Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:01:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315290 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #340 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 02:25:44 pm »

        Dưới sự chỉ đạo thống nhất của Quân ủy trung ương và Tổng cục chính trị, sự phối hợp giữa Đoàn đại biểu CPCMLT và VNDCCH với nhau trong đó Tổ LHQS bốn bên cũng như với Đoàn đại biểu CPCMLT tại BLHQS hai bên trung ương luôn luôn chặt chẽ trong mọi mặt họat động tại các cơ quan LHQS cũng như với UBQT và giới báo chí. Ngày 10-5-1974, Đoàn đại biểu CPCMLT tại BLHQS hai bên trung ương tuyên bố đình chỉ họp cho đến khi đối phương chấm dứt các hành động phá hoại đối với cơ quan LHQS. Ngày 30-5-1974, hai Đoàn ta tại Tổ LHQS bốn bên cũng tuyên bố đình chỉ họp không thời hạn, sau đó cả hai cơ quan LHQS đã nối lại các cuộc họp vào 11-6 và 13-6-1974.

        Ngày 8-10-1974, CPCMLT ra tuyên bố về tình hình Miền Nam Việt Nam , đình chỉ hẳn mọi cuộc họp của BLHQS hai bên và rút khỏi diễn đàn La Celle Saint Cloud ở Pháp. Ngày 11-10-1974, Chính phủ VNDCCH cũng ra tuyên bố tương tự và Tổ LHQS bốn bên cũng chấm dứt các cuộc họp.

        Tuy vậy, Đoàn Mỹ vẫn giữ liên lạc điện thoại thường xuyên với hai Đoàn ta, nhất là với đoàn VNDCCH để tìm hiểu ý đồ của ta, và vẫn duy trì cho ta chuyến bay liên lạc hàng tuần ra Hà Nội. Chỉ từ tháng 4-1975 trở đi, sau khi ta giải phóng đến Nha Trang, Đà Lạt, tình hình đối phương ở Miền Nam trở nên nguy cấp, Mỹ mới không cung cấp chuyến bay liên lạc nữa, nhưng cũng chỉ viện lý do kỹ thuật. Ta cũng tận dụng đường liên lạc điện thoại để duy trì sự tiếp xúc với Mỹ, theo dõi thái độ của họ trước diễn biến tình hình chiến sự.

        Trong sứ quán Mỹ có một cán bộ cấp cao có quyền lực gốc Hung-ga-ri, Y thường tranh thủ quan hệ với Đoàn Hung-ga-ri trong UBQT và qua những lần tiếp xúc đó tìm cách tìm hiểu thăm dò ta cũng như khi cần thì bắn tin cho ta.

        Vào đầu năm 1975, Y ngỏ ý là Mỹ chỉ can thiệp bằng không quân nếu chế độ Thiệu có nguy cơ sụp đổ, ví dụ nếu ta chiếm Biên Hòa xong tiếp tục tấn công Sài Gòn thì Mỹ sẽ can thiệp. Nhưng sau đó phương án này cũng không được cấp cao Mỹ chấp nhận.

        Ngày 19/4 Y lại ngỏ ý: Mặc dù lực lượng Cộng sản đến gần Sài Gòn, sự can thiệp bằng quân sự của Mỹ bị loại trừ. Nếu các điều kiện của CPCMLT không được thỏa mãn, rất có thể họ sẽ tấn công vào Sài Gòn. Tình hình xấu đi từng giờ một. Có mấy biện pháp:

        a.Thiệu ra đi gấp, lập một chính phủ mới.

        b.Giảm sự có mặt của Mỹ xuống còn một đại sứ quán (Mỹ muốn thăm dò xem nếu họ rút toàn bộ cơ quan tùy viên quân sự DAO thì ta có chấp nhận để sứ quán Mỹ tồn tại không?)

        Cũng trong ngày 19/4/1975 sứ quán Mỹ ở Sài Gòn thông qua Đoàn Hung-ga-ri trong UBQT bắn tin với Đoàn đại biểu CPCMLT ở Tân Sơn Nhất muốn bắt liên lạc để tìm giải pháp qua thương lượng. Ta không trả lời.

        Ngày 23/4 đồng chí Nguyễn Đôn Tự, trưởng đoàn Đại biểu VNDCCH báo cho Mỹ là cần ra Hà Nội và trở lại trong ngày 25.4.1975 (Lúc này Mỹ đã đình chỉ các chuyên bay liên lạc thường kỳ). Mỹ chấp nhận ngay. Kế hoạch máy bay cất cánh là 7giờ30 phút, thì lúc 7giờ Phan Hòa Hiệp (Chuẩn tướng nguyên trưởng Đoàn Sài Gòn trong BLHSQ hai bên trung ương, lúc đó là bộ trưởng thông tin của Trần Văn Hương vừa thay Thiệu) gọi điện thoại đề nghị được đi cùng trưởng đoàn VNDCCH ra Hà Nội theo chỉ thị của Trần Văn Hương để tìm hiểu ý định của Chính phủ Hà Nội và gợi ý nếu được đi thì mời thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng đi. Ta không chấp nhận. Chuyến bay bị chậm lại đến 10h mới cất cánh.

        Hiệp lại đề nghị đồng chí Trưởng đoàn A của ta xin cho ông ta ra Hà Nội ngày 26/4/1975 và nếu được sự đồng ý thì sẽ tổ chức một chuyến bay đặc biệt khác.

        Chiếc máy bay C130 ngày 25/4 lượn trôn ốc mấy vòng trên bầu trời Tân Sơn Nhất chứ không bay thẳng ngay ra hướng Vũng Tàu như mọi lần. Mỹ giải thích là lực lượng của ta đã đến gần Sài Gòn, có cả tên lửa phòng không SAM-3, nếu bay dưới 4500m có thể bị bắn nên phải lấy độ cao ngay ở khu vực Sài Gòn rồi mới bay ra hướng Vũng Tàu để ra Miền Bắc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #341 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 02:30:37 pm »

        Trên máy bay, viên trung tá sĩ quan liên lạc Mỹ (Nguyên giáo viên chiến lược  tại học viện quân sự Mỹ) đến gặp đồng chí Nguyễn Đôn Tự nói đại ý: “Mỹ chịu thua các ông rồi. Mong các ông đừng làm nhục Mỹ. Được thế chuyến bay này coi như thành công”. Một lúc sau Y lại nói: “Mỹ đưa lính thủy đánh bộ đến Vũng Tàu để bảo vệ việc di tản, không phải để tấn công các ông, mong các ông đừng đánh”.

        Đến Gia Lâm, ngoài công việc làm theo kế hoạch, đồng chí Nguyễn Đôn Tự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trung tướng Lê Quang Đạo (Phó chủ nhiệm Tổng cục chiónh trị, người trực tiếp chỉ đạo hai Đoàn tại Tân Sơn Nhất) dặn dò qua điện thoại và nhắn lời động viên chung hai đoàn.

        Đáng lẽ máy bay cất cánh trở về lúc 17h, nhưng đoàn lái Mỹ đề nghị được ở lại thêm một tiếng để mua vật kỷ niệm vì “ Có lẽ đây là chuyến bay liên lạc cuối cùng”

        Máy bay trở lại Tân Sơn Nhất vào khoảng 21h30phút, đỗ ở rìa đường băng vì chỗ đỗ trước kia nay dành cho lọai máy bay chiến đấu F5E. Một lúc sau một sĩ quan quân cảnh ra xin lỗi vì đến đón chậm do trục trặc thông tin. Đây là lần đầu tiên họ xin lỗi ta.

        Tối hôm đó 25/4 có buổi chiêu đãi của đại sứ quán Ba Lan trong UBQT tại nhà riêng ở phố Lý Thái Tổ. Đại sứ Mỹ Martin được chỉ thị của Kissinger phải gặp đại diện của CPCMLT ở Sài Gòn nên Martin trù tính sẽ gặp thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn tại buổi chiêu đãi này và chỉ thị cho Sài Gòn dễ dàng để cho Đoàn ta đi dự tiệc. Nhưng từ sau khi ta giải phóng Tây Nguyên, đối phương thường ngăn cản Đoàn ta đi vào thành phố Sài Gòn, mặt khác thấy không được đảm bảo an toàn nên ta báo bạn Balan là ta không đến dự được. Martin không thực hiện được ý định.

        Sáng 26/4, Phan Hòa Hiệp gọi điện thọai hỏi về quyết định của Hà Nội đối với đề nghị của ông ta. Ta trả lời theo đúng chỉ thị của trên:

        -  Quan điểm của chính phủ VNDCCH đã được tuyên bố rõ ràng.

        -  Không có vấn đề gì cần bàn giữa Chính phủ VNDCCH và chính quyền Sài Gòn!

        Hiệp lấy làm tiếc vì sự từ chối của ta và hẹn thứ sáu ngày 2/5 tới lại xin ra Hà Nội bằng máy bay liên lạc thường lệ và đề nghị trưởng đoàn VNDCCH cùng đi.
 
        Chiều 28/4/1975 sau khi một tốp máy bay A 37 của ta (Vừa lấy được của địch tại Phan Rang) ném bom Tân Sơn Nhất, trưởng đoàn Mỹ gọi điện hỏi xem ta có an toàn không và có cần gì thì Mỹ sẵn sàng giúp đỡ. Nói vậy thôi chứ từ lúc này trở đi, từ sân bay Tân Sơn Nhất đến sứ quán Mỹ đều rối tung cả lên rồi.

        Khoảng hơn 4h sáng ngày 29/4/1975, sau khi pháo và tên lửa của ta bắt đầu bắn dồn dập vào Tân Sơn Nhất, trưởng đoàn Mỹ còn gọi điện thoại lần cuối cùng cho trưởng đoàn A của ta nhân danh trưởng đoàn đại biểu quân sự Hoa Kỳ phản đối Đoàn đại biểu quân sự VNDCCH không bảo đảm an toàn cho Đoàn Mỹ(!). sau đó đứt liên lạc luôn.

        Tổ LHQS bốn bên đối với nhiệm vụ của bản thân nó (Thực ra thì nhiệm vụ này cũng chẳng có gì nhiều) không làm được gì mấy ngoài việc phía ta giải quyết cho Mỹ được nhận một đợt hài cốt ở Gia Lâm trong tháng 3/1974, nhưng nó có vai trò rất quan trọng, có thể nói không thể thiếu trong cuộc đấu tranh giữa các bên tại Tân Sơn Nhất sau khi BLHQS bốn bên chấm dứt họat động. Trong hơn một năm rưỡi từ khi thành lập, hầu hết các cuộc họp của nó đều là những cuộc tranh cãi vô bổ (Thực ra cũng chẳng có gì mấy để mà bàn), nhưng Mỹ vẫn kiên trì duy trì nó cho đến phút cuối cùng đến cả sau khi quân ta bắt đầu nổ súng tấn công Tân Sơn Nhất, mặc dù trong 5 tháng về sau không còn họp hành liên hợp nữa, vì Mỹ rất cần giữ cầu liên lạc trực tiếp với phía ta, nhất là với phía VNDCCH, không phải riêng vì vấn đề người chết và mất tích mà còn vì các mặt khác nữa liên quan đến diễn biến tình hình ở Miền Nam.

        Còn đối với ta, một mặt nó bảo đảm sự tiếp tục có mặt của đại diện Chính phủ VNDCCH tại Tân Sơn Nhất, tạo điều kiện cho ta giữ mối liên lạc trực tiếp giữa đoàn đại biểu CPCMLT với Hà Nội, mặt khác và là điều hết sức quan trọng, nó là cái bàn đế vững vàng giữ cho sự tồn tại và họat động của BLHQS 2 bên Trung Ương và sau khi ta quyết định đình chỉ các cuộc họp và họat động liên hợp nó vẫn đảm bảo cho các đoàn đại biểu của ta đứng vững ở vị trí của mình và tiếp tục đấu tranh cho đến ngày cuối cùng thắng lợi.

        Ý nghĩa lớn về vai trò và tác dụng của Tổ LHQS bốn bên chính là ở chỗ đó.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #342 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 03:31:53 pm »


LIÊN HỢP QUÂN SỰ
VÀ VIỆC THÁO GỠ MÌN Ở MIỀN BẮC

Huỳnh Văn Trình - Nguyễn Văn Cẩn                
       
        Sẽ là không đầy đủ khi nói về Liên hợp quân sự 4 bên vật 2 bên trong thi hành Hiệp định Paris mà không đề cập đến một mặt công tác liên hợp quan trọng: "tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá hủy mìn ở vùng biển, các cảng, sông ngòi VNDCCH", theo Nghị định thư của Hiệp định. Thi hành Hiệp định là một tổng thể liên quan mật thiết và ràng buộc lẫn nhau.

        Nghị định thư đã quy định: Hoa kỳ sẽ quét sạch tất cả mìn mà Hoa Kỳ đã thả xuống vùng biển, các cảng, sông ngòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tham gia tích cực với hết khả năng của mình vào việc quét sạch mìn cùng với sự cung cấp của Hoa Kỳ về phương tiện để xác định vị trí, phương tiện cứu vớt, phá hủy mìn và sự hướng dẫn kỹ thuật. Thời gian bắt đầu vào 24 giờ (GMT) ngày 27/1/1973. Đại diện 2 bên gặp nhau ngay để thỏa thuận chương trình, kế hoạch thực hiện, thời gian phấn đấu hoàn thành sớm nhất việc quét sạch mìn.

        Ngày 29/1/1973, đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (đoàn A) do Thiếu tướng Lê Quang Hòa làm trưởng đoàn rời Hà Nội vào Sài Gòn bằng 2 máy bay C130 của Mỹ. Ngày 02/02/1973, Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn (Đoàn B) rời Lộc Ninh ra Sài Gòn bằng máy bay trực thăng của Mỹ. Ngay chiều 02/02/1973 chính thức khai mạc phiên họp đầu tiên các trưởng đoàn Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt nam Cộng hòa.

        Sau mấy ngày các đoàn A, B ổn định vị trí ăn ở tại trại Đavis, triển khai hoạt động hết sức khẩn trương; ngày 05/02/1973, Mỹ thực hiện chuyến bay liên lạc đầu tiên hàng tuần của Đoàn A ra Hà Nội bằng máy bay C130. Tôi, Trung tá Huỳnh Văn Trình, ủy viên đoàn A được cử mở đầu chuyến bay này với 2 nhiệm vụ. Một là ra báo cáo với lãnh đạo Quân ủy Trung ương và Bộ Ngoại giao tình hình về các mặt từ khi 2 đoàn A, B tiến hành cuộc hành quân thần tốc đặc biệt tiến về Sài Gòn. Hai là đưa đô đốc Canley ra Hà Nội thực hiện trách nhiệm việc tháo gỡ, phá hủy mìn ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng đi với tôi, có Thiếu tá Nguyễn Ngọc Tiên, phụ trách bộ phận bảo vệ đoàn A.

        Trên sân bay Tân Sơn Nhất, sáng 05/02/1973, lần đầu tiên tôi và đô đốc Canley gặp nhau, làm quen và cùng lên máy bay trước con mắt nể trọng, bàng hoàng của nhiều sỹ quan Mỹ - ngụy có mặt. Trong chuyến bay dài 3 giờ, 2 bên trao đổi về thi hành Hiệp định, đặc biệt ta tranh thủ giới thiệu về miền Bắc và Hà Nội. Để biểu thị sự tôn trọng và thiện trí đối với khách - từng là kẻ thù trong chiến tranh đô đốc Can ley mời chúng tôi vào ca-bin buồng lái của phi công để quan sát và theo dõi suốt cuộc hành trình. Mười một giờ ngày 05/02/1973, máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm trong một buổi sáng đầu xuân tươi đẹp. Do chỉ ở lại Hà nội trong 3 tiếng đồng hồ nên không ai được vào nội thành; các đồng chí Lê Quang Đạo, Hà Văn Lâu, Kinh Chi, Trần Thông sang tận sân bay.để đón chúng tôi, trực tiếp nghe và nhận các báo cáo đầu tiên, kể cả bản đồ, sơ đồ về tình hình chung ở Sài Gòn và hoạt động liên hợp quân sự 4 bên Trung ương. Tại sân bay, tôi đã giới thiệu lại đô đốc Canley cho đại diện đoàn đại biểu Hải quân Việt Nam là Trung tá Phạm Lâm để đón tiếp, mở màn cho hoạt động liên hợp tháo gỡ mìn.

        Thật là điều vinh dự đối với tôi được sống trong một ngày đáng ghi nhớ với hai sự kiện về hoạt động liên hợp quân sự, người đầu tiên trở ra Hà Nội, khai trương chuyến bay liên lạc hàng tuần, rút ngắn khoảng cách không gian, thời gian liên lạc giữa hai miền Nam - Bắc; đưa đô đốc Mỹ ra miền Bắc thực hiện nhiệm vụ tháo gỡ mìn - đánh dấu một thất bại nhục nhã của Mỹ, đền tội cho tội ác mà chúng đã gây ra.

        Đàm phán giữa hai Đoàn đai biểu Hải Quân Viết Nam và Mỹ. Các cuộc trình diễn, thực hành thực địa của Mỹ đều thất bại:

        Đàm phán hai bên được tiến hành với phía Việt Nam do Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái làm trưởng đoàn; phía Mỹ do đô đốc Canley. Địa điểm họp Ở khách sạn Duyên Hải, Hải Phòng và trên tàu Hải quân Mỹ neo đậu ngoài Vịnh Bắc Bộ.

        Phía Mỹ giới thiệu một số phương tiện và phương pháp rà phá thủy lôi, tiến hành cuộc trình diễn thực tế đầu tiên tại một điểm ngã ba sông Tam Bạc với các phương tiện mẫu gồm: một ca nô điều khiển từ xa, 3 ống thép mà Mỹ cho biết là thanh nam châm dài 6m, đường kính 0,30m, sơn màu da cam. Trình diễn đội hình triển khai: ca nô đi trước khoảng 20m, kéo theo các ống thép nối thành hàng dọc, mỗi ống cách nhau 5m đến 10m. Khi ca nô di chuyển độ 20 m kéo theo các ống thép đi được một đoạn ngắn, thì ca nô đứng yên, không tài nào chuyển động được nữa. Các vị sĩ quan Hải quân Mỹ cố gắng sửa chữa rất lâu, quát tháo ầm ĩ, mãi gần 12 giờ trưa vẫn không xoay chuyển được, đành kết thúc buổi trình diễn! Ra về, cán bộ, chiến sỹ hải quân ta nói vui: Bọn Mỹ làm một việc kẻo cày trả nợ mà cũng không xong; đây chỉ mới làm thử trên sông, môi trường yên tĩnh mà không kết quả thì ra thực tế ngoài biển còn rất nhiều phức tạp, khó khăn, làm sao mà rà phá được bom mìn !

        Về sau, Mỹ thực hành, thực tế tại hiện trường ở cửa Nam Triệu và một điểm ở Quân khu 4, bằng cách dùng máy bay trực thăng kẻo một cuộn dây điện có từ trường chạy trên mặt nước để rà phá thủy lôi. Việc này có làm nổ được vài quả thủy lôi nhưng lại làm hỏng một chiếc trực thăng!

        Sau đó, dừng lại toàn bộ công việc và những dụng cụ cũ thu hồi luôn. Tóm lại, phía Hoa Kỳ chẳng làm được gì nhiều trong thực hiện trách nhiệm của mình theo quy định của nghị định thư. Thật tức cười, một đất nước có trình độ khoa học tiên tiến, sản xuất ra vũ khí hiện đại hàng đầu thế giới như vậy, nhưng khi đưa trang bị đi rà phá chính những bom từ trường, thủy lôi hẹn giờ do mình sản xuất thì không kích nổ được và trở thành vô hiệu quả. Phải chăng đây là vấn đề kỹ thuật hay âm mưu?

        Hải quân ta hơn Mỹ trong rà phá bom mìn

        Ai cũng biết, trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, Hải quân nhân dân Việt Nam đã làm nòng cốt đánh bại chiến dịch phong tỏa bằng bom từ trường, thủy lôi trên sông, biển miền Bắc.

        Sau Hiệp định Paris, phát huy truyền thống đó, quân dân ta chủ động, sáng tạo với các trang bị kỹ thuật thô sơ, đã biết vô hiệu hóa, tháo gỡ, rà phá hàng ngàn thủy lôi, bom mìn của Mỹ thả xuống các cửa sông, cửa biển. Riêng lực lượng Hải quân ở các vùng, căn cứ, trong đó nòng cốt là Đội 8 công binh, Đoàn 171 Hải quân anh hùng, đã tháo gỡ, phá nổ hơn 2000 quả các loại, đảm bảo giao thông đường biển thông suốt, an toàn từ cuối tháng 6-1973.

        Cuộc đấu tranh giữa ta và Mỹ trong thực hiện Nghị định thư tháo gỡ, rà phá bom mìn của địch thả trên các vùng biển, cửa sông miền Bắc một lần nữa cho thấy Hải quân ta đã có tiến bộ quan trọng với trình độ khoa học kỹ thuật, có ý nghĩa to lớn về chính trị, quân sự, kỹ thuật, góp phần cùng quân dân miền Bắc đánh bại chiến tranh phong tỏa và phá hoại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Mỹ.
        
        
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #343 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 04:11:20 pm »

GIỜ PHÚT ĐÁNG GHI NHỚ
TRÊN SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT

Phạm Hồng                
       
        Vào những ngày giáp Tết, Sài Gòn vẫn rất nóng - 34,35 độ vào lúc giữa trưa. Song còn nóng hổi hơn nhiều, làm sôi sục cả thành phố này, là tin Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đáp máy bay đến sân bay Tân Sơn Nhất.

        Trên nhiều tờ báo Sài Gòn, chạy dài tít lớn: "Sau phần tư thế kỷ chờ mong, đây những phút nôn nao bước vô ngừng bắn"...

        "Tiếng súng không dập tắt được niềm hân hoan".

        Dọc đường từ sân bay về chỗ ở của hai đoàn (nguyên là một khu nhà của không quân Mỹ mang tên trại Đa-vít, cách sân bay 1 ki-lô-mét, trông ra đường Lê Văn Lộc), quân cảnh Sài Gòn đứng dày đặc hai bên, vẫn không che được những bàn tay kín đáo vẫy chào và những ánh mắt vui mừng của người dân Sài Gòn hướng về hai đoàn đại biểu. Bà con Sài Gòn trước đây đã nhìn thấy hình dáng anh chiến sĩ cách mạng trong cuộc tập kích chiến lược thần kỳ Mậu - Thân, giờ đây những chiến sĩ yêu quý đó lại hiện ra với tư cách Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, gọn ghẽ trong những bộ quân phục màu xanh; quân hiệu sao vàng trên nền nửa xanh, nửa đỏ lấp lánh. Các đồng chí trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nghiêm trang trong bộ quân phục mùa đông.

        Đúng 17 giờ ngày 1-2- 1973, một đoàn 7 chiếc máy bay lên thẳng của Mỹ lượn vòng trên sân bay Tân Sơn Nhất. Đây là đoàn máy bay lên thẳng đã bay lên vùng giải phóng Lộc Ninh (Bình Long) đón Trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng một số đoàn viên, về Sài Gòn dự cuộc họp 4 bên.

        Một đoàn xe ra sân bay Tân Sơn Nhất đưa đoàn về nơi ở gần Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Tất cả các sĩ quan Quân đội nhân dân, quân phục chỉnh tề, xếp thành hai hàng đứng đón. Khi xe vừa vào tới cổng, Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã tiến ra sát cổng chào đón.

        Hai vị tướng ôm nhau thắm thiết. Xúc động, phấn khởi, tự hào. Tiếng vỗ tay ran lên. Sự xúc động lớn đã phá vỡ cả hàng ngũ của những người chờ đợi. Đoàn đại biểu Quân giải phóng trên các xe tràn xuống; các đồng chí Quân đội nhân dân bước vội lên, ôm chặt lấy nhau, quấn quýt bên nhau, tay bắt mặt mừng. Các máy quay phim, máy chụp ảnh reo lên tí tách ghi lại hình ảnh hai vị tướng đứng bên nhau thắm thiết dưới lá cờ sao vàng trên nền nửa đỏ, nửa xanh và chân dung Hồ Chủ tịch. Một sĩ quan Mỹ đứng nhìn, để rơi cả điếu thuốc đang cầm tay. Một chị lái xe cho đoàn, người Sài Gòn, nhô người ra ngoài cửa xe ngoái đầu lại nhìn, xúc động. Viên sĩ quan Mỹ tới nhắc, chị mới khẽ ấn chân ga cho xe từ từ lăn bánh ra cổng. Một anh lái xe nói:

        -  Hôm rày, biết tôi đi lái xe cho đoàn, bà con lối xóm cứ bám hỏi: bà con nhờ tôi hỏi thăm mấy anh, chúc mạnh giỏi.

        Bên kia đường cái, mấy em bé Sài Gòn thả mấy con diều giấy mầu xanh đỏ ngày Tết, cho bay qua trên khu vực hai đoàn gặp nhau. Ngoài cổng, khách qua đường dồn lại ngày một đông. Các đội quân cảnh luôn miệng thổi còi inh ỏi, nhưng bà con vẫn cứ nán lại nhìn vào....

« Sửa lần cuối: 22 Tháng Tư, 2012, 09:47:23 am gửi bởi Tunguska » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #344 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 04:17:30 pm »


NGÀY ĐẦU TIÊN SAU HIỆP ĐỊNH PARI CÓ HIỆU LỰC

Nguyễn Văn Thuật (Nguyên TMT tiểu đoàn 81 đặc công – biệt động Sài Gòn- Gia định năm 1975)Thanh Tùng ghi                
       
        Đầu năm 1973, khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, tôi mới 25 tuổi, là trung đội trưởng thuộc đoàn K16 Đặc công Biệt động Sài Gòn chiến đấu tại vùng bưng 6 xã Thủ Đức (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là vùng sát nách Sài Gòn nên địch thường xuyên duy trì một lực lượng lớn quân với đủ các sắc lính, thường xuyên tổ chức càn quét chống phá cách mạng.

        Trước khi ký Hiệp định Pa-ri , mỗi cán bộ chiến sỹ đặc công biệt động chúng tôi đều đã được phát cho một cuốn sổ nhỏ cỡ 10x12 cm đăng toàn bộ nội dung Hiệp định và tổ chức học thuộc lòng. Vì vậy khi Hiệp định được ký và có hiệu lực, chúng tôi đã nắm rất chắc nội dung. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố, xảo quyệt, ngụy quyền Sài Gòn âm mưu lợi  dụng thiện chí của ta để lấn đất giành dân, xóa thế “da báo”. Vì thế , ngay ngày đầu tiên Hiệp định có hiệu lực, địch đã vi phạm.

        Mờ sáng hôm ấy, trung đội do tôi làm trung đội trưởng và đồng chí Nguyễn Tất Thắng, chính trị viên trung đội, được lệnh chốt giữ đoạn đường qua ấp Tam An xã Long  Trường. Tiếng là một trung đội nhưng chỉ có 7 người, trang bị chỉ có súng AK, 2 khẩu B41. Chúng tôi cắm hai đầu đường hai lá cờ giải phóng, đồng thời đặt 2 quả mìn ĐH hướng ra hai phía ngoài. Toàn bộ trung đội triển khai phục kích địch ở bên phía phải đường từ đồn Ông Nhiêu sang Long Trường. Nhà chị Tám Cờ, một cơ sở cách mạng của chúng tôi. nằm khá gần đường trở thành “hậu cứ” của trung đội. Trung đội làm xong công tác chuẩn bị thì trời mờ sáng. Khỏang 4 giờ, có một chiếc xe Jeep từ hướng đồn Ông Nhiêu tiến tới, trên xe có khoảng 5,6 tên, phía sau còn có một tốp lính khoảng 10 tên chạy bộ theo. Khi đến cách lá cờ của ta khoảng 30m  chúng bắn 1 băng AR15 và lớn tiếng hỏi:

        -  Cờ có chủ hay không?

        Từ vị trí phục kích, đồng chí Thắng bắn một loạt AK và trả lời:

        -  Cờ có chủ

        Tôi tiếp lời:

        -  Hiệp định Pa-ri đã có hiệu lực, quân đội hai bên ở đâu, ở nguyên vị trí của mình, cấm hành quân lấn chiếm. Yêu cầu sỹ quan, binh lính quân đội Sài Gòn trở về vị trí của mình.

        Bọn địch lừng khừng rồi đành quay xe trở về cầu Ông Nhiêu. Sau này, tôi mới biết, từ đêm qua, một bộ phận quân địch ở đồn Ông Nhiêu đã triển khai quân chiếm giữ ấp Long Trường và khi chúng tôi căm cờ ấp Tam An, chúng bị kẹt lại ở đó không chi viện cho nhau được và cũng không rút về đồn được. Tốp lính này có ý định thăm dò phía ta và chi viện cho đồng bọn ở Long Trường.

        Khoảng 1 giờ sau, bọn địch ở hướng Long Trường (có lẽ khoảng trên 50 tên) được sự chi viện của ba chiếc trực thăng hùng hổ định kéo về khu vực của ta chiếm giữ. Khi chúng vào gần lá cờ của ta tôi hô to:

        -  Hỡi binh lính quân đội Sài Gòn, Hiệp định Pa-ri đã có hiệu lực yêu cầu các ông về vị trí của mình”

        Đồng thời tôi dõng dạc ra lệnh:

        -  Các đơn vị vào vị trí sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng!

        Tôi vừa dứt lời đồng chí Thắng bắn chỉ thiên 1 tràmg AK. Do không phán đoán được lực lượng của ta có bao nhiêu “đơn vị” nên địch cũng ngán. Bọn địch bắn mấy quả M79 cùng mấy tràng AR15 vào hướng chúng tôi rồi rút quân.
      
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Ba, 2012, 04:25:45 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #345 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 04:22:29 pm »

        Biết còn phải giằng co với địch lâu chúng tôi thay nhau vừa trực sẵn sàng chiến đấu, vừa vào nhà chị Tám Cờ tranh thủ ăn cơm trước do chị phục vụ.

        Đến gần trưa cỡ khoảng 9 giờ có một tên thượng sỹ vác 1 khẩu AR15 đi từ hướng Long Trường vào, đồng chí Thắng ra lệnh cho anh em tiếp tục theo dõi không được bắn. Đợi cho hắn lọt vào giữa đoạn đường tôi bước ra chặn hắn:

        -  Đi đâu? Đứng lại!.

        Hắn vừa cố trấn tĩnh vừa lúng túng trả lời:

        -  Thưa ông, chỉ huy chúng tôi muốn mời chỉ huy các ông sang bên đó để nói chuyện.

        Sau một hồi đắn đo cân nhắc chúng tôi quyết định cử người ra gặp và tôi xung phong đi, đồng chí Thắng sẽ thay tôi chỉ huy anh em chiến đấu đến cùng, nếu địch giở trò. Sau đó tôi xuống con rạch sau nhà chị Tám gột rửa quần áo cho sạch sẽ, chải tóc gọn gàng vì tôi nghĩ đi vào chỗ địch là đi vào “miệng hùm hang sói” để đấu tranh với chúng phải đàng hoàng chững trạc, nếu có chết thì phải chết thật hiên ngang trước quân thù. Căn dặn anh em cách xử trí mọi tình huống xong, giắt khẩu K54 vào thắt lưng , tôi bước lên đường.
   
        Khi tôi đến điểm hẹn bọn địch chĩa súng vào, tôi bước xuống bảo chúng:

        - Tôi đã vào tận đây tức là không hề sợ chết, các anh có cần chĩa súng vào người tôi như vậy nữa sao?

        Chừng như thấy tôi không có gì nguy hiểm, chúng hạ súng xuống. Tôi tranh thủ làm công tác địch vận và tới gặp tên chỉ huy.
   
        Tôi nhận ra ngay chính là đại úy Tư Am, đồn trưởng đồn Ông Nhiêu. Năm đó hắn cỡ khoảng 35 tuổi. Đối với cánh lính đặc công K16 chúng tôi đã nhiều lần chạm mặt hắn nhưng bây giờ mới nói chuyện với hắn. Tôi hỏi:
   
        - Ông mời tôi sang đây có việc gì?
   
        - Tôi yêu cầu ông rút quân lên rừng, nếu không tụi tôi sẽ tiêu diệt.

        Cũng có thể lúc đó hắn cho rằng chúng tôi chỉ biết đánh đấm chứ không biết gì nhiều về tình hình chính trị, nhất là về Hiệp định Pa-ri, nên nói vậy để thăm dò vừa hù dọa chúng tôi.
   
        - Ông nhầm rôi – Tôi đáp – Hiệp định Pa-ri đã ghi rõ: Quân đội hai bên giữ nguyên vị trí của mình không được hành quân lấn chiếm lẫn nhau. ấp Tam An là vùng giải phóng thuộc quyền kiểm soát của chính quyền cách mạng. Chúng tôi yêu cầucác ông nghiêm túc chấp hành Hiệp định. Chúng tôi luôn tỏ rõ sự thiện chí thi hành Hiệp định nhưng nếu các ông vi phạm thì các ông phải chịu mọi hậu quả do các ông gây ra.

        Cứ thế tôi và hắn vừa đi đi, lại lại quanh chiếc bàn gỗ đặt giữa nhà, vừa đấu lý lẫn nhau. Đấu lại với những lý luận sặc mùi tâm lý chiến và thái độ ngỗ ngược của hắn là những hiểu biết chính trị, quan điểm lập trường của Đảng ta và nội dung cụ thể của Hiệp định Pa-ri. Tôi tranh thủ tuyên truyền đến tụi lính đứng nghe xung quanh. Sau gần hai tiếng đồng hồ căng thẳng như vậy, biết chẳng thể lay chuyển được tôi, trong khi bọn lính than thở với nhau : đói , mệt, cuối cùng hắn xuống nước, lật bài ngửa: đề nghị tôi cho phép dẫn quân qua ấp Tam An.
   
        - Tôi sẵn sàng cho phép quân của ông đi qua ấp Tam An với điều kiện ông phải tập hợp thành hai hàng dọc vác súng lên vai, đi dưới sự kiểm soát của tôi – Tôi đáp và không quên dặn hắn: Quân của ông chỉ được phép nhìn thẳng, cấm ngó nghiêng.
   
        Ngay sau đó, tên Am tập hợp toàn bộ quân của hắn lên mặt đường, tôi đếm tất cả có 83 tên.
   
        Sau đó chúng tôi tiếp quản luôn đoạn đường chạy qua ấp Long Trường và bám trụ đến tối thì được lệnh rút quân. Ngày đầu tiên sau Hiệp định Pa-ri ở cụm chiến đấu chúng tôi không diễn ra những trận đánh ác liệt như các nơi khác nhưng với lực lượng rất nhỏ so với địch, chúng tôi vẫn giữ vững trận địa. Chẳng những thế còn mở rộng được vùng giải phóng, thể hiện lập trường ý chí trước kẻ địch. Với tôi , đó là một ngày đầy căng thẳng. Lần đầu tiên, tôi – một cán bộ quân giải phóng, vào giữa trận địa địch đấu tranh chính trị với chúng trong bao nguy hiểm bất trắc có thể xảy ra và tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.

« Sửa lần cuối: 18 Tháng Ba, 2012, 04:30:23 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #346 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 04:38:19 pm »


NGÀY TRỞ VỀ

Đại tá Hà Cân                
             
        Khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký tắt ngày 23 - 01 - 1973, nhóm cán bộ quân sự chúng tôi được phổ biến là cuộc họp trù bị của Ban liên hợp quân sự (BLHQS) để bàn việc triển khai Hiệp định không họp ở Pari mà sẽ họp tại Sài Gòn. Chúng tôi thu xếp để trưa ngày 27/01/1973 trở về Sài Gòn.

        Mỗi người chúng tôi có hai va ly nên còn rộng chỗ, đoàn ta ở Pari tranh thủ gởi thuốc tây về nước. Đây là các loại thuốc do Việt kiều và các bạn quốc tế quyên góp tặng đoàn. Va ly của tôi đựng một nửa là thuốc.

        Trong lúc hai đoàn ta gồm đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) và đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) chuẩn bị ra phòng họp ở phố Kléber dự lễ ký kết Hiệp định Pari thì chúng tôi chuẩn bị ra sân bay Orly để đáp máy bay về Sài Gòn.

        Ra đến sân bay, gặp đoàn VNDCCH do đồng chí Lưu Văn Lợi dẫn đầu. Đoàn CPCMLTCHMNVN do đồng chí Đặng Văn Thu (Đoàn Huyên) làm trưởng đoàn.

        Cả hai đoàn ta vào một phòng đợi nhỏ, thấy có đồng chí phó đoàn Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế và một trung tá Mỹ (trung tá Adams) là những người sẽ cùng đi với chúng tôi. Trung tá Adams mặc thường phục, demi-saison, áo màu xanh sẫm, quần màu "bê". Chúng tôi đã quen với ga hàng không Gia Lâm của ta luôn vắng teo, giờ đây trước cảnh hoạt động nhộn nhịp của Orly làm chúng tôi rất lạ mắt.

        Đến giờ ra máy bay, mọi người lên tầng trên, đi quanh quéo theo một hành lang có chấn song như kiểu xếp hàng mua bia ở Hà Nội, rồi đến chỗ bàn cảnh sát cửa khẩu trình hộ chiếu. Cảnh sát cửa khẩu là một ông da đen. Cuối cùng lại xuống thang gác, ra sân lên mô tới tàu bay. Cái quy trình này còn thô sơ so với bây giờ, nhưng đối với những anh em chưa quen đi nước ngoài bằng máy bay thì rất lạ lẫm.

        Lên máy bay B.707 của hãng An France, một cô chiêu đãi viên người Nhật mặc ki-mô-nô đứng cúi đầu chào khách bằng tiếng Pháp và tiếng Nhật. Mỗi hàng có sáu ghế nhưng vé không ghi số, tôi chọn ghế ngồi gần cửa sổ để nhìn ra bên ngoài, khách đi chuyến này có nhiều quốc tịch.

        Lúc máy bay sắp cất cánh, cô chiêu đãi viên đã thay đồng phục gọn gàng bằng dạ xanh, đi hướng dẫn khách cài đai an toàn. 11giờ30 cất cánh. Trời hơi nhiều mây nên chỉ nhìn Pari một lát, đến độ cao khoảng 300 mét máy bay đã chui vào mây, loa phát thanh thông báo chặng hạ cánh sắp đến là Nice. Càng bay về phía Nam, trời càng tết dần lên. Miền Nam nước Pháp trời nắng đẹp. Núi non nhiều. Những hồ chứa nước, mương máng dẫn nước trông rất rõ. Chẳng mấy chốc đã thấy Địa Trung Hải xanh rờn. Máy bay lượn ra phía biển rồi hạ cánh xuống đường băng sát mép nước. Cannes, Nice, Monaco ba thành phố liền nhau sát biển. Phía sau lưng là núi. Cảnh thật đẹp. Nước biển trong xanh như nước hồ bơi, tên vùng này là "Côte d'Azur" (bờ biển xanh da trời) thật đúng. Biển xanh, trời cũng trong xanh. Thảo nào lúc chuồn sang Pháp, nhà vua sành ăn chơi Bảo Đại đã tậu nhà ở Cannes.

        Bắt đầu từ đây, bay trên Địa Trung Hải. Đến chiều, hạ cánh xuống Athenes (Hi Lạp). Thành phố trên bờ biển, có nhiều biệt thự. Sân bay không lớn lắm. Từ đây, khách được yêu cầu không rời máy bay vì khu vực này "không tặc" thường hoạt động. Rời Athenes một lúc thì trời bắt đầu tối. Hạ cánh Ở Beyrouth (Li Băng) lúc trời tối lắm rồi, không biết mấy giờ.

        Ban đêm, chẳng có cảm giác gì ngoài cái bụng vẫn bị đáy hơi và buồn ngủ, cho đến khi nghe giọng cô phát thanh báo sắp đến Karasi.

        Chữ "KARASI" bằng đèn nê-ông đỏ trên nóc nhà ga hiện ra. Thế là chúng tôi đã đến Pakistan. Trời bắt đầu nóng.

        Chặng tiếp sau sẽ là Bangkok. Lúc trời sáng, nhìn rõ các cửa sông ở phía Tây của Thái Lan. Sỹ quan liên lạc Mỹ báo là chúng tôi sẽ xuống Bangkok rồi đi máy bay khác về Sài gòn vì chuyến bay này không ghé lại Sài Gòn. Sau này, tôi không kiểm tra được xem có đúng lịch bay của chuyến này không hạ cánh Sài Gòn, nhưng những diễn biến tiếp theo đủ cho thấy đây là sự sắp đặt từ trước. Họ tránh không để mấy ông Việt Cộng xuất hiện ở sân bay dân sự Tân Sơn Nhất ?...

        10 giờ 30 ngày 28/1/1973, đến sân bay Dân Mương (Bangkok). Sân bay trông vừa phải, không to lắm, địa hình bằng phẳng, không có núi xung quanh. Nắng ấm, khô ráo. Nhìn thấy một số máy bay F5 đậu ở sân, trông nhỏ xíu.

        Chúng tôi xuống máy bay, đi vào ga. Hai hàng quân cảnh Thái Lan mặc theo kiểu Mỹ, áo quần màu xanh đen, mũ nhựa Mỹ sơn chữ trắng, chữ Thái nhưng rập khuôn theo kiểu chữ "MP" trắng của quân cảnh Mỹ. Một thiếu tá Mỹ tên là Cobbs và một phiên dịch, hạ sỹ Rousseau ra đón. Một số quan chức Thái Lan và một số phóng viên hãng AP (Mỹ) cũng ra đón.

        Họ mời chúng tôi vào phòng khách nghỉ, uống nước. Quan chức Thái Lan tiếp chuyện hai trưởng đoàn ta, có mấy phóng viên đến phỏng vấn. Cảnh sát Thái Lan đến tận nơi làm thủ tục quá cảnh. Thái độ tử tế. Quân cảnh đứng bên ngoài nhìn chúng tôi và mỉm cười. Đội quân thân Mỹ này tỏ ra không ác cảm với chúng tôi.

        Sỹ quan liên lạc Mỹ báo là có hai chiếc máy bay C47 của không quân Sài Gòn lên đón chúng tôi.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #347 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 04:52:07 pm »

        Mấy sỹ quan không quân nguỵ miền Nam mặt lạnh như tiền, chúng tôi chào hỏi, họ im thin thít. Có lẽ lần đầu xáp mặt với "V.C", họ chưa biết thế nào(?) Người lái chính mạng quân hàm thiếu tá. áo quần bay kiểu Mỹ: áo liền quần màu xanh sẫm xám, đội calô xanh, đeo phù hiệu sư đoàn 5 không quân nguỵ. Chất xong va ly lên hai chiếc C47, máy bay cất cánh lúc 12 giờ. Vừa ngồi máy bay phản lực 850km/giờ, cách âm, cách nhiệt, ghế nệm giờ chuyển sang ngồi C47 trên dãy bục bằng duya-ra dọc theo thân máy bay cà là khổ, động cơ rung ầm ầm. Trời lại nhiều mây tích (Cu) nên máy bay xóc mạnh, thỉnh thoảng sỹ quan liên lạc Mỹ từ trong buồng lái ra thông báo: đã vào biên giới Campuchia, gần đến Phnôm Pênh, đến biên giới Việt Nam. Nhìn xuống đất, hai biên giới Việt Nam - Camphuchia chẳng có gì để phân biệt rõ ràng. Đang mùa khô, ruộng đồng màu vàng, nhiều nơi đang đốt rơm rạ trên cánh đồng.

        Khi được báo đến Tân Sơn Nhất, tôi nhìn ra ngoài thấy sân bay bên tay phải, có hai đường băng. Máy bay tiến vào hạ cánh từ đầu phía Đông. Căn cứ không quân này khá lớn. Bên ngoài hàng rào sân bay, xe môtô chạy nhiều. Đài kiểm soát không lưu là vật thể nổi nhất rồi đến hàng dãy nhà vòm để các loại máy bay nhỏ, F5 và trực thăng. Máy bay chở chúng tôi lăn vào đậu trước nhà ga quân sự, ngăn cách với ga dân sự bằng một bức tường chắn bằng sắt ưốn hình chữ U.

        Chúng tôi chỉnh đốn lại áo quần cho chỉnh tề, chuẩn bị xuống máy bay. Cảnh sát mật vụ, nhân viên an ninh đeo máy ảnh bâu quanh máy bay. Một thượng sỹ cảnh sát nguỵ, đeo biển tên "Ê" trên ngực, cầm một xấp giấy nhập cảnh leo lên máy bay:

        -  Thưa quý vị, theo luật lệ của Việt Nam Cộng hoà, xin mời quý vị kê khai làm thủ tục nhập cảnh.

        Hai trưởng đoàn ta từ chối việc làm thủ tục nhập cảnh. Thế là bắt đầu giằng co. Một đại uý cảnh sát tên là Đức lại leo lên:

        -  Theo thể lệ của Việt Nam Cộng hoà, quý vị phải làm thủ tục nhập cảnh, nếu không, quý vị không được rời máy bay...

        Bên ta vẫn từ chối:

        -  Chúng tôi đến đây là theo các điều khoản của Hiệp định Paris cho nên không có việc làm thủ tục nhập cảnh.

        Ê và Đức thay nhau lên đứng ở cửa máy bay. Trang phục cảnh sát ngụy: quần xanh thẫm, áo sơ mi trắng, lon cấp bậc đeo ở vai áo.

        Các tay săn ảnh chờ cái phút mấy ông Việt cộng bước xuống máy bay để bấm máy ảnh, nhưng chờ quá lâu, họ bắt đầu tản đi, một số vẫn ngồi chờ. Chắc chắn trong số này, những tên bám chặt nhất đều là tụi an ninh, mật vụ...

        Đến nửa chiều, một đồng chí Ba Lan trong Uỷ ban quốc tế ở Sài Gòn ra gặp đoàn trao đổi tình hình. Hai đồng chí trưởng đoàn (miền Bắc và miền Nam) viết điện báo cáo tình hình về Trung ương, nhờ đồng chí Ba Lan chuyển. Đồng chí phó đoàn Ba Lan cùng đi với chúng tôi từ Paris vẫn ở lại trên máy bay mặc dù đồng chí ấy có thể rời máy bay bất cứ lúc nào, đồng chí muốn ở lại cùng chúng tôi trong những giờ phút rắc rối khi mới đặt chân đến Sài Gòn.

        Đang ở Paris trời lạnh, nay ngồi trên máy bay một buổi chiều dưới cái nắng gay gắt của mùa khô miền Nam ai cũng toát mồ hôi. Đã đóng bộ comple vào để chuẩn bị xuống máy bay, bây giờ phải cởi áo veston, tháo cà vạt... Khoảng 3 giờ chiều, có mấy anh ở hai đoàn Bắc, Nam đến Tân Sơn Nhất trước chúng tôi (đi cùng các thành viên Hungari và Ba Lan trong Uỷ ban quốc tế) lên máy bay gặp chúng tôi. Một người mặt xương xương, đội mũ cối, đeo quân hiệu Quân giải phóng được giới thiệu là đồng chí Võ Đông Giang. Hai người mặc quân phục quân đội nhân dân Việt Nam là trung tá Nguyễn Đôn Tự và thiếu tá Phạm Hồng.

        Trời gần tối, tình thế vẫn không thay đổi. Bọn nguỵ quyền cho cảnh sát dã chiến canh gác xung quanh chiếc máy bay có chúng tôi trên đó. Chúng đưa tới bốn cái đèn chiếu rọi vào máy bay. Mỹ cho mang đồ ăn đến, loại khẩu phần dã chiến đựng trong loại hộp các tông. Chúng tôi vẫn kiên quyết không làm thủ tục nhập cảnh. Hai tên cảnh sát đứng mãi cũng chán đã chuồn mất. Đám phóng viên giả, mật vụ vẫn đứng lố nhố dưới sân ga. Tên sỹ quan liên lạc Mỹ cũng đã chuồn, chỉ còn hai đoàn chúng tôi với đồng chí đại sứ Ba Lan từ Paris về.

        Ngày 28/01/1973, ngày Hiệp định Pari có hiệu lực là như vậy đó. Ngay giờ đầu, ngày đầu đã thấy bộ mặt lật lọng cửa Mỹ nguỵ.

        Đêm, chúng tôi ở lại trên máy bay, chia nhau kẻ thức, người ngủ. Nhìn ra bên ngoài, đám gọi là "phóng viên" cũng lăn ra vỉa hè nhà ga quân sự nằm ngủ hoặc ngồi tán dóc. Việc vệ sinh cá nhân, mọi người sử dụng cái toi-lét ở đằng đuôi máy bay C47.

        Chúng tôi sẵn sàng kéo dài cảnh bị bao vây trên máy bay chứ không nhượng bộ. Đêm Tân Sơn Nhất đầu tiên khá dài. Ai nấy đều nóng ruột chờ đến ngày mai xem chúng nó còn giở thủ đoạn gì nữa.

        Sáng ngày 29/01/1973, hai đồng chí trưởng đoàn ta đề nghị đồng chí đại sứ phó đoàn Ba Lan cứ rời máy bay về thành phố, thay mặt anh em hai đoàn ta, đồng chí Lợi và đồng chí Thu cám ơn đồng chí đại sứ đã ở lại với chúng tôi cả ngày và đêm qua.

        Khoảng 9 giờ sáng, sỹ quan liên lạc Mỹ đến, mang theo công hàm của Mỹ và nguỵ trong Ban liên hợp quân sự phản đối hai đoàn ta đã không đến họp đúng giờ! Đúng là một trò hề bẩn thỉu. Đã không cho người ta xuống máy bay lại còn phản đối không đi họp đúng giờ...

        Lập tức, hai đồng chí trưởng đoàn ta gọi sỹ quan liên lạc Mỹ ghi công hàm của ta phản đối mang về cho "sếp" của họ.

        Lính Mỹ đi lại tấp nập, da đen, da trắng, lính Nam Hàn.., mang lỉnh kỉnh đồ đạc để chuyển quân.

        Đến trưa, một đoàn xe Ford đen có cắm cờ trắng(!) chạy ra đậu trước sân ga quân sự Tân Sơn Nhất. Sỹ quan liên lạc Mỹ đến báo là mọi thủ tục đã dàn xếp xong, mời các ông về trại Davis. Anh Thu nhìn thấy xe có cắm cờ trắng, gọi tên sỹ quan Mỹ lại bảo phải nhổ ngay. Tên sỹ quan Mỹ chống chế gượng gạo: "Tôi nghĩ rằng màu trắng là màu tổng hợp cửa các màu nên thích hợp hơn cả?"

        Thế là một trò đểu cáng nữa của Mỹ bị lật tẩy, các xe đều được vứt bỏ cờ trắng. Nếu không cảnh giác thì bị họ ghi bàn thắng rồi.(!)

        "Chơi" với Mỹ là như vậy đó ! Trò hề lố bịch hết chỗ nói !...

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #348 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 08:05:40 pm »




ĐỒNG CHÍ !

Nguyễn Trần Thiết                
       
        Một ngày đầu năm 1973, hơn trăm đồng chí trong đoàn tôi đều diện quân phục mới, đi giầy da mới, đội mũ kê-pi mới, xách va ly mới lân lượt lên xe buýt, mỗi người ngồi một chỗ trong trật tự, yên lặng. Chúng tôi nghe đả thông, được học tập nên đã tường hết tầm quan trọng và trách nhiệm lịch sử trong chuyến đi của mình. Chúng tôi là những sứ giả đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam có mặt công khai tại thành phố Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác ở miền Nam, nơi đang tôn tại ngót một triệu quân Mỹ, ngụy được trang bị vũ khí đến tận răng. Trừ mấy đồng chí cảnh vệ, còn chúng tôi đều không ai mang theo súng lục, dao găm song chúng tôi cần hoạt động trong vùng địch với tư thế của người chiến thắng!

        Đoàn xe đưa chứng tôi đến sân bay quân sự Gia Lâm. Vốn quen nhận dạng máy bay Mỹ ở các chiến trường, chúng tôi đều thốt lên "C130". Ai từng là lính trong những năm đánh Mỹ đều ghét cay, ghét đắng loại máy bay ở tầm cao, có cặp mắt trinh sát điện tử, bám mục tiêu đai hơn đỉa đói và chính những tên giặc lái loại "C130" đã thả bom, bắn phá các mục tiêu của Việt Cộng.. Bây giờ, chúng nằm chềnh ềnh tại đây Chỉ lát nữa thôi, những tên Mỹ to cao, da đỏ au, mũi lõ, mắt xanh lè sẽ phải phục vụ chúng tôi. Tôi ở cấp thiếu tá, được Đảng ủy quân sự Trung ương cũ định tham gia Đảng ủy khu vực. Cần Thơ với chức Tổ trưởng Sỹ quan liên lạc gắn trách nhiệm trực ban. Tôi đọc đến họ tên ai, đồng chí đó lên máy bay ngồi vào ghế xếp hàng dọc theo thân máy bay. Cũng như anh em, lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bay nên chẳng có kinh nghiệm gì. Tôi phổ biến cho anh em theo kiểu phòng xa: Nếu có ai say máy bay, bị nôn ọe, ta cố mửa vào hăng-gô, vào bi đông đừng làm bẩn máy bay đối phương.

        Chưa đến hai giờ sau, chúng tôi đã có mặt ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tất cả hành khách đều an toàn, khỏe mạnh nhưng chúng tôi gặp trục trặc đầu tiên. Những tên cảnh sát ngụy, mặt đằng đằng sát khí ra lệnh buộc chúng tôi phải ở nguyên vị trí trong máy bay. Là sĩ quan liên lạc, tôi phải giao dịch với đối phương. Trông thấy một đại úy mặc quân phục giống các sỹ quan Hung-ga-ri cùng học với tôi ở học viện Quân chính Lê-nin tại Mát-scơ-va, tôi hỏi bâng quơ bằng tiếng Nga:

        -  Đồng chí! Có nói được tiếng Nga không?

        Người bạn chưa quen biết không hướng về phía tôi và giả bộ đang nói chuyện với bạn nội dung:

        - Chúng tôi đã báo cáo với ủy ban Quốc tế. Trưởng đoàn Việt nam đang can thiệp với phía Mỹ.

        Chừng nửa giờ sau, bọn cảnh sát ngụy phải cúp vòi, xuống thang. Đoàn của tôi được lệnh bay luôn đi Cần Thơ. Tại đây, địch tìm mọi cách gây khó dễ cho đoàn ta, ngăn cản không cho thợ điện, thợ nước, nhân viên nhà thầu tiếp tế lương thực, thực phẩm.., tiếp xúc với đoàn ta. Vì giữ nhiệm vụ tổ trưởng sĩ quan liên lạc nên tất cả các đoàn Mỹ, ngụy, các nhà báo nước ngoài và ủy ban quốc tế về đình chiến tại Việt Nam đến giao dịch hàng ngày, hàng giờ với tôi. Các đồng chí Ba Lan và Hung ga ri nói với tôi làl đã sang Liên Xô học ở Học viện Quân sự mang tên Phờ-run-de, trao cho tôi máy bộ đàm, dặn:

        - Đồng chí! Rất có khả.năng địch giở quẻ. Nếu gặp bất trắc, đồng chí gọi cho chúng tôi. Nếu đồng chí bị bắt hoặc không có điều kiện liên lạc, các bạn Việt Nam cần phát tín hiệu SOS ngay cho chúng tôi.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #349 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 08:05:52 pm »

        Tiếng đồng chí thốt lên trong hoàn cảnh này sao mà quá ư thiêng liêng. Bộ trưởng Quốc phòng của ba nước Việt Nam - Ba Lan - Hung-ga-ri không viết giấy giới thiệu, không gửi lời ủy nhiệm qua điện thoại mà chúng tôi tự chủ động gặp nhau, tự nghĩ cách cưu mang, đùm bọc, che chở lẫn cho nhau. Tình cảm đó, chúng tôi đã có trong thời gian tôi học ở Học viện Quân chính Lê-nin tại Mat-scơ-va từ 1961 đến 1964. Năm đó, sỹ quan các nước.Xã hội Chủ nghĩa cùng sống ở ký túc xá ở phố Ban- sai-a Pia-ra-gôp-skai-a. Cứ mỗi lần về phép chúng tôi lại mang quà dân tộc đãi nhau. Ta có món tủ là chả cuốn bánh đa. Từ chỗ chê, các bạn dần dần rất thích món nước chấm của Việt Nam được pha chế từ nước mắm Cát Hải. Tuy vậy không ai sài được món mắm tôm của ta. Còn nhớ, các ban.Mông Cổ đem sang bánh sữa ngựa. Trời ơi, bánh oi, ngậy tới mức không sao nuốt nổi. Trưởng đoàn Việt Nam nói tiếng Nga với bạn:

        -  Bánh ngon tuyệt!

        Nhưng đã vừa cười vừa nói tiếng Việt:

        -  Cố nuốt đi. Tao sẽ chửi tiên sư thằng nào nhăn mặt, nhổ bánh ra.

        Anh Ngọc Tú gỡ thế kẹt bằng cách lấy tờ báo gói toàn bộ bánh trên bàn. Bạn hỏi:

        - Mày làm gì thế?

        - Bánh này phải nhấm nháp với chè Tân Cương của Việt Nam mới thích hợp.

        - Chúng mày cứ ăn hết đi, chúng tao sẽ cho bánh khác. Hay là mày đem chè sang đây ta cùng uống.

        Chúng tôi nghĩ ra mỗi người một cớ để được rút lui trong trật tự. Thời đó, sỹ quan các nước Đông Âu lương cao, con nhà giàu nên không ai biết nấu ăn. Các bạn rủ ta đi nhảy đầm, giới thiệu gái cho ta nhưng ta chỉ cười, trả lời là: phong tục Việt Nam buộc người đã có vợ, có chồng luôn luôn chung thủy với nhau. Các bạn cười vang, kể cho chứng tôi nghe một dạng ngụ ngôn khá phổ biến ở Đông Âu: "Anh đàn ông nào đi an dưỡng là con cừu; để vợ đi nghỉ mát một mình là con lừa, còn trường hợp anh ta đi du lịch có một mình, anh ta sẽ là con sư tử. Sỹ quan Việt Nam sang Liên Xô học nên biến thành sư tử chứ không nên là những con cừu hiền lành, nhút nhát. Chúng tôi cười tìm cớ phản bác bạn.

        Hết 60 ngày, phái đoàn quân sự của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Mỹ buộc phải rút vê Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn. Các bạn Ba Lan - Hung-ga-ri nắm rất chặt tay chúng tôi, chúc:

        - Đồng chí! Hy vọng một vài năm nữa, đồng chí sẽ được quay lại tiếp quản Sài Gòn.

        Tôi đọc cho các bạn biết bài thơ chúc Tết của Bác Hồ nhưng không sao dịch nổi câu:
               
                                                        “Đánh cho Mỹ cút,
                                                       Đánh cho ngụy nhào”


        Tôi chỉ dịch đại ý câu thơ đó thôi vì tôi đã quên nhiều từ tiếng Nga và các bạn cũng không phải Nga chính cống. Dù sao, các bạn cũng hiểu hết ý nghĩa lời tiên đoán của Bác Hồ.

        Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi có mặt tại Sài Gòn. Trung tướng Nam Long, thiếu tướng Công Trang bảo tôi:

        -  Toàn bộ các thành viên trong nội các Dương Văn Minh có mặt ở tầng 2. Cậu lên phỏng vấn, viết bài cho độc giả báo QĐNĐ cùng đọc.

        Tôi như chuột sa chĩnh gạo, được tự do, thỏa mái hỏi cung hơn bốn chục vị từ thứ trưởng, bộ trưởng, chuẩn tướng đến phó thủ tướng, thủ tướng, phó tổng thống, tổng thống ngụy.

        Viết xong bài, tôi chợt nhớ đến các bạn ở Ban liên hợp quân sự 4 bên ở sân bay Tân Sơn Nhất. Thiếu tướng trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn cho đánh điện bài báo gửi ra Hà Nội. Chiều mồng 1 tháng 5 năm 1975, tôi thả bộ trên sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi nhận ra nơi gặp gỡ lần đầu với đồng chí đại úy Hung-ga- ri. Tuy đi một mình, tôi vẫn thốt lên:

        - Đồng chí! Tôi đã trở lại tiếp quản Sài Gòn. Di chúc Bác Hồ đã được thực hiện trọn vẹn.
     
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM