường hợp địch câu móc, lôi kéo người của bạn chạy sang phía họ, chúng ta đã cùng bạn rút kinh nghiệm tìm ra những sơ hở chủ động phòng ngừa, khắc phục. Ta còn giúp bạn thu thập chứng cứ của cơ quan tình báo địch giúp bạn sớm tìm ra kẻ nội gián…

        Mặt trận ngoại giao quân sự là một hình thức đấu tranh hết sức sáng tạo, độc đáo của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước và quân đội ta, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân uỷ miền Nam (B2) đã chỉ đạo mọi hoạt động của hai đoàn đại biểu quân sự ta trong BLHQS 4 bên và 2 bên Trung ương thu được những thắng lợi rất quan trọng trong quá trình thi hành Hiệp định Paris. Chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ và các nước chư hầu phải rút hết quân chiến đấu trên toàn miền Nam Việt Nam dưới sự kiểm soát, giám sát của chúng ta. Tiến hành việc trao trả người của hai bên bị bắt và giam giữ, địch đã phải trả cho ta hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ và quần chúng ưu tú của phong trào cách mạng, những đồng chí đó trở về nhiều người là những cán bộ lãnh đạo xuất sắc, đây là một lực lượng đáng kể bổ sung kịp thời cho cuộc chiến đấu mới. Với điều kiện thuận lợi của ta, có lập luận sắc bén chính nghĩa, có sức thuyết phục tại văn bản pháp lý của Hiệp định nên ta đã biến nơi đây thành một mặt trận đấu tranh dư luận. Trên trận địa này ta đã làm cho kẻ thù rất lúng túng, bị động, mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại đều bị vạch trần nên thắng lợi của cách mạng càng nổi bật. Quần chúng nhân dân đang sống trong vùng địch kiểm soát và nhân dân cả nước càng vững tin, ra sức ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng, bạn bè trên thế giới càng hiểu rõ cuộc kháng chiến của chúng ta là chính nghĩa và tăng cường ủng hộ giúp đỡ, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ…

        Trên mặt trận này có một trận tuyến thầm lặng của toàn thể cán bộ, chiến sĩ là thành viên của hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS đấu tranh thắng lợi trước loại kẻ thù giấu mặt mà Mỹ ngụy đã dày công chuẩn bị một kế hoạch toàn diện để đánh phá chúng ta. Ngọn cờ chính nghĩa của cách mạng vẫn giương cao, ưu thế của đội quân chiến thắng luôn thể hiện trong cuộc sống hàng ngày giữa trùng vây quân địch, xứng đáng là những người lính cách mạng, luôn mưu trí, sáng tạo, chủ động đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù… Đúng là một đội quân chiến đấu, một đội quân công tác, một đội quân có văn hoá của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #333 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 09:44:18 pm »

        Sống và chiến đấu trong hoàn cảnh đặc biệt đó, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không để xảy ra một trường hợp đáng tiếc nào, đã trở về vẹn nguyên cùng với đại quân làm chủ và tiếp quản thành phố Sài Gòn sau ngày giải phóng.

        Đạt được thắng lợi trên là nhờ có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ hai đoàn. Ngay từ đầu, lãnh đạo hai đoàn ta đều xác định cuộc đấu tranh chống địch phá hoại nội bộ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ đầu tranh thi hành Hiệp định Paris phải giữ gìn sao cho lực lượng ta an toàn về tổ chức, con người, đảm bảo tuyệt đối bí mật công tác… Đối với Mỹ ngụy, chúng sẽ phá hoại Hiệp định, phá quyết liệt và muốn phá Hiệp định thì phải phá mọi hoạt động của hại đoàn ta, phá vào nội bộ tổ chức của ta… chúng sẽ sử dụng những thủ đoạn hèn hạ nhất, tàn bạo nhất nhằm vô hiệu hoá hoạt động của ta!

        Địch đã thất bại thảm hại trước sự chủ động phòng chống của ta đối với mưu đồ phá hoại của chúng. Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ từ đồng chí chỉ huy cao nhất đến người lính bình thường của hai đoàn ta đều là những chiến sĩ cách mạng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức cảnh giác cách mạng cao, ý chí chiến đấu kiên cường, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, có niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi, được tôi luyện trong cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ ác liệt với muôn vàn hiểm nguy, luôn với tư thế của đoàn quân chiến thắng. Chính những con người gang thép ấy đã làm nên thắng lợi trên trận tuyến thầm lặng này. Mỗi người trong từng lĩnh vực công tác, trên cương vị của mình đã phát huy cao nhất sức mạnh chính trị của đội quân chiến thắng, đội quân chính nghĩa, chủ động tiến công, liên tục tiến công, chủ động phòng ngừa trước mọi hoạt động phá hoại của địch, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ an ninh, kịp thời phát hiện và khắc phục sơ hở không để kẻ địch lợi dụng gây tổn thất cho ta.

        Trên trận tuyến thầm lặng này chúng tôi luôn nhận được sự chỉ đạo và chi viện kịp thời, hiệu quả của hậu phương, những hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ an ninh vô cùng quý báu của cơ quan bảo vệ quân đội và cơ quan an ninh cấp trên, trong đó có những ý kiến sát thực của đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, các đồng chí thứ trưởng và chỉ huy Cục bảo vệ quân đội.

        Những năm tháng chiến đấu trên mặt trận ngoại giao quân sự, chúng ta chỉ với một lực lượng nhỏ, đã đứng chân tại trung tâm đầu não của kẻ địch cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đấu tranh thắng lợi buộc Mỹ ngụy phải thực hiện những điều khoản hết sức quan trọng của Hiệp định Paris, sử dụng hiệu quả diễn đàn công khai ngay trong sào huyệt của chúng. Trên trận tuyến thầm lặng, nội bộ của chúng ta được bảo vệ an toàn, giữ gìn được sự trong sạch vững mạnh, mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch đấu tranh đều giữ được bí mật tuyệt đối, tính mạng và sức khoẻ của cán bộ, chiến sĩ được đảm bảo an toàn mức cao nhất… Trong đó có những đóng góp của cán bộ bảo vệ an ninh quân đội của các sĩ quan an ninh vào thắng lợi chung của hai đoàn đại biểu ta trong BLHQS đấu tranh thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #334 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 09:54:20 pm »





CHUYẾN ĐƯA CÁC ĐẠI SỨ UỶ BAN QUÓC TẾ LẦN ĐẦU TIÊN RA THĂM VÙNG GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ

Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh (Tư Quyết).                
       
        Hiệp định Pari được ký kết và có hiệu lực từ 0 giờ ngày 28/1/1973. Một trong các điều khoản của Hiệp định là thành lập Ban Liên hiệp quân sự 4 bên gồm đoàn Đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (Chính Phủ VNDCCH), đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (CP CMLTCHMNVN), đoàn của Mỹ và đoàn của Nguỵ quyền Sài Gòn để thi hành các điều khoản Hiệp định. Dưới ban Liên Hiệp quân sự 4 bên ở Trung ương có Ban Liên hiệp quân sự 4 bên ở các khu vực. Tôi đang công tác ở Ban An Ninh khu VI thì được Thường vụ Khu uỷ phân công đi làm nhiệm vụ trong Ban Liên hiệp quân sự khu vực IV (đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN) đóng tại Camp Êsêpic - Phan Thiết (Bình Thuận) do đồng chí thượng tá Nguyễn Trọng Xuyên làm trưởng đoàn (sau này là thượng tướng, thứ trưởng BỘ Quốc Phòng).

        Sau 60 ngày thực hiện Hiệp định, Mỹ rút hết quân dưới sự chứng kiến của đoàn Đại biểu quân sự Chính phủ VNDCCH và của đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN (trong Ban Liên hiệp quân sự 4 bên); cuối tháng 3/1973, chúng tôi được lệnh trên rút đoàn ở khu vực IV về đoàn Trung ương đóng ở Trại Đa-vít trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất - Sài Gòn.

        Đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN (trong Ban Liên hiệp quân sự 4 bên gọi tắt là Đoàn B vì đoàn đại biểu quân sự chính phủ VNDCCH gọi là đoàn A) lúc này do đồng chí Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm trưởng đoàn. Được biết đồng chí Hai An, Uỷ viên Ban An ninh Trung ương Cục tham gia Ban Cán sự Đoàn nên tôi đến gặp, báo cáo tình hình. Rất mừng là đồng chí đã biết tôi là Uỷ viên Ban An ninh khu VI nên hỏi tình hình khu VI, nói nhiệm vụ của Đoàn hiện nay và do thấy tôi biết tiếng Anh, tiếng Pháp nên phân công tôi tham gia Tiểu ban Quan hệ Quốc tế ở Đoàn B.

        Uỷ ban Quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp định Pari lúc đầu có đoàn Ba Lan, đoàn Hungari, đoàn Inđônêxia và đoàn Canada. Đến tháng 7/1973, đoàn Canada rút, thay thế bằng đoàn Iran.

        Tuy buộc phải ký Hiệp định Pari, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 lực lượng quân sự, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị nhưng Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", tiếp tục viện trợ kinh tế (2,67 tỷ USD năm 1973) và quân sự cho Nguỵ quyền Sài Gòn (đưa dự trữ chiến tranh của quân nguỵ lên trên 2 triệu tấn). Thiệu công khai tuyên bố 4 không (không có hoà bình, không ngừng bắn, không có giải pháp chính trị, không tổng tuyển cử), chủ trương "trên hoà bình, dưới chiến tranh, ngoài hoà hợp, trong bình định", ráo riết triển khai kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ". Trong vòng 1 1 tháng đầu năm 1973, nguỵ quyền Sài Gòn sử dụng 60% quân chủ lực và toàn bộ quân. địa phương mở trên 360.000 cuộc hành quân lấn chiếm, tập trung lực lượng lớn, tấn công có trọng điểm vào các khu vực giải phóng của ta như Sa Huỳnh, Bắc Kontum, Quảng Đức (tỉnh Đăknông hiện nay), vùng ven Đà Lạt, tam giác Hàm Thuận - Bình Thuận, nam bắc lộ 4 Ở Mỹ Tho, Chuông Thiện, Núi Dài, Trì Tôn - An Giang lấn chiếm lại hầu hết các vùng ta mới giải phóng tháng 1/1973, chiếm thêm 1 số "lõm" giải phóng của ta hòng xoá thế "da báo".

        Hàng tuần, Đoàn B do đồng chí Trưởng đoàn Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn chủ trì đều có buổi làm việc với các đồng chí đoàn Ba Lan và đoàn Hungari để thông báo tình hình với bạn. Các buổi thông báo ngày càng nhiều về những hoạt động lấn chiếm của nguỵ quyền Sài Gòn ở khắp 4 vùng chiến thuật. Và nội dung thông báo cũng thêm phần đánh trả, phản công và tiến công của ta, nhất là từ quý III năm 1973 trở đi.

        Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp tháng 10/1973 xác định: "Con đường Cách mạng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công... " và đề ra phương châm kết họp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao.

        Vận dụng phương châm trên, Đoàn B đề xuất và được trên chấp thuận mời các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế đang ở Sài Gòn ra thăm vùng giải phóng Quảng Trị, gặp và làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao CP CMLTCHMNVN Nguyễn Thị Bình. Theo hiểu biết hạn hẹp của tôi, đây là một hoạt động chủ động tiến công trên mặt trận ngoại giao của ta, tỏ thái độ thiện chí mong muốn giữ vững hoà bình, thực hiện đúng các điều khoản Hiệp định Pari đồng thời gián tiếp giới thiệu với Uỷ ban Quốc tế, với thế giới vai trò, vị trí, uy tín, ảnh hưởng của CP CMLTCHMNVN và đất đai, dân tình ở vùng giải phóng của ta.

        Uy tín của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình lúc đó rất lớn nên khi Đoàn ta gợi ý, Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế (luân phiên) là Inđônêxia đưa ra trao đổi thì tất cả các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế đều hân hoan, nhất trí. Đối với hai đoàn Bạn, đoàn Ba Lan và đoàn Hungari được tiếp xúc với Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình là một niềm vinh dự lớn đồng thời Bạn cũng muốn được hiểu biết thêm về vùng giải phóng của ta, tiềm lực của ta và chủ trương đối sách của ta trước tình hình nhùng nhằng hiện nay. Đối với đoàn Inđônêxia và đoàn Iran, việc ra thăm vùng giải phóng Quảng Trị và gặp Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình phục vụ ý đồ riêng của mỗi đoàn nhưng đều thống nhất ở chỗ được đặt chân tới vùng giải phóng của CP CMLTCHMNVN, được trực tiếp tìm hiểu, đánh giá tiềm lực của ta và nhất là có dịp để khai thác, tìm hiểu về chủ trương đối sách của ta đối với âm mưu, hoạt động của Mỹ - Nguỵ.
      
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #335 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 09:58:49 pm »

        Điện của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình mời các đại sứ trưởng đoàn và các tuỳ viên trong Uỷ ban Quốc tế ra thăm Đông Hà - Quảng Trị chính thức là ngày 12/11/1973. Đoàn B cử đồng chí đại uý Mỹ Thành và tôi (thiếu tá Quyết) tâm sỹ quan liên lạc đưa dẫn Uỷ ban Quốc tế.

        Mọi việc tưởng có Uỷ ban Quốc tế thì sẽ "xuôi chèo mát mái". Sáng sớm ngày 12/11/1973, đồng chí Mỹ Thành và tôi đã chuẩn bị xong xuôi chờ Quân cảnh và Cảnh sát Nguỵ vào đưa dẫn chúng tôi ra sân bay để đi với Uỷ ban Quốc tế như thông lệ. Đã quá hẹn với Uỷ ban Quốc tế hơn nửa tiếng đồng hồ mà không thấy bóng dáng một Quân cảnh hay Cảnh sát Nguỵ nào. Rõ ràng là mọi việc đến phút cuối Mỹ - Nguỵ vẫn giở trò phá đám. Nếu sỹ quan liên lạc của đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN không ra sân bay đi cùng thì Uỷ ban Quốc tế cũng không ra Đông Hà - Quảng Trị được và chuyến đi gặp Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình tất nhiên bị huỷ bỏ.

        Chúng tôi vẫn nén đợi. Mười lăm phút sau, một chiếc xe jeep treo cờ Uỷ ban Quốc tế xộc vào cổng trại Đa vít, trên có 2 sỹ quan cấp tá Inđônêxia xin gặp đoàn ta, trình bày được lệnh Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế đến hỏi vì sao 2 sỹ quan liên lạc của ta không ra sân bay đưa Uỷ ban Quốc tế ra Quảng Trị? Chúng tôi kịp thời vạch mặt Quân cảnh và Cảnh sát Nguỵ gây trở ngại, không đến dẫn đường, còn chúng tôi đã sẵn sàng.

        Sỹ quan liên lạc đoàn Inđônêxia mời chúng tôi lên xe ieep cùng ra sân bay cho.kịp giờ. Tới sân bay, chúng tôi đã thấy đầy đủ các đại sứ trưởng đoàn Uỷ ban Quốc tế, một hoặc hai sỹ quan cấp tá đi theo tuỳ tùng. Riêng đoàn Inđônêxia, với cương vị Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế có thêm Thiếu tướng, phụ trách quân sự và đoàn Hungari có Thiếu tướng Schuz, Phó tổng tham mưu trưởng phụ trách quân sự của đoàn đi cùng.

        Chúng tôi lên chiếc máy bay dân sự do Uỷ ban Quốc tế thuê của hãng Hàng không Air American khoảng 30 chỗ ngồi để đi ra Huế. Bất ngờ hôm đó miền Trung có bão. Máy bay lên bổng xuống trầm nhiều lần rồi phải hạ cánh ở Đà Nẵng ăn trưa.

        Ăn cùng với các đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế mà tôi nuốt không trôi, lo làm sao.hoàn thành được nhiệm vụ, đưa được các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế ra đến Đông Hà - Quảng Trị an toàn. Mình có làm sao cũng chẳng hề gì nhưng xảy ra chuyện gì với Uỷ ban Quốc tế thì hết sức phức tạp, bất lợi. Phải chờ bão ngớt mới đi được, mà ra Đông Hà muộn, chệch giờ thì không biết anh em mình bố trí đón tiếp ra sao.

        Đến chiều mưa đã ngớt, cả đoàn chuyển sang đi trên 6 chiếc máy bay trực thăng đo phi công của hãng Air American lái từ Đà Năng qua Huế tới bờ nam sông Thạch Hãn thì hạ cánh. Lúc này đã vào khoảng 17h00.

        Theo quy định của ta, máy bay của Uỷ ban Quốc tế ra vùng giải phóng của CP CMLTCHMNVN phải bay trong phạm vi 2km theo hành lang ta quy định (để phòng ngừa việc Mỹ lợi dụng việc ra vùng ta giả vờ lạc đường, bay chệch hành lang quy định để điều tra sự bố phòng của quân đội ta). Số phi công Mỹ ra dấu hiệu: trời đã về chiều, bay dễ lạc đường nên vào thời điểm này có cắt cổ chúng cũng không bay ra phía Bắc sông Thạch Hãn.

        Trời chỉ còn mưa nhỏ nhưng gió lớn. Biết đây là thủ đoạn của Mỹ - Nguỵ nắm phương tiện giao thông vận tải, tìm cách trì hoãn, kéo dài, phá hoại chuyến đi của các đại sứ Uỷ ban Quốc tế ra làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình và thăm vùng giải phóng của CP CMLTCHMNVN, tôi xuống trực thăng đứng ra mép sông Thạch Hãn trân trân nhìn về phía Bắc sông Thạch Hãn lòng như lửa đốt. Sau 20 phút không thấy bờ Bắc có động tĩnh gì nên chúng tôi buộc phải cùng.đoàn Uỷ ban Quốc tế bay về Huế đỗ cả 6 trực thăng ở bờ nam sông Hương. Đã gần 6 giờ tối, thành phố đã lên đèn. Công chức, học sinh, nhân dân thành phố Huế vừa tan trường, tan công sở ra về, gặp chúng tôi đi cùng Uỷ ban Quốc tế tỏ rõ thiện cảm và thăm dò xem đang diễn tiến sự kiện gì?

        Về đến khách sạn đón Uỷ ban Quốc tế ăn, ngủ qua đêm; ngay khi chuẩn bị ăn, đồng chí đại sứ Hungari đến gợi ý chúng tôi báo cáo tình hình về đoàn TƯ xin chỉ thị. Đồng chí đại uý Mỹ Thành bỏ ăn,, xin liên lạc điện thoại gấp với đồng chí Trưởng đoàn Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn. Các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế vừa ăn tối xong, đang ngồi uống cà fê thì đồng chí Mỹ Thành đến thông báo với Uỷ ban Quốc tế: Do tình hình mưa bão nên xin chuyên lời mời Uỷ ban Quốc tế ra thăm Đông Hà và gặp Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ngày 12/11/1973 sang ngày 13/11/1973. Do tầm quan trọng đặc biệt của chuyến đi nên bỏ quy định hành lang bay 2km.

        Các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế đều hân hoan, vui vẻ trước thong báo mới và nhất trí 7h30 sáng 13/11/1973 ra máy bay. Riêng số phi công lái trực thăng nghe tin chuyến bay ngày mai được bỏ quy định hành lang bay 2km thì hồ hởi ra mặt, chúc rượu nhau, cười nói oang oang.

        Chúng tôi được đoàn Hungari trong Tổ Uỷ ban Quốc tế ở Huế mời về trụ sở các đồng chí ngủ. Đồng chí thiếu tá tổ trưởng thông báo sẽ tổ chức luân phiên canh gác suốt đêm để bảo vệ chúng tôi, phòng ngừa bất trắc.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #336 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 10:01:13 pm »

        Sáng 13/11/1973, sáu chiếc trực thăng của An American từ Huế đưa đoàn thẳng tiến tới sân bay Đông Hà. Ban tổ chức và nhân dân Đông Hà đã tổ chức đón đoàn và dẫn đi tham quan theo chương trình. Tôi nhìn thấy đồng chí Chính (công an Vinh Linh cũ) trong Ban đón tiếp nên rất yên tâm, phấn khởi biết là trên đã sắp xếp bố trí mọi việc rồi. Đồng chí Mỹ Thành và tôi đi xe com-măng-ca về ngay Cam Lộ, nơi đóng trụ sở của CP CMLTCHMNVN, gặp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình báo cáo tình hình đi đường và qua thư của đồng chí trưởng đoàn Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn.

        Buổi chiều, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình dành trọn cả buổi để tiếp các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế. Chiến đấu và công tác ở chiến trường khu VI chủ yếu là vùng dân tộc, miền núi, lần đầu tiên được dự buổi Bộ trưởng Ngoại giao tiếp thân mật các đại sứ, "mở mắt" ra được nhiều điều. Từ cách ăn mặc đến cách bố trí chỗ ngồi, cách ăn nói, đề cập vấn đề... đều khác hẳn mọi điều ở chiến trường khu VI; nghĩ lại đúng như người ở rừng ra thành phố.

        Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình duyên dáng trong bộ áo dài truyền thống màu xanh nhạt, bên cạnh có hai chị mặc quân phục quân giải phóng đội mũ tai bèo, quấn khăn rằn Nam bộ, lùi chếch phía sau một chút là đồng chí phiên dịch mặc complet, cra-vat chỉnh tề, giầy da đen bóng lộn.

        Mở đầu, Bộ trưởng kể chuyện đã được đến thăm đất nước Inđônêxia tươi đẹp, đất nước của hàng nghìn hòn đảo, nói đến vai trò của Inđônêxia đang là Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế rồi đề cập đến mối quan hệ giữa Việt Nam với Inđônêxia, chân thành cảm ơn sự đóng góp to.lớn.của Inđônêxia đối với việc giám sát thi hành Hiệp định Pari; Tiếp đó, nói đến đất nước Ba Lan, vai trò của Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế từ Hiệp định Giơnevơ 54 đến Hiệp định Pari 1973; Tiếp đó nói đến Hungari, đến Iran, chân thành cảm ơn chính phủ và nhân dân các nước trong Uỷ ban Quốc tế đã giúp đỡ nhân dân Việt Nam. Khi Bộ trưởng nói đến nước nào thì đại sứ trưởng đoàn nước đó đều nghiêng mình đáp lễ, tỏ ý cảm phục và trân trọng những ý kiến, của Bộ trưởng. Cuối cùng, Bộ trưởng đề cập đến tình hình chiến.sự hiện nay, tố cáo nguỵ quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định Pari một cách có hệ thống trên tất cả 4 vùng chiến thuật và nói đến vai trò, sứ mệnh cao cả của Uỷ ban Quốc tế, hy vọng Uỷ ban Quốc tế làm hết sức mình để Hiệp định Pari thu được kết quả. Thay mặt CP CMLTCHMNVN, Bộ trưởng khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện Hiệp định Pari mà 4 bên đã ký kết. Nội dung xác đáng, có lý có tình, cách đề cập vân đề, cách ăn nói mềm mại, có duyên đã thu hút được sự quan tâm của các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế đối với CP CMLTCHMNVN.

        Suốt buổi gặp có 1 sự kiện khiến tôi ghi nhớ mãi: Cuối buổi gặp, đại sứ trưởng đoàn Iran nêu ý kiến: "Chúng tôi làm việc trong Uỷ ban Quốc tế rất khó xử, phía CP CMLTCHMNVN thì tố cáo với Uỷ ban Quốc tế là Chính phủ Cộng hoà VN (Nguỵ quyền Sài Gòn) vi phạm hiệp định Pari, phía Cộng hoà VN khi làm việc với Uỷ ban Quốc tế thì tố cáo CP CMLTCHMNVN vi phạm Hiệp định. Xin hỏi Bộ trưởng, nếu Bộ trưởng đứng vào cương vị Uỷ ban Quốc tế chúng tôi thì Bộ trưởng giải quyết thế nào"?

        Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình trước câu hỏi hóc búa đó đã tươi cười, vui vẻ - nụ cười tự tin của người đầy đủ bản lĩnh và dầy dạn trận mạc ngoại giao - trả lời ngay, không phả suy nghĩ lâu la gì: "Ồ, nếu tôi được là thành viên của Uỷ ban Quốc tế thì tôi dễ dàng giải quyết việc này. Tôi sẽ xem xét, sẽ căn cứ vào thái độ của bên nào tìm mọi cách phá hoại Hiệp định ngay từ lúc sắp ký kết và khi buộc phải ký kết thì đã tính toán phá hoại việc thực hiện Hiệp định một cách có hệ thống. Uỷ ban Quốc tế nên xem xét bản chất bên nào muốn tiếp tục chiến tranh, bên nào tán thành hoà bình thì sẽ đánh giá được các hoạt động của bên nào vi phạm Hiệp định có hệ thống và bên nào nghiêm túc thực hiện Hiệp định". Thái độ của các đại sứ trưởng đoàn thì hân hoan, vui vẻ, riêng đại sứ.Iran thì nín lặng không hỏi thêm câu nào. (Được biết ngay sau khi từ Đông Hà về lại Sài Gòn, đại sứ trưởng đoàn Iran rời máy bay đã đi ôtô về thẳng Dinh Độc Lập gặp Nguyễn Văn Thiệu nói lại tình hình).

*

*           *

        Đây là cuộc gặp của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình với 4 đại sứ, trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế ở Đông Hà - Quảng Trị, cuộc gặp lần đầu tiên và là cuộc gặp duy nhất đầy đủ các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế ở vùng giải phóng của CP CMLTCHMNVN. Gọi là cuộc gặp lần đầu tiên và duy nhất vì sang.năm 1974, thực hiện Nghị quyết 21, quân ta tiến công và phản công trên toàn miền Nam, ta giải phóng Thượng Đức - Quảng Nam tháng 8/1974, giải phóng Phước Long tháng 1/1975, tiếp đến là đại thắng mùa xuân 1975.

        Cuộc gặp có tiếng vang trong và ngoài nước, thể hiện sự vận dụng linh hoạt, chủ động phương châm "kết hợp chính trị, quân sự với ngoại giao" mà đòn ngoại giao lại đi đầu trong việc thực hiện Nghị quyết 21.

        Đối với tôi cuộc sống, công tác và chiến đấu ở Đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN (trong Ban liên hiệp quân sự 4 bên, 2 bên, ở Camp Êsêpic - Phan Thiết và trại Đa vít - Sài Gòn đầy ắp những kỷ niệm khó quên và chuyến đi làm nhiệm vụ sỹ quan liên lạc đưa các đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế ra thăm vùng giải phóng Quảng Trị và làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình là một vinh dự, một dấu ấn trong cuộc đời công tác của tôi - một chiến sỹ Công An chi viện chiến trường miền Nam.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #337 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 02:13:40 pm »


TỔ LIÊN HIỆP QUÂN SỰ BỐN BÊN
               
        Trích trong cuốn “Ban liên hợp quân sự” và “Trại Davis” những tháng ngày…" Nhà Xuất Bản QĐND – 1997.
        
        Hiệp định Paris (Điều 16c) quy định BLHQS bốn bên sẽ chấm dứt họat động trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ ngày ký kết, “sau khi việc rút quân của  Hoa Kỳ và quân của các nước ngoài khác… và việc trao trả NVQS  của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt đó hoàn thành”. Ngày 28-3-1973, BLHQS bốn bên trung ương họp phiên cuối cùng và kết thúc nhiệm vụ. Do còn có vấn đề phải tiếp tục giải quyết liên quan đến các bên , trong phiên họp đó bốn Trưởng đoàn đó thỏa thuận thành lập một Tổ LHQS bốn bên để phối hợp hành động của các bên thi hành Điều 8b của Hiệp định:

        “Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những NVQS của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả của những người bị chết, có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người cũn coi là mất tích trong chiến đấu”.

        Tổ LHQS họp phiên đầu tiên ngày 13-4-1973, thỏa thuận lấy tên là “Tổ LHQS bốn bên về tìm kiếm người chết và mất tích”. Các Trưởng đoàn là:

        - VNDCCH: thượng tá Trần Nguyên Độ (sau này là thiếu tướng), cuối năm 1973 được thay bằng thượng tá Nguyễn Đôn Tự (sau này là thiếu tướng).

        - CPCMLT: Trung tá Võ Thọ Son (sau này là đại tá).

        - Mỹ: Đại tá William Tombaugh, sau thay bằng đại tá Madison;

        - Chính quyền Sài Gòn: đại tá Nguyễn Văn Sáu;

        Phiên họp ngày 27-4-1973 thỏa thuận: Về biên chế tổ chức, mỗi bên có 35 người gồm 14 sĩ quan và 21 nhân viên: Trụ sở đóng tại Sài Gòn, thực tế vẫn là tại Tân Sơn Nhất trong trụ sở cũ của BLHQS bốn bên trung ương trước đây; tiếp tục áp dụng 11 điều ưu đãi và miễn trừ ngoại giao đó được BLHQS 4 bên Trung Ương thỏa thuận. Trong khi thi hành nhiệm vụ nếu có vấn đề mới thì Tổ liên hợp sẽ thảo luận và quyết định theo nguyên tắc nhất trí.

        Phần CPCMLT  cũng có một Đoàn như ba bên khác, cùng tham gia đồng đều trong mọi họat động, còn về nội bộ thì là một bộ phận của Đoàn 315B, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ủy và sự chỉ đạo của Trưởng đoàn 315B.

        Nói là Tổ vì từ nay việc phối hợp hành động thi hành Hiệp định Paris thuộc về BLHQS hai bên, còn Tổ bốn bên chỉ phụ trách một điểm 8b trong điều 8  của Hiệp định, mà trên thực tế cũng chỉ chủ yếu liên quan đến người chết và người mất tích của Mỹ.

        Nhưng tổ chức này sớm tỏ ra có vai trò rất quan trọng, vì ở đây có Đoàn Mỹ. Đoàn này có khả năng tác động đến thái độ và hành động của Đoàn Sài Gòn trong BLHQS hai bên trung ương và cả đối với phía chính quyền Sài Gòn nói chung trong những vấn đề liên quan đến Hiệp định  và BLHQS.

        Lúc đầu ta chưa nhận thức rõ dặc điểm này và cũng chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng mà người Mỹ dành cho vấn đề người chết và người mất tích. Về sau ta nhận ra và càng chú ý phối hợp hành động và đấu tranh giữa Đoàn đại biểu của ta tại BLHQS  hai bên trung ương với các đồng chí trong Tổ bốn bên (cả hai bộ phận VNDCCH và CPCMLT), đưa đến kết quả khá rõ trong một số vấn đề: bảo vệ 11 quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, bảo đảm an toàn cho các Đoàn ta tại Tân Sơn Nhất trong những thời kỳ tình hình chiến trường căng thẳng, duy trì việc bảo đảm liên lạc hàng tuần bằng máy bay cho các Đoàn ta với hậu phương, và nhất là thúc đẩy việc trao trả NVQS…

        Trong nội bộ, phía ta đã xây dựng một phương án tương đối hoàn chỉnh và đã được cấp trên phê duyệt nhằm đấu tranh thực hiện Điều 8b một cách toàn diện đối với tất cả các bên (chứ không phải chỉ riêng cho Mỹ), liên kết Điều 8b với các điều khỏan khác của Hiệp định, buộc trách nhiệm của Mỹ vào việc bảo đảm thi hành các điều khỏan, hỗ trợ và phối hợp với các cuộc đấu tranh của ta tại BLHQS hai bên trung ương. Một số nội dung và yêu cầu chủ yếu của phương án là:
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #338 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 02:17:46 pm »

        1. Về bản thân Điều 8b

        Đối tượng của điều này là nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên mất tích trong chiến đấu hoặc bị chết, yêu cầu của điều này là các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm những người bị mất tích, xác định và bảo quản mồ mả của những người chết , nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt. Như vậy là gồm cả cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang và bán vũ trang của phía ta bị mất tích hoặc hy sinh ở Miền Nam và phía Mỹ – Thiệu phải có trách nhiệm “giúp đỡ tìm kiếm”, xác định và bảo quản mồ mả.

        2. Về trách nhiệm thi hành

        Thuộc về tất cả bốn bên ký kết. Tại Miền Nam Việt Nam cả Mỹ và phía Sài Gòn cùng chịu trách nhiệm trong việc tìm kiếm người mất tích và bảo quản mồ mả người chết của phía ta.

        Tất nhiên về phía ta, Chính phủ VNDCCH và CPCMLT sẵn sàng làm tròn trách nhiệm giúp đỡ của mình đối với người của phía đối phương như điều 8b đã quy định.

        3. Về sự liên quan giữa Điều 8b với các điều khoản khác của Hiệp định và  trách nhiệm chung của Mỹ.

        Điều 8b không thể tách riêng và đơn độc thực hiện mà nó liên quan chặt chẽ với các điều khoản khác của Hiệp định và các Nghị định thư.Ví dụ:

        - Phải bảo đảm việc ngừng bắn hoàn toàn và vững chắc (các Điều 2,3,4,5,6,7 của Hiệp định):

        - Phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao. (Điều 16 Nghị định thư về các BLHQS);

        - Phải bảo đảm cung cấp các phương tiện họat động (Điều 17 Nghị định thư)

        -  Phải đảm bảo tuân thủ nguyên tắc làm việc của cơ quan LHQS (Điều 16b Hiệp định), trước hết là nguyên tắc nhất trí;

        - Các điểm a, b, c trong Điều 8 Hiệp định liên quan mật thiết với nhau: Điều 8a về trao trả nhân viên quân sự, thường dân nước ngoài của các bên bị bắt; Điều 8b về tìm kiếm người mất tích và bảo quản mồ mả người chết Điều 8c về trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ. Không thể chỉ lo về người mất tích và người chết mà không quan tâm đầy đủ đến những người còn sống bị giam giữ,…v..v…

        Bởi vậy, mặc dù nhiệm vụ bảo đảm thi hành Hiệp định đã chuyển sang BLHQS hai bên, nhưng Mỹ là một bên tham chiến chủ yếu, không thể không có trách nhiệm đối với việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản của Hiệp định thuộc phạm vi trách nhiệm của Mỹ và phía Sài Gòn.

        Tóm lại ta dựa vào việc Mỹ là kẻ quyết định bên phía đối phương để cột trách nhiệm của Mỹ vào việc bảo đảm thi hành Hiệp định, kiềm chế việc phá hoại của Thiệu.

        Từ những phiên họp đầu, Đoàn Mỹ đã muốn thảo luận ngay vấn đề mồ mả và hài cốt người chết và tìm kiến người mất tích và chỉ muốn bàn về vấn đề đó thôi. Họ chuyển cho hai Đoàn ta một bảng thống kê các máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Miền Bắc và Miền Nam, ghi rõ loại máy bay, ngày tháng, địa điểm, số người lái, yêu cầu ta điều tra, tìm kiếm xác cùng các di vật còn lại. Các Đoàn ta nhận, chuyển về Bộ Tổng tham mưu  và Bộ tham mưu Miền, đề nghị thông báo cho các địa phương liên quan để xác minh. Còn phía ta (Đoàn CPCMLT và Đoàn VNDCCH) đòi trước hết phải bàn bạc giải quyết các vấn đề tổ chức, thể thức thủ tục, các điều kiện bảo đảm hoạt động của tổ cũng như của các Đoàn, là những tiền đề làm cho Tổ liên hợp có thể họat động bình thường. Về nội dung Điều 8b về phía ta, Đoàn CPCMLT được đoàn VNDCCH ủng hộ nhấn mạnh Mỹ-Sài Gòn phải có trách nhiệm đối với người mất tích và người chết của ta, yêu cầu để ta xây dựng nghĩa trang và đài tưởng niệm ở các địa phương có người của ta chết, để cho thân nhân người chết đi thăm viếng mồ mả theo đúng tinh thần Điều 8b Hiệp định. Đoàn Sài Gòn cự tuyệt, Đoàn Mỹ thì cho rằng việc này không được ghi trong các điều khoản của Hiệp định và Nghị định thư. Tổ bốn bên không nên can thiệp vào công việc nội bộ của hai bên Miền Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #339 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 02:21:22 pm »

        Các cuộc tranh cãi cứ thế kéo dài không thể đi đến kết quả gi được. Mỹ nóng lòng muốn giải quyết ngay vấn đề thuộc lợi ích riêng của Mỹ là người mất tích và hài cốt người chết mà không quan tâm đến các vấn đề khác mặc dù đều là những vấn đề rất quan trọng trong nội dung Hiệp định Paris mà Mỹ đều có liên quan trách nhiệm. Ta phải đòi những điều đảm bảo cho họat động bình thường của các Đoàn đại biểu của ta, đòi thi hành nghiêm chỉnh  tất cả các điều khoản của Hiệp định chứ không riêng một vấn đề nào theo yêu cầu của Mỹ. Còn về phía Sài Gòn  thì chẳng thiết tha gì với Điều 8b. Họ tham gia Tổ LHQS bốn bên và phải đi dự các phiên họp chỉ vì phải làm theo Mỹ.

        Tình hình Miền Nam chưa yên, tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu vi phạm Hiệp định ngày càng nghiêm trọng, những vấn đề lớn của Hiệp định như ngừng bắn, xác định vùng kiểm soát của các bên, trao trả người bị giam giữ …. đều không được giải quyết, trong khi đó Mỹ tiếp tục dính líu quân sự vào Miền Nam, ngược với lời cam kết của họ, dung túng Thiệu phá họai Hiệp định và đẩy mạnh vũ trang, tiếp sức cho nó chống lại hòa hợp dân tộc, cố làm cho ta suy yếu để đánh bại ta, trong bối cảnh đó làm sao có thể để cho Mỹ phủi trách nhiệm và đòi đơn phương được đáp ứng ngay chỉ riêng các yêu cầu về người chết và người mất tích của họ??

        Mặc dù công việc không tiến triển , vì lợi ích của họ, Mỹ vẫn phải duy trì các phiên họp của Tổ LHQS bốn bên, duy trì các chuyến liên lạc hàng tuần của Đoàn VNDCCH bằng máy bay C130 ra Hà Nội buộc phía Sài Gòn duy trì các chuyến máy bay lên thẳng hàng tuần bảo đảm việc liên lạc của Đoàn CPMTLT đi Lộc Ninh tuy phía này thường gây không ít trục trặc.

        Đôi lúc Mỹ cũng tỏ ra làm căng, bỏ phiên họp, đình chỉ một vài chuyến bay đi Hà Nội để gây sức ép, nhưng rồi họ cũng phải khôi phục. Ngày 8-6-1973 trên đường từ Hà Nội trở về Tân Sơn Nhất, một đồng chí ta để cháy tài liệu trên máy bay. Đám cháy được dập tắt nhanh chóng, không gây thiệt hại gì, nhưng khi đến sân bay phía Mỹ làm khó dễ, đòi khám xét hành lý, phía VNDCCH kiên quyết phản đôi nên toàn bộ người và hành lý của ta bị họ giữ lại trên máy bay đến ngày 11/6 mới chịu để cho trở về Trại Davis. Sau đó họ đình các chuyến bay, đòi phía VNDCCH phải ký cam kết đảm bảo an toàn từng chuyến bay, không mang chất nổ, thừa nhận quyền của trưởng đoàn lái không cho đưa lên máy bay những hàng mà họ cho là không đảm bảo an toàn. Đoàn VNDCCH bác bỏ. Trong lúc nghỉ giải lao giữa một phiên họp và nói chuyện riêng, các đồng chí ta bảo với người Mỹ cần có cách giải quyết thiết thực, đừng vì việc nhỏ này mà làm cho các quan hệ xấu đi, gây trở ngại cho Tổ LHQS bốn bên. Cuối cùng họ gửi làm phép cho Đoàn đại biểu VNDCCH một công văn với nội dung hướng dẫn an toàn cho khách đi trên máy bay, yêu cầu ta phổ biến cho những người đi và thông báo bằng văn bản cho họ là ta đã nhận bảng hướng dẫn. Phía VNDCCH đồng ý và chuyến bay liên lạc hàng tuần ra Hà Nội (Bị cắt từ 15/6/1973) ngày 3/8/1973 đã được khôi phục.

        Để tìm lối gỡ ra khỏi bế tắc, trong phiên họp ngày 16/10/1973 phía Mỹ đề nghị phân công thảo luận: Các trưởng đoàn trao đổi về danh sách người chết và  mất tích, phó trưởng đoàn bàn về thủ tục. Đề nghị này cũng bị ta bác bỏ. Trong khi nói chuyện riêng trong giờ nghỉ, phía Mỹ thăm dò thái độ của ta, họ hỏi nếu phía Sài Gòn tiếp tục thực hiện kế hoạch trao trả bị bỏ dở thì Mỹ sẽ được gì (ý nói kế hoạch trao trả đã được thỏa thuận tại BLHQS) 2 bên trung ương ngày 17/7/1973, nhưng chỉ mới thực hiện được hai ngày 23 và 24/7 thì phía Sài Gòn đơn phương đình chỉ). Các đồng chí VNDCCH nói thẳng là Mỹ phải có trách nhiệm với việc thi hành mọi điều khoản của Hiệp định, phải thấy mối liên quan giữa Điều 8b (Người chết và người mất tích) và Điều 8c (trao trả NVDS). Mỹ phải làm áp lực buộc phía Sài Gòn trao trả cho phía CPCMLT hết số người họ đã thông báo (5081 người). VNDCCH đang cho tập hợp để có thể cho phía Mỹ nhận 23 bộ hài cốt phi công Mỹ chết ở Miền Bắc. Sau đó đến đầu tháng 2/1974. BLHQS 2 bên trung ương thỏa thuận và thực hiện được đợt trao trả từ 8/2 đến 7/3/1974. Trong 2 ngày 6 và 13/3/1974 Mỹ nhận 23 bộ hài cốt tại sân bay Gia Lâm.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM