Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:04:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315362 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #360 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 10:50:12 am »


        ĐẢO PHÚ QUỐC

        Chiếc máy bay "chuồn chuồn" của Mỹ đang đưa đoàn ta ra đảo Phú Quốc. Tôi gọi chiếc máy bay đó là "chuồn chuồn" vì tôi thấy nó rất nhỏ, chỉ có 6 chỗ ngồi, cánh quạt quay tít và bay rất nhanh. Đoàn miền Bắc ngồi ở một chiếc, còn chiếc "chuồn chuồn" kia là phái đoàn Cách mạng miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đi một chiếc khác.

        Trên cao nhìn xuống, đảo Phú Quốc giống một bàn chân khổng lồ, có chiều dài 49 km. Phía Bắc đảo là rừng rậm, nghe đâu là căn cứ Cách mạng mà trong từng ấy năm địch không thôn tính được, phía Nam là cầu tàu và hàng chục trại giam. Lúc này là đầu năm 1973 và chỉ 4 năm sau (1977) tôi lại bay ra đảo để làm một phim về hòn đảo này. Việc trở lại đảo lần thứ 2 có nhiều kỷ niệm thú vị, tôi sẽ nói sau.

        Hai máy bay lăn trên đường băng và dừng hẳn. Phía Sài Gòn cho các xe Jeep ra đón nhưng vì các xe đều sơn cờ vàng 3 sọc đỏ, phái đoàn ta nhất định không chịu lên xe. Mục đích chuyến ra Phú Quốc lần này là để phái đoàn ta vào thăm các trại giam đang giam giữ các chiến sĩ ta.

        Một sĩ quan Cộng hòa nêu ra 1 ý kiến:

        - Có xe mà các quý ngài không chịu đi, từ đây đến khu trại giam khoảng 4 km, xa đấy! có lẽ chúng ta phải lội bộ thôi.

        Họ ngây thơ quả! Họ tưởng nêu ra việc đi bộ thì phái đoàn ta sẽ ngại và chấp nhận đi xe có cờ 3 sọc. Song họ lại không hiểu rằng các sĩ quan quân đội trong 2 phái đoàn miền Bắc và miền Nam nhiều người đã từng kinh qua 2 cuộc chiến tranh đánh Pháp và đánh Mỹ, đã từng đi bộ suốt dọc giải Trường Sơn, thì bây giờ đi bộ 4 km có khó khăn gì...

        Đồng chí Trung tá Tuấn Anh phụ trách đoàn miền Bắc phát biểu ngay:

        - Nào xin mời, chúng ta cùng đi bộ về trại giam.

        Tôi nhấc máy quay ra và nghĩ chắc được 1 cảnh hay đây. Tôi hình dung phái đoàn Sài Gòn và Hoa Kỳ sẽ nhễ nhại mồ hôi, thở phì phò, bên cạnh 2 phái đoàn của ta đi phăm phăm.

        Các sĩ quan đoàn Sài Gòn đứng im không nhúc nhích, cũng không thấy nói gì, chính họ mới là người sợ đi bộ. Có lẽ phái đoàn Hoa Kỳ cũng sợ đi bộ thì phải nên họ nêu ngay ra 1 ý kiến:

        - Xin các ngài đi xe của chúng tôi, chả sơn cờ nào cả, ta chịu ngồi chật 1 chút.

        Một giải pháp tình thế tốt nhất lúc này; nhưng tại sao khi ta phản đối không chịu lên xe có sơn cờ 3 sọc họ lại không nêu ra giải pháp này ngay? Có lẽ họ muốn xem thái độ ứng xử của phái đoàn ta với Sài Gòn ra sao.

        Trại giam đây rồi, đứng ở ngoài ngút tầm nhìn là hàng rào dây thép gai tầng tầng lớp lớp, chỉ có một lối đì hẹp và dích đắc chỉ đi được hàng một. Lớp hàng rào kẽm gai đó dày tới 50 mét.

        Đến cổng, viên Trung tá phụ trách trại giam nói với đoàn ta:

        - Xin mời các quý ngài vào, tôi xin lỗi vì ở trên thế giới đã có rất nhiều trường hợp người quản lý trại giam bị bắt cóc. Các ngài hiểu cho tôi còn vợ con và gia đình.

        Viên Trung tá phụ trách trại giam ra hiệu cho một người lính dẫn đoàn ta vào sân trại giam.

        Ống kính tôi bắt gặp 1 cảnh: trong một khu nhà mái tôn nền đất, các chiến sĩ ta đứng thành hàng nghiêm chỉnh, thấp thoáng có những chiếc mũ tai bèo, cũng có người vẫn mặc quần đùi.

        Một tiếng hô "nghiêm!", không khí im lặng, song không thấy người hô nghiêm tiến ra báo cáo như điều lệnh quân đội đã quy định khi gặp cấp trên, tôi vội gạt ý nghĩ này đi vì đây là trại giam mà đối phương đang giam giữ các cán bộ chiến sĩ của ta chứ đâu phải là đơn vị quân đội.

        - Các đồng chí và các bạn...

        Trung tá Tuấn Anh bắt đầu giới thiệu về Hiệp định Paris, về nhiệm vụ của các đoàn quân sự 4 bên, về mục đích tới thăm trại giam lấn này và về vấn đề trao trả tù binh.

        Tiếng xì xào nổi lên và hàng ngũ bắt đầu chuyển động.

        Những hình ảnh trong cuộc tới thăm trại tù binh ở Phú Quốc đã tạm đủ tôi vội đi các ngóc ngách trong trại. Vốn là phóng viên hay sục sạo mọi xó xỉnh, tôi liền tới nơi ngủ của các chiến sĩ ta bị giam giữ ở đây. Cả nhà là một dãy sạp gỗ liền nhau, đây đó vãn mắc những chiếc võng bằng vải trương và những mũ tai bèo mà những ai đi B trong chiến tranh đều có, những chiếc balô cóc xẹp lép vút trên giàn giá. Tất cả những đồ đạc này đã nói lên quá trình chiến đấu của các chiến sĩ ta, những người đang đứng trong hàng kia và đang uống từng lời trong lúc Trung tá Tuấn Anh của đoàn miền Bắc nói chuyện.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #361 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 10:51:56 am »


*

*         *

        Năm 1977 tức là 4 năm sau cuộc viếng thăm trại tù binh Phú Quốc, tôi lại bay ra đây làm phim về hòn đảo phía Tây này. Lúc ấy tôi có dịp đi từ thị trấn Dương Tơ lên Dương Đông. Ở Dương Tơ có cầu cảng, nhìn khu cầu cảng tôi chợt nhớ lại có lẽ hàng ngàn cán bộ chiến sĩ ta đã đi trên cầu cảng này để vào trại tù binh của địch. Còn ở thị trấn Dương Đông sầm uất có sân bay, nơi đó (1973) phái đoàn ta đã hạ cánh để đi vào thăm một trại tù binh.

        Thị trấn Dương Đông nằm sát ngay khu rừng rậm mà vào đó tôi có cảm giác đi trong rừng Trường Sơn, những cây gỗ to ba, bốn người ôm, trong rừng còn rất nhiều mìn ta gài lại, chưa kịp gỡ hết, điều đó giải thích rõ: phía Bắc đảo là căn cứ du kích kháng chiến của ta.

        Tôi vào một khu trại giam tù binh cũ. Bây giờ nó hoang phế vắng lặng, tôi như còn nghe rõ tiếng hô "nghiêm" của một đồng chí khi 2 phái đoàn miền Bắc miền Nam tới nói chuyện cách đây 4 năm. Trong mỗi trại giam ở đây bên phía hàng rào kẽm gai còn có những chỗ giam đặc biệt: nơi giam đứng thì không thể ngồi bởi vì khi khóa cửa lại, bức tường dây thép gai ép sát người như kẹp chả. Còn nơi giam ngồi thì lại không thể đứng vì bức tường dây thép gai đã đè sát đầu. Cả hai nơi giam này người bị giam đều phải chịu phơi năng, mưa.

        Lần làm phim này tôi dẫn theo đồng chí Phan Văn Cát người Nghệ An, nguyên tiểu đội trưởng, tù binh của địch năm xưa bị giam trong chính trại giam này. Anh đã cùng đồng đội dùng cái thìa bằng thép không gỉ để đào một đường hầm qua hệ thống hàng rào, tổ chức cho một số đồng chí trốn thoát về phía Bắc đảo. Mỗi tù binh được phát 1 hang gô có quai dùng để đựng nước, làm bát ăn và 1 chiếc thìa; hai thứ này đều là thép không gỉ rất cứng. Chính đối phương đã cung cấp thìa để các chiến sĩ ta biến thành xẻng đào hầm. Cuộc tào tẩu của các chiến sĩ ta đêm đó chỉ mới thoát được 14 người, đến người thứ 15 thì địch phát hiện được và bắt lại.

        Sáng hôm sau, địch cho bật tung đường hầm lên và trước mặt các tù binh, viên Trung úy Hoa Kỳ sau khi đe nẹt đã phải nói: "Dù sao tôi cũng phải cúi đầu kính phục tinh thần các ông!" (Đó là lời đồng chí Phan Văn Cát kể lại cho các chiến sĩ hải quân trên đảo nghe khi tôi tổ chức quay phim)

        Chỗ vết lõm của cửa đường hầm đào năm xưa còn đó, Phan Văn Cát còn kể rằng: Khi anh bị bắt làm tù binh thì ở quê nhà tổ chức làm lễ truy điệu cho anh vì anh đã trở thành "liệt sĩ" như giấy báo tử. Anh còn cho tôi xem 1 tấm ảnh trong lễ truy điệu ấy có 1 nữ du kích bồng súng đứng trước bàn thờ.

        Khi anh trở về địa phương, người nữ du kích ấy đã cùng anh nên nghĩa vợ chồng.

        Chuyện thật vui và cảm động đầy chất nhân văn. Chuyện về Phú Quốc còn nhiều, nhưng thôi sẽ làm mất thì giờ và mệt cho các anh khi đọc những dòng này.

        VỤ LỘN XỘN Ở CỔNG TRẠI ĐA-VÍT

        Một buổi chiều tôi thấy ở cổng trại Đa-vít nơi ở của cả 2 phái đoàn miền Bác và miền Nam, người đông lộn xộn cùng những tiếng cãi cọ, có cả người nước ngoài.

        Tôi xách máy quay chạy ra, tình huống lúc này là ở ngoài cổng các phóng viên của các báo và các hãng thông tấn muốn vào thăm phái đoàn ta, nhưng quân cảnh của Việt Nam Cộng hòa ngăn cản không cho vào. Tôi đứng phía trong hàng rào mắt cáo chĩa máy ra quay, tôi không thể ra ngoài để ghi  hình bởi một nguyên tắc ngoại giao theo tôi biết: phía trong cổng là luật của ta, còn phía ngoài cổng là luật của đối phương.

        Máy tôi đang quay xè xè thì một tiếng quát:

        - Quay gì? quay gì?

        Tiếp sau là một tiếng xoạch lên đạn. Tôi ngó qua hàng rào, một tên quân cảnh mặt hầm hầm đầy đe dọa. Tôi vẫn tiếp tục quay những rất hạn chế tầm nhìn vì có cổng che khuất, trong đầu tôi nghĩ: thách bố mày cũng không dám nổ súng. Nổ súng không phải là cá nhân mày nữa mà là quan hệ động trời của cả 2 phía: phái đoàn quân sự cách mạng và chính quyền Sài Gòn.

         Vụ lộn xộn này rồi đối phương cũng giải tán được.

        Tiếc quá, giá tôi được ra bên ngoài cổng thì sẽ quay được những cảnh sinh động hơn.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #362 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 10:55:48 am »


        CHÚNG TÔI GIỮ PHIM VÀ NGƯỜI MỸ CHUYỂN HỘ PHIM

         Ở trong trại Đa-vít tôi và anh Trán Duy Hinh đã gỡ ra một tấm ván trần nhà, nếu có tình huống đối phương hành hung thì 1 người đẩy thùng phim lên đó và đậy ván lại, còn 1 người phải dùng máy quay ghi lại những cảnh lộn xộn hành hung. Mặc dù chúng có thể đánh chúng tôi bị thương, nhưng những thước phim tố cáo đó là bằng chứng không thể chối cãi.

        Sau đó khi ở ngoài sân bay, nhất là về đêm, khi tôi quay xong cuộn phim nào tôi đều đưa cho 1 anh trong đoàn, rồi các anh chuyển cho nhau, ai giữ thì chính tôi cũng không biết, khi về tới nơi ở, cuốn phim đỏ được trả lại cho tôi và anh Hinh. Chúng tôi đề phòng nếu có bị chúng hành hung thì cũng chỉ có máy quay với một ít hình ghi dở thôi.

        Một việc mà chính hai người quay phim chúng tôi không ngờ lại trở thành sự thật:

         Khi quay phim quân đội Hoa Kỳ và chư hầu rút đi, đoàn miền Bắc có tôi (Nguyễn Khai và anh Trần Duy Hinh, đoàn miền Nam có anh Lâm Tấn Tài và anh Nguyễn Quế, nghĩa là những thước phim Mỹ rút quân chỉ có 4 người chúng tôi quay và những tấm ảnh của 2 anh Bùi Duy Ly, Hứa Kiểm ghi lại. Tuyệt nhiên không có bất cứ 1 phóng viên nào ngoài Ban Liên hợp quân sự 4 bên được phép có mặt. Những thước phim chúng ta độc quyền.

        Khi phim quay đã được ít ngày, chất liệu tốt, tôi bèn trao đổi với anh Ngô Thế Kỷ cán bộ thông tấn báo chí trong phái đoàn Cách mạng miền Nam: "Những mét phim mà cả 2 đoàn đã quay tập trung lại một mối, tôi sẽ gửi ra Hà Nội in tráng, nếu phim của đoàn miền Nam gửi về căn cứ miền thì phương tiện in tráng sẽ không được tốt bằng". Anh Ngô Thế Kỷ thấy hợp lý và tán thành.

        Thế là hàng tuần tôi đóng gói những cuộn phim đã ghi hình gìn phi công Mỹ ra sân bay Gia Lâm, ở đây đã có một thượng úy bảo vệ của Điện ảnh Quân đội nhân dân chờ sẵn, nhận về và tráng ngay. Những thước phim Ở Sài Gòn gửi ra, các anh điện vào là rất tốt và đã lệnh không được cắt đi 1 mẩu nào.

        Chả là hàng tuần có 1 chuyến máy bay ra Hà Nội để chở các đồ dùng tiếp tế cho phái đoàn ta. Người phi công Mỹ có lẽ cũng không nghĩ và không biết chính anh ta đã giúp chúng tôi đưa những hình ảnh quay quân đội Hoa Kỳ rút lui khỏi Việt Nam một cách nhanh chóng và trọn vẹn đến Điện ảnh Quân đội nhân dân. Riêng việc này xin cảm ơn người phi công Hoa Kỳ ấy.

        TÔI LÀ NGƯỜI MỸ CUỐI CÙNG

         Hôm nay là ngày cuối cùng quân Mỹ rút khỏi Việt Nam. Có lẽ là ngày "tháo khoán" họ mở cửa cho các loại phóng viên vào. Đông quá mức, có tới cả trăm người quay phim chụp ảnh, ghi chép. Họ quay tất cả những gì có thể quay được, thậm chí khi tôi rúc vào ôtô để thay cuộn phim mới họ vẫn ghé ống kính qua cửa để quay vì mấy khi gặp được "Việt cộng" vả lại bị cấm cửa mãi, hôm nay là ngày cuối cùng còn dịp nào nữa.

         Nhưng còn một cảnh quan trọng mà tôi cũng giống họ là ghi hình người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhất.

        Vòng trong vòng ngoài vây lấy cửa máy bay. Tôi người thấp bé nhưng mắc quân phục, tay đeo băng mầu da cam có số 4 màu đen đứng dạng chân, tay cầm máy quay; ý của tôi là không cho bất cứ thằng nào tiến lên phía trước che ống kính của mình. Cái thế của mình là người của Uỷ ban Liên hợp quân sự 4 bên nên các phóng viên có ý nể, tất cả họ đều ở phía sau tôi.

        Đây rồi, phút chờ đợi đã tới. Một xe con đỗ xích ngay cạnh cửa máy bay, 1 người Mỹ bước xuống giơ cao tay: - Tôi là người Mỹ cuối cùng.

        Một rừng máy quay và máy ảnh chớp liên hồi tưởng chừng người Mỹ đó như báu vật, không phóng viên nào còn chú ý đến việc khác nữa. Người Mỹ bước vào trong khoang máy bay, bây giờ chờ cánh cửa máy bay đóng sập lại thế là đạt yêu cầu một cảnh đẹp đẽ.

        Chờ mãi cửa máy bay không thấy đóng, anh lính Mỹ da đen ngồi đó nhe răng cười trắng ởn. Thôi rồi, họ lại lừa! Cả rừng phóng viên cũng cười và lại chờ đợi.

        Một xe con nữa lại lao tới. Vẫn 1 người Mỹ mặc thường phục:

         - Tôi mới là người Mỹ cuối cùng.

        Ông ta cũng bước nhanh vào khoang máy bay, và kìa vẫn thấy anh lính da đen cười tươi không nhúc nhích, nghĩa là cửa máy bay vẫn chưa đóng.

        Không biết còn vị nào tới và xưng "Tôi mới là người Mỹ cuối cùng" nữa đây? Thật là khôi hài theo kiểu Mỹ.

       Vậy ai là người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam ?

       Theo danh sách mà hai vị trung tá Mỹ Xlat-ca và Pơc-maitrao cho thiếu tá Đoàn Văn Diễn của Chính phủ CMLTCHMNVN có tên 3 đại tá Mỹ: đại tá Hem-ma, đại tá Ô-den của không quân và đại tá Nơn-đoóc tư lệnh căn cứ Tân Sơn Nhất.

        Còn người Mỹ cuối cùng là ai ? Đó là đại tá không quân Ô-đen, hắn đã lên máy bay từ trước nhưng lại nhảy xuống mở chai rượu vang tu từng hớp rồi lhoacs vai viên đại tá cảnh sát ngụy. Sau đó ZÔ-đen bước lên máy baycho nên hắn trở thành tên sĩ quan Mỹ cuối cùng rời khỏi Nam Việt Nam. Máy bay đóng cửa, thẳng hướng đông đi về Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

         Viết lại những chuyện vụn vặt cỏn con này, trong đầu tôi những hình ảnh về trại Đa-vít, về những hoạt động của Ban Liên hợp Quân sự 4 bên Trung ương lướt qua như một cuốn phim đây hình ảnh sống động. Song vì thời gian đã lùi xa, mà thời gian có một đặc tính khắc nghiệt là nó dần xóa nhòa đi những chi tiết, những ký ức. Vì vậy những mẩu chuyện nhỏ có thể sai lệch về địa điểm và thời gian hoặc tên các anh chưa đúng. Mong các anh thứ lỗi cho người viết.

        Hy vọng những mẩu chuyện nhỏ này làm các anh nhớ lại 1 quãng thời gian hào hùng trong Ban Liên hợp Quân sự 4 bên Trung ương.

       
9-2008         
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #363 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 11:15:12 am »


NHỚ LẠI SỰ KIỆN LY TÔN
ĐẠI TÁ HÀ CÂN                

        Ban Liên hợp quân sự bốn bên vừa kết thúc nhiệm vụ sau 2 tháng hoạt động, công việc được chuyển cho Ban Liên hợp quân sự hai bên (ta và nguỵ Sài Gòn) thì đoàn ta phải giải quyết ngay một vụ khá "đau đầư".

        Trưởng đoàn ta được mời đến họp với các trưởng đoàn quân sự trong Uỷ ban quốc tế để giải quyết một việc khẩn cấp: Một máy bay trực thăng UH1 của Uỷ ban quốc tế (U.B.Q.T) bị tai nạn rơi trong vùng giải phóng tỉnh Quảng Trị.

        Uỷ ban quốc tế yêu cầu ta tổ chức và bảo đảm an toàn cho đoàn U.B.Q.T gổm 4 nước đến chỗ xảy ra tai nạn để xác minh nguyên nhân và giải quyết hậu quả.

        Đoàn U.B.Q.T đến vùng Ly Tôn (phía Tây thị xã Quảng Trị), làm việc với chính quyền địa phương và sau cuộc họp đã ra thông cáo báo  chí được đưa ra:

         " Nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn là máy bay trực thăng của U B.Q.T đã đi lệch hành lang quy định 50km... ". Số người thiệt mạng gồm có: 1 đại uý Hunggari, 2 sỹ quan Inđonêxia, 2 sỹ quan của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN và tổ lái 3 người: 2 Mỹ, 1 Philippin. " (trích thông cáo báo chí... ).

        Báo chí Sài Gòn nhân dịp này đã công kích ta vi phạm Hiệp định mặc dù bản tụyên bố có chữ ký của 4 trưởng đoàn trong tổ U.B.Q.T khu vực 1 (Quảng Trị - Thừa Thiên) đã nêu rõ: "nguyên nhân tai nạn là do tổ  lái sai sót và không chấp hành những quy định đã được các bên thống nhất".

        Vài hôm sau, đại biểu Canada và Inđônêxia đề nghị đi điều tra lại vì theo họ, vị trí dỗ của chiếc trực thăng còn lại (hôm xảy ra tai nạn có 2 máy bay UH1 cùng bay) đã được di dời khỏi vị trí cũ, sâu vào phía vùng giải phóng(!).

        Tuy biết họ có ý định muốn lật lại vấn đề, lấp liếm sai sót của tồ lái nhưng đoàn ta, với thiện chí cộng tác tốt với U.B.Q.T đã đồng ý để các đại diện của U.B.Q.T trở lại chỗ xảy ra tai nạn để xác minh lần nữa và tổ chức đưa chiếc trực thăng còn lại, mang số hiệu 115, về Quảng Trị.

        Tôi được cử làm sỹ quan liên lạc của đoàn ta trong Ban liên hợp hai  bên Trung ương ở Tân Sơn Nhất cùng với một sỹ quan phiên dịch, có nhiệm vụ phối hơp với U.B.Q.T.

        Chiều 25/4/1973 chúng tôi ra đến sân bay Phú Bài rồi đi luôn ra Quảng Trị bằng xe ôtô. Sau gần 30 năm tôi mới trở lại Huế. Xung quanh sân bay là một vùng cát như sa mạc. Trời mưa lâm râm. Nhìn núi Ngự Bình mới thảm thương làm sao! Hòn núi làm nên vẻ đẹp thơ mộng của chốn sông Hương núi Ngư với rừmg thông vi vu đã trở thành một đồi trọc. Núi Ngự không có thông giống như cô gái Huế bị cạo trọc đầu!

        Xa Huế đã lâu, từ 1945, nay trở lại, cái nhận xét đầu tiên của tôi là Huế không còn đẹp như ngày xưn. Ngoài cầu Tràng Tiền, có thêm cầu Phú Xuân bằng bêtông. Dọc bờ sông từ Phú Vân Lâu trở lên cầu Bạch Hổ, các lều tạm bợ bằng tôn, vải bạt choán hết các bãi cỏ đẹp ven sông.

        Dọc hai bên đường có những khẩu hiệu chống cộng mà đoạn Triều Sơn là nhiều nhất.

        Ra khỏi Văn Xá là cảnh vắng lặng của vùng bị tác động của chiến tranh. Hai bên đường không còn nhà cửa, ruộng đổng bị bỏ hoang. Cầu Mỹ Chánh bị đánh sập để "cản đường tiến quân của quân giải phóng" đã được sửa tạm, có lính nguỵ đứng gác ở hai đầu cấu. Chẳng mấy chốc đã đến Quảng Trị. Thành cổ Quảng Trị chỉ còn là đống gạch vụn đúng với nghĩa đen của nó: Cả thị xã Quảng Trị không còn cái nhà nào đứng vững chỉ còn trơ lại vài bức tường chi chít vết đạn, còn thì dổ sụp hết. Đường xá mất dạng chỉ còn lổn nhổn gạch đá. Xe phải chạy qua đống gạch đá để ra bờ sông. Sông Thạch Hãn nước trong xanh, phía Quảng Trị bờ đứng, còn phía bên kia thoai thoải bãi cát. Chúng tôi xuống chiếc "ho-bo" (một loại xuồng máy quân sự của Mỹ) nhỏ sang sông. Mùa này nước sông chỉ hẹp vài chục mét. Lên bờ là đến "đất mình" rổi. Một đồng chí cán bộ quân giải phóng ra đón chúng tôi. Chỗ này đã là chỗ đón tiếp anh em bị dịch bắt được trao trả cho ta.

        Các thành viên tổ quốc tế ở Huế cũng ra đến nơi: đại tá Barcopski (Ba Lan), 1 đại tá và 1 thiếu tá Canada, 1 đại tá Inđônêxia, 1 trung uý Hunggari tên là Berentes.  Điều bất ngờ trung uý Berentes (bê-ren-tét) lại là chủ tịch của tổ quốc tế, điều khiển cả tổ có 3 ông đại tá! Lý do rất đơn giản là tuần này đến phiên Hunggany làm chủ tịch. Nhưng ông đại tá trưởng đoàn Hunggari  phải đi Sài Gòn chữa răng, ủy nhiệm trung uý Berentes thay thế!

        Cuộc họp bắt đầu bàn phương thức đi lên Ly Tôn, đến hiện trường. Đầu tiên, đại tá Canada đòi đi bằng máy bay lên thẳng theo đường ngắn nhất.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #364 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 11:22:15 am »

        Phương án này không thể chấp nhận được vì ai biết được bên dưới cánh rừng là gì. Tôi từ chối: không thể thông báo cho bộ đội chúng tôi, không an toàn, không được bay cắt ngang mà phải theo hành lang đã nhất trí. Không được chấp nhận, đại tá Canada đòi bay theo đường 9 đến Hương Hoá rồi bay rẽ theo đường ôtô vào Ly Tôn. Cũng không dược chấp nhận. Chính vì bay trinh sát con đường mới mở trong hệ thống đường Trường Sơn này mà một chiếc UH1 đã bị tai nạn. Không thể chấp nhận cho họ bay công khai xem con đường này một lần nữa. Kết luận là chỉ có đi lên Ly Tôn bằng ôtô mà thôi. Họ yêu cầu phải tổ chức chu đáo, bảo đảm an toàn. Bàn đến việc đưa chiếc máy bay còn lại về Quảng Trị, họ lại đề nghị dùng trực thăng loại lớn để cẩu về. Mình đã không chãp nhận việc đi lên đó bằng máy bay thì làm sao có thể chấp nhận việc đưa về bằng máy bay? Họ đành chịu chấp nhận đi và về bằng đường bộ, nhưng yêu cầu ta cung cấp xe tải lớn. Việc này không khó lắm, đây là "hậu phương" của ta.

        Nhất trí với nhau là để 1 ngày chuẩn bị và sẽ lên đường sáng ngày hôm sau.

        Chúng tôi về nghỉ ở trụ sở ta ở Gio Linh, tồ U.B.Q.T trở về Huế.

        Sáng hôm sau chúng tôi vào bờ Bắc sông Thạch Hãn đón tổ U B.Q.T. Đoàn dùng toàn xe Bắc Kinh mới, có 1 tổ hậu cần đi theo để lo việc ăn uống cho tổ quốc tế.

        Vẫn các thành phần tổ quốc tế đã họp ngày hôm trước, có thêm 1 tổ thợ máy UH1 gồm 1 người Mỹ và 2 người Philippin.

        Đoàn đi theo đường số 9 đến Đarkrong thì ngoặt hướng Đông Nam theo đường mới mở. Con đường mới mở, đất đỏ lòm, bụi mù, khác hẳn với đường số 9 xanh xám màu nhựa đường. Hướng đường cũng khác hẳn, cho nên sự chống chế "bay vô tình lạc đường" đã bị lòi đuôi. Đường mới mở dọc theo trién núi, lên đồi xuống khe, có lúc lội theo khe. Mới đi một đoạn mà đã thấm mệt, không biết các đồng chí lái xe đường Trường Sơn, ngày này qua tháng nọ dưới bom đạn, sức chịu đựng của các dồng chí như thế nào?

        Đến khoảng trưa mới đến nơi, vào nghỉ ở 1 lán của thanh niên xung phong (TNXP) Ở bên đường. Các vị ở tổ quốc tế đều mang theo đệm nằm hoặc túi ngủ để lót lưng vì không quen nằm trên sàn nứa. Thảo nào, các tù binh Mỹ được cho nằm trên ván thì coi đó là 1 hình phạt tra tấn!

         Tôi hỏi chuyện các đồng chí công binh. Một đồng chí nói: "Sáng hôm đó, khoảng 9 giờ, đang ngủ trong cabin xe, nghe có tiếng trực thăng sát sạt lại nghe tiếng hô "biệt kích, biệt kích" choàng dậy thấy 1 chiếc trực thăng sà xuống con đường trước mặt, bèn lia 1 băng AK, nhưng đang ngái ngủ, chẳng trúng vào đâu cả. Tổ lái và khách đi trên chiếc máy bay vừa sà xuống đường, hết hồn vía, được đưa vào lán nghỉ. Cán bộ quân giải phóng đến giải quyết và đưa về Gio Linh".

        Khi đoàn chúng tôi đến nơi, chiếc UH1 - 115 vẫn nguyên chỗ cũ. Một đơn vị gần đó đã được lệnh đưa hai chiếc xe tải lớn sẵn sàng để cõng chiếc UH1 về Thạch Hãn.

        Chúng tôi yêu cầu tổ quốc tế ký biên bản xác nhận là chiếc UH1 vẫn ở nguyên vị trí hôm nó hạ cánh và được canh gác giữ gìn tốt.

        Đạl tá Canada từ chối không chịu ký. Đấu lý mãi, ông ta vẫn không chịu ký, tuyên bố: "Tôi đã được lệnh là không được ký một văn bản nào ở vùng của Chính phủ cách mạng lâm thời ! "

        Đã vậy thì xin mới quý vị ở lại đây đêm nay để chứng tôi đi báo cáo với nhà chức trách địa phương.

        Ở lại đêm trong rừng đối với quân ta là chuyện thường tình nhưng với các sỹ quan công tử này là một thử thách lớn. Chỉ cái việc đi cầu tiêu cũng đã rắc rối. Bộ đội đã chuẩn bị các hố xí có che chắn xung quanh, nhưng các, cậu sỹ quan Tây không quen ngổi xổm nên rất khó khăn. Tiếng rừng ban đêm nghe cũng rờn rợn. Trung uý Berentes bàn với tôi: "đại biểu Canada không chịu ký, còn 3 đại biểu Ba Lan, Innđônêxĩa, Hunggan sẽ ký xác nhận, đề nghị đồng chí đi gặp các đồng chí ở địa phương cho chúng tôi ngày mai nhận máy bay về!"

        Tôi đi gặp một đồng chí có trách nhiệm ở đia phương, báo cáo tình hình. Đồng chí ấy nhất trí giải quyết theo đề nghị của đại biểu Hunggari.

           Sáng ra, họp lại, Berentes thay mặt tổ quốc tế nêu đề nghị mà đồng chí ấy đã trao đổi với tôi. Để tỏ thiện chí, không gây khó khăn cho U B.Q.T, bên ta đồng ý.

           Các thợ máy bắt tay thấo cánh quạt, cần cẩu đưa thân máy bay lên xe cần cẩu một cách gọn gàng, nhanh chóng. Xong xuôi, các vị sỹ quan quốc tế mừng ra mặt vì đã "làm tròn nhiệm vụ" và sắp được rời khỏi nơi núi rừng đầy bí hiểm này.

           Đường về trơn tru, không có gì xảy ra. Việc trao trả chiếc UH1 số 115 được ấn định vào sáng hôm sau. Tại bờ Bắc sông Thạch Hãn, tồ thợ máy ký vào biên nhận: "Hãng Air Amerca phục vụ U.B.Q.T xác nhận là phía Chính Phủ Cách mạng lâm thời đã bảo quản tốt và giúp đỡ đưa chiếc UH1 số 115 về đến Quảng Tn không sây sứt gì."

        Đến đây thì hỉ hả rồi. Đại tá Canada "xung phong" ký xác nhận đầu tiên!

        Hoàn tất thủ tục bàn giao, một chiếc UH1 từ phía Quảng Trị bay sang cẩu đoạn đuôi và cánh quay xong trở qua cẩu nốt cái thân. Khi thân chiếc máy bay UH 1 được nhấc bổng lên, mọi người vỗ tay hoan hô sự thành công của chuyến đi.

        Bầu trời Bắc sông Thạch Hãn xanh thẫm, yên bình. Đó là vùng đất  tự do, một vùng giải phóng thiêng liêng của chúng ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #365 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 03:11:52 pm »


Mùa xuân 1973
từ Trại Đa-vit Tân Sơn Nhất

Phú Bình                 

        Trong bước ngoặt xuân 1973, ở miền Nam có một trại lính, vốn là của Mỹ, bỗng nổi tiếng ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, trại Đa-vit (Davis Camp).

        Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trại Đa-vit, nằm giữa căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, nhô vụt lên, trong lúc ánh đèn của Bộ chỉ huy Mỹ Mắc-vi - "Láu năm góc Phương Đông" - đã tắt ngấm bên kia đường băng sân bay lúc nửa đêm 15/3/1973. Đa-vit của Mỹ đã phải mở cửa đón hai đoàn đại biểu quân sự từ Hà Nội và từ rừng căn cứ địa Tây Ninh vào đặt trụ sở trong trại.

        Vào những ngày giáp Tết 1973 đó, người dân Sài Gòn đã dừng lại nhìn những đoàn xe Hoa Kỳ, sơn màu đen thẫm, chở những sĩ quan "lạ" rộn rịp kẻo vào trại Đa-vit. Xe Jip của quân cảnh Sài Gòn đi hộ tống. Một số người dân đã nhìn thấy quân hiệu của những sĩ quan này. Những ngôi sao vàng nền đỏ hoặc nền nửa đỏ, nửa xanh.

        Từ năm 1965, khi quân Mỹ ồ ạt kẻo vào Việt Nam, Đa-vit là vị trí của một đơn vị Em-pi (quân cảnh Mỹ) và sau đó nhường cho một đơn vị thuộc tập đoàn không quân số 7 của Mỹ.

        Trại Đa-vit nằm ép giữa đường phố Lê Văn Lộc và đường băng sân bay Tân Sơn Nhất. Đa-vit dài chừng 500 mét, rộng 200 mét, với hơn bốn chục dãy nhà gỗ một tầng lớp phi-bờ-rô-xi-măng. Xung quanh trại có ba lớp rào: một hàng rào bùng nhùng, có hàn những mảnh thép mỏng rất sắc, một lưới thép dựng đứng cao gần 3 mét, và một lớp tường bằng tôn cứng che hướng nhìn ra đường sân bay.

        Từ ngày có phái đoàn nam bắc Việt Nam đến đóng quân, Đa-vit trở thành một trung tâm đấu tranh sôi nổi. Từ đây, các sĩ quan Việt Nam dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền nam Việt Nam lên xe ôm, lên trực thăng, lên máy bay cánh quạt đi khắp mọi nơi ở miền Nam. Như trong một ngày 12/3/1973, từ căn cứ Đa- vít hai đoàn quân đội sao vàng đã cử người bay ra đảo Phú Quốc quan sát nhà tù An Thới. Một số khác thì bay lên Minh Hòa (Thủ Dầu Một), bay lên Lộc Ninh (tỉnh Bình Long) tổ chức trao trả tù binh cho phía Sài Gòn. Một tổ bay ra bãi biển Nha Trang theo dõi việc quân Nam Hàn rút khỏi nước ta. Một tổ khác ra sân bay Tân Sơn Nhất theo dõi việc triệt thoái quân Mỹ và đồng minh. Và trong khi đó, suốt ngày từ trại Đa-vit, hàng đoàn xe ôm đi đi về về, đưa các vị tướng cùng các sĩ quan ra hội trường Phi Long họp với đối phương ở cấp trưởng đoàn, họp các tiểu ban trao trả, tiểu ban điều hành v.v...

        Cờ liên hợp nhuộm màu da cam trước mũi xe của phái đoàn, cờ và đèn hiệu của xe quân cảnh Sài Gòn bốc lên, các sĩ quan quân đội nhân dân và quân Giải phóng xuất hiện giữa đô thành trong khi nhà cầm quyền Sài Gòn hậm hực, và người Mỹ thì lại giữ im lặng, "coi như không có gì xảy ra".

        Một công nhân người Việt, làm trong trại Đa-vit nói với các sĩ quan Giải phóng: Trước đây trại Đa-vit này hống hách vô chừng, tụi Em-pi rượt đuổi mọi xe người Việt đậu gần cổng, kể cả xe bộ trưởng Sài Gòn.

   Một nhà báo Sài Gòn bắt tay đồng chí thiếu tá QĐNHVN trong BLHQS 4 bên , giọng xúc động:

        -  Các anh đã biến trại Đa-vít thành một đóa hoa hồng. Hoa hông đẹp và có gai. Người Sài Gòn biết đóa hoa hông đó thơm cho ai và nhức nhối cho ai.

        
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #366 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 03:14:56 pm »


     Đường Lê Văn Lộc và căn nhà màu xanh

        Đường Lê Văn Lộc chạy ngang cổng trại Đa-vit. Đó vốn là một con đường của những gia đình lính Sài Gòn "phục vụ" lính Mỹ.

        Từ cổng trại Đa-vit đi về hướng đông, trên một cây số chiều dài, ra tận ngã ba quân y, là các dãy nhà một tầng nối tiếp nhau, nơi ở của gia đình binh lính và sĩ quan Sài Gòn, gọi là "khu gia binh". Khi quân Mỹ còn đóng trong trại Đa-vit thì trong khu gia đình này, vợ con binh lính, kể cả binh lính nữa, suốt ngày giặt giũ áo quần cho lính Mỹ, chạy xe, bán hàng giải khát, tiêu thụ hàng lậu cho lính Mỹ, số đàn bà con gái có chút nhan sắc thì dễ "dính" với linh Mỹ.

        Bây giờ quân Mỹ phải rút hết, khu gia binh này khốn khổ. Chếch bên trái cổng trại Đa-vit là một căn nhà tốc mái, bỏ hoang, không biết người lính chủ căn nhà đó đã bị vùi dập nơi nao. Tiếp theo căn nhà hoang đó là một dãy nhà ọp ẹp, nhô ra, thụt vào như hàm răng sún. Qua một căn nhà có cây trứng cá, trước nhà có một chiếc ôtô du lịch bẹp nát, trẻ con chui ra chui vào chơi trốn bắt, là đến dãy nhà lụp xụp làm bằng gỗ phế thải của trại Đa-vit. Đối diện với dãy nhà gỗ là những dãy nhà bằng sắt đen xỉn, mái bằng sắt, vách bằng sắt, cửa lớn, cửa sổ đều bằng sắt, một thứ sắt han gỉ, có lẽ là những tấm sắt ở các thùng phuy cắt ra và dập phẳng, trẻ con nghịch nhau ném đá vào nhà nghe choang choang. Những gia đình binh sĩ Sài Gòn sống như thế nào trong những cái lò rang bằng sắt đó dưới ánh nắng gay gắt này.

        Bây giờ dải rác dọc khu gia binh vẫn còn những căn nhà ghi biển "ở đây nhận giặt ủi", "ở đây bán hủ tiếu Mỹ Tho", v.v.., và một vài cái "ổ nhện", nay đã thay đổi màu da khách hàng ("ổ nhện" là ổ gái làng chơi). Lính dù (đơn vị đóng ngay trước cổng trại Đa-vit) và lính không quân Sài Gòn đang thừa hưởng những thứ mà lính Mỹ thải ra.

        Trước đây, khi còn lính Mỹ trong trại Đa-vit thì lính Sài Gòn không bén mảng đến những chỗ ăn chơi đó. ưu tiên dành cho bạn đồng minh lắm đô-la.

        Bây giờ ở góc cuối trại Đa-vit, vẫn còn nhiều dấu vết rào thép gai bị cắt đứt, nống ra rộng bằng cái rổ. Dân bảo đấy là "lỗ Mỹ chui", chui ra tìm rượu, gái và tự do. Nhưng lối thoát thực sự của số lính này phải chờ đến Hiệp định Pa-ri, họ được sân bay Tân Sơn Nhất, sát nách trại Đa-vit, leo lên những chiếc máy bay to tướng có đề chữ "Home coming Operation" ("Chiến dịch rút về nhà").

        Từ trại Đa-vit nhìn qua rào ra đường Lê Văn Lộc, ta thấy có một căn nhà màu xanh, đèn nê-ông sáng xanh, khác hẳn các nhà bên cạnh chỉ có ánh điện yếu ớt chiếu lên vách gỗ đỏ quạch. Đó là một "ổ nhện" loại khá còn sống thoi thóp với lính dù Sài Gòn. Quân Mỹ đi rồi, gái điếm ở đây đã hạ giá.

        Người ta cho biết sau ngày Tết 1973, căn nhà rèm xanh lại đang rục rịch làm ăn táo tợn hơn. Chính quyền Sài Gòn đã cho phép thành lập các trung tâm giải trí - tức là những "nhà vui chơi" - và như tổng trưởng xã hội Trần Nguồn Phiêu nói, mục đích của đạo luật này là "tìm thêm lợi tức sung vào ngân sách quốc gia".

        Khách sộp Hoa Kỳ rút về nước, chẳng những Nguyễn Văn Thiệu cảm thấy cô đơn mà các tiệm tắm hơi, các "nhà làm tình" loại "luych" cũng thi nhau đóng cửa, hạ bảng. Nào đâu nữa những sờ-nach-ba với những tên Mỹ: Hawaii Evening, Hollywood star...

        Bây giờ, với luật mới của Thiệu, mấy mụ Tú Bà lại bắt đầu tập họp, lại dựng lên các biển mới, đón khách hàng mới. Những tổ nhện "Đêm quên đời", "Montreal Bar", "Java Beauty" lấp loáng ánh đèn tím, đỏ.

        Căn nhà màu xanh trên đường Lê Văn Lộc cũng đang rậm rịch để vùi dập tuổi trẻ của chị em ta.

        Tên lính cuối cùng trong đạo quân Mỹ xâm lược đã rút về nước. Nhưng còn đó bộ máy Sài Gòn, do Hoa Thịnh Đốn tạo ra, còn có những nỗi đau thấm vào cơ thể dân tộc này.

        May thay một cơn gió lớn đang thổi tràn qua đất nước.

        Sân bay Tân Sơn Nhất sôi động: các đại diện của mặt trận phía bên kia quân phục đàng hoàng bước xuống đường băng, "mở cổng Sài Gòn", vào đứng chân ở trại Đa-vit, mở một chương đấu tranh mới cho hòa bình.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #367 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 03:36:21 pm »


        Nụ cười

        Tất cả những người Sài Gòn khi đến Đa-vit vì một công việc gì đó, lái xe, thợ điện, thợ nước, rửa bát, nấu cơm... đều phải đeo trước ngực mình một mảnh giấy bọc nhựa, to hơn bàn tay trong đó có dán ảnh, có tên họ, quê quán, nghề nghiệp và đóng chặn lên mảnh giấy đó là 3, 4 con dấu của cảnh sát Sài Gòn, của chủ sở Mỹ. Trên mỗi tấm thẻ còn đủ các thứ ký hiệu, một sọc đỏ là được vào khu quân sự, hai sọc đỏ là vào "khu cộng sản" v.v.., không kể các thứ mật hiệu khác đóng trên giấy, một chấm tròn, một Ô vuông, một vạch đen...

        Tất cả một mớ kỹ thuật mật thám Mỹ đó nhằm ràng buộc mọi người khu vực phái đoàn ta ở. Hàng ngày mở mắt ra là chúng tôi đã gặp những "con người đánh số", "con người bị kiểm tra bất cứ lúc nào", "con người trơ trọi" mất hết tự do. Họ không bao giờ cười.

        Và điều mà họ ngạc nhiên lại là những nét mặt vui tươi của các "ông trong hai phái đoàn".

        - Các ông ăn bận đồ nhà binh vừa đẹp vừa lạ mắt. Và lúc nào cũng thấy các ông tươi cười.

        Và những người đó cũng bắt đầu tủm tỉm khi được bắt tay.

        Tiếng cười từ trong trại Đa-vit, lan ra phòng họp Phi Long, các nhà báo Âu Mỹ, cố săn lùng vào khuôn ảnh của mình nụ cười của các tướng tá và binh lính đối phương.

        Các nụ cười đó đã lên báo, lên màn hình của các máy tivi.

        Giật mình trước cuộc "tấn công tình cảm" đó, "tiền tuyến", báo của quân đội Sài Gòn, đã phải la lối lên rằng "nguy hiểm hơn cả là người bôn-sê-vich lúc này đem nụ cười ra tấn công thay cho khẩu súng" "không cứ ở những nơi đóng quân hiểm yếu, ngay tại đô thị hoặc thôn quê, nơi mà mai đây, một số đại diện cộng sản được đặt chân tới, họ sẽ dùng nụ cười để tấn công quân ta", "quân ta cần được trang bị đáy đủ trước vụ tấn công tình cảm của đối phương. Đó là công việc cấp thiết trong giai đoạn hiện nay". (Tiền tuyến 10-2-1973).

        Miệng chúng ta tươi cười. Chỉ mong nhen lên những niềm hy vọng.

        "Tiền tuyến" nên nhớ rằng, những ngày có quân Mỹ yểm trợ rầm rộ mà họ không dập nổi nụ cười trên môi Võ Thị Thắng tại tòa án quân sự Sài Gòn thì bây giờ ồn lên như vậy phỏng được ích gì?

        Ở trại Đa-vit, buổi chiều và buổi tối, sau khi những chuyến máy bay và ôtô Hoa Kỳ đã đón về trại những tổ liên hợp đi công tác ở khắp miền Nam là toàn trại lại rộn lên một không khí trẻ trung. Sân bóng rổ chiều nào cũng có tiếng đập bóng của các "cầu thử". Hai đội bóng Quân đội nhân dân và Quân giải phóng đã thi đấu hữu nghị. Những hôm đó, bên kia rào sân bóng, các thợ sửa chữa máy bay Tân Sơn Nhất lấp ló nhìn sang theo dõi cuộc đấu.

        Nhớ lại hôm đầu tiên, khi một đồng chí Quân giải phóng vô ý tung quả bóng lọt qua bên kia rào, rơi sát vách nhà sửa chữa máy bay thì các lính không quân Sài Gòn bỏ dạt đi cả. Ta nhờ nhặt hộ nhưng không người lính nào dám quay lại Một sĩ quan Sài Gòn ghé nhìn quả bóng một cách "cảnh giác" rồi cũng đi luôn. Năm giờ sáng hôm sau, đồng chí tuần tra của ta thấy một vật trăng trắng bên bờ cỏ sân bóng, nhìn kỹ thì ra là quả bóng bị lạc chiều qua. "Một chút thiện chí hòa hợp", đồng chí tuần tra báo cáo cho đội trưởng - chắc là nhân lúc bên kia vắng bóng sĩ quan. Buổi tối, thỉnh thoảng trong trại Đa-vit lại tổ chức chiếu phim. Các sĩ quan Mỹ đến liên hệ công việc cũng nhập vào xem. Chỉ có lính Sài Gòn gác đường Lê Văn Lộc là đứng ngoài rào lấp ló. Lệnh từ Sài Gòn không cho họ bước chân vào "mảnh đất cấm", nhưng tiếng nhạc khỏe khoắn trong máy phóng thanh vẫn văng vẳng đến tai.

        Đa-vit sôi động theo bước đi của mùa xuân. Trong trại Đa-vit, ở nhà ăn, nhà khách, hội trường, khi ngày đầu tiên đội tiền trạm ta đến tiếp nhận từ tay quân đội Mỹ thì thấy họ vốn đã bày biện khá nhiều chậu hoa. Bước chân đến gần thì toàn hoa giả, hoa hồng giả, hoa cúc giả, hoa vi-ô-lét giả. Từ cái lẵng hoa nho nhỏ, cho đến cả một chậu sứ Trung Quốc cũng cắm lên cành hoa giả.

        Niềm động viên lớn đối với phái đoàn ta là đúng vào ngày Tết, Hà Nội đã gửi vào Đa-vit cả một cây đào Nhật Tân, mầu hoa hồng, cây đào này cao bằng đầu người và cành hoa rộng hai vòng tay.

        Lúc các sĩ quan ta từ trên chiếc máy bay vận tải C130 của không quân Mỹ khiêng cây đào rực rỡ ấy xuống đường băng, thì các máy ảnh Sài Gòn và quốc tế đã châu đến thu vào ống kính.

        - Đào Nhật Tân của Hà Nội đấy, các bạn ạ. Bom B52 Mỹ đã ném xuống Nhật Tân tháng trước. Nhưng các bạn hãy xem màu hồng của cánh đào này!

        - Đào thật!

         Đại tá B, sĩ quan Sài Gòn ra tiếp xúc với tổ liên hợp thốt lên như vậy.

        Đại tá B sinh ra và sống ở Hà Nội thời còn Tây. Hẳn đại tá cùng những người đồng hương của đại tá di cư vào Nam cũng có lúc vấn vương mỗi khi Tết đến. Chính luận tờ báo Sài Gòn số 7-3-1973 đã viết một câu về cảnh Xuân ở đất này: "Hằng năm nếu không thấy xuất hiện cây đào giả thì anh đâu có biết xuân về". Đi xe qua đường Lê Văn Lộc, Võ Tánh, vào nội thành Sài Gòn, thảo luận việc thi hành hiệp định Paris, chúng tôi đã thấy những cành đào giả đó, hoa lá bằng nhựa, nhuộm phẩm mầu, và cứ trơ trơ ra trước gió bụi.

        Sau 60 ngày, khi đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa hoàn thành nhiệm vụ của mình, thì cành đào Hà Nội vẫn còn tươi trong gian phòng khách trại Đa-vit. Anh em ta đã tưới bón cho đào, lá đào đã ra xanh, và trên cành đã nhú lên những quả đào tơ.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #368 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 03:55:13 pm »


        Chúng tôi không cần hỏa châu.

        Phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa đến Đa-vit được ba hôm rồi mà đêm nào cũng thao thức. Lệnh ngừng chiến có hiệu lực từ 28-1, thế mà bây giờ 30-1, Sài Gòn chưa có gì là êm ả. Cái không khí chiến tranh vẫn trườn lên sân bay Tân Sơn Nhất, tràn qua rào trại Đa-vit, tiếng bom tiếng pháo ì ầm mạn Củ Chi, Bến Cát mạn Long An, mạn Biên Hòa, đêm khuya nằm trong trại nghe rõ mồn một. Các loại máy bay phản lực và cánh quạt đi ném bom, đi trinh sát cất cánh ngoài đường băng Tân Sơn Nhất bay lướt qua mái trại Đa-vit, kéo sau đuôi một vệt đèn nhấp nháy và tiếng động cơ rung chuyển các tấm phi-bờ-rô-xi-măng. Tiếng loa tiếp âm đài Sài Gòn bên các dãy nhà của Sư đoàn 5 không quân vẫn ong ỏng sang trại Đa-vit: "Phải nổ súng.., phải quật lại... " toàn là lời lẽ "ông Thiệu.

        Chiều đến, mặt trời mờ lặn hướng bãi tập của lính dù, là anh em trong phái đoàn đã nghe các trận địa pháo ở ngoại thành Sài Gòn bắn ra vùng ven. Và trên bầu trời Tân Sơn Nhất bật sáng lên những ngọn hỏa châu, bay lơ lửng xoay tròn dội các vệt sáng xuống các mái nhà, xuống con đường nhựa trong trại Đa-vit.

        Mấy chị người Việt, do Mỹ thuê vào nấu ăn cho đoàn ta trong mấy ngày đầu thỉnh thoảng lại liếc nhìn ra cửa nhà ăn, chép miệng.

        - Sáng rực một trời đó, có khác gì thời chiến!

         Chỉ có Thiệu là ưa các thứ đèn ma quái đó, rọi cho hắn con đường gập ghềnh. Cho nên, có hiệp định hòa bình rồi mà Sài Gòn vẫn thắc thỏm.

        Sáng ngày 28-1-1973, buổi sáng lịch sử đó đã được một vài tờ báo Sài Gòn miêu tả trong tâm trong hoài nghi, thất vọng.

        Đường Tự Do vắng hoe. Dăm ba ông công chức bộ nội vụ ra đứng hè phố ngó bâng quơ. 8 giờ sáng Chủ nhật 28/1, còi hụ. Tất cả các ngã tư đều đèn đỏ. Chuông nhà thờ, nhà chùa đổ hồi.

        "Bản hiệu triệu quốc dân của Tổng thống Thiệu được phát oang oang giữa chợ Bến Thành qua một ống loa phát thanh trước đây dùng để quảng cáo nước hoa tại gian hàng Tết (Bản hiệu triệu kêu gọi "phải sẵn sàng", "phải trả giá"...)".

        Có lẽ cái thay đổi duy nhất của buổi sáng đẹp trời này là những "nút chặn an ninh" dầy đặc khắp thành phố. Bất cứ xe gắn máy nào sáng nay cũng bị chặn lại ít nhất một lần... "Và mấy tờ báo Sài Gòn cùng nhao lên với câu hỏi:

        - Hòa bình có thực sự chưa?

        - Hòa bình rồi có khá hơn trước không?

        -  Hòa bình rồi, nhưng sẽ đi đến đâu?

        Trong buổi sáng mà lòng người dân Sài Gòn lóe lên một chút hy vọng đó, nhiều người chưa kịp nghĩ rằng Tổng thống Thiệu sớm đã ký lệnh tống các "chim bồ câu" vào chuồng cọp, và thả tất cả diều hâu ra. Máy bay quân sự không ngớt cất cánh trên đường băng Tân Sơn Nhất. Tiếng súng lấn chiếm rộ lên Ở Cai Lậy (Mỹ Tho), ở Tống Lê Chân (Bình Long), ở Sa Huỳnh (Quảng Ngài), ở Cửa Việt (Quảng Trị).

        Niềm hy vọng đã tan vỡ. Báo Điện Tín mấy ngày trước đó những tưởng đã làm bảng cáo phó cuối cùng cho cuộc chiến khi đưa tin "Rạng sáng 28-1, đại úy Tùng, đại đội trưởng đại đội 381 địa phương quân Long An trong khi kẻo quân đi ruồng đã bị đạn. Tùng là sĩ quan duy nhất của Long An nằm xuống vĩnh viễn trước giờ ngừng bắn". Bây giờ đây, hàng loạt sĩ quan và binh lính Sài Gòn đã phải tiếp tục chết cho mưu đồ của Thiệu sau ngày ngừng bắn.

        Người dân Sài Gòn mấy ngày rày, khi gặp nhau trong các tiệm nước dọc phố thì câu chuyện đầu môi là hoà bình hay chiến tranh, phản đối hay chấp nhận. Nhiều người kể lại câu chuyện một ông chủ bán hòm (quan tài), ông chủ này mấy năm qua làm ăn phát đạt, nên trong nhà có đủ ti vi, tủ lạnh. Có ngày, nhà ông bán ra đến hai trăm cái hòm chôn cất lính đi trận. Hiệp định vừa ký, con số đó sụt xuống mười lăm lần. Người ta để ý coi thái độ ông ta ra sao, thì thấy ông chủ im lặng. Mấy tuần sau, nghe tin súng nổ ở Sa Huỳnh, Ở Cai Lậy đưa về nhiều, có người hỏi thẳng ông:

        -  Chánh phủ coi bộ muốn làm chiến tranh tới bến, ông có mừng không?

        Ông ta đáp:

        - Tôi khác con điểm! Tôi khác ông Thiệu! Tôi bán hòm để chôn cất người chết, chớ tôi không ngồi mong dân mình chết để bán được nhiều hòm.

        Bây giờ xem lại phần đánh giá các cô gái bán hoa, ông chủ trại hòm nói có hơi quá. Thực ra, chỉ có một số ít gái "ăn đêm" mong có chiến tranh dài dài cho lính Mỹ trở lại. Nhưng phần nhận xét của ông về ông Thiệu thì xác đáng. Còn lòng dân miền Nam thì như nhiều báo Sài Gòn đã phát biểu: "Chúng ta ai cũng hy vọng, ai cũng nguyện cầu cho hoà bình, cho chim bồ câu bay rợp trời sau mấy chục năm chinh chiến khổ đau" (giai phẩm Quý Sửu, "Em Xuân 73").

        "Tết lại đến, tình dân tộc sống dậy.., khát vọng hoà bình của nghệ sĩ và đồng bào ta là một điều thiêng liêng vô tả" (Xuân Quý Sửu, Sân khấu mới).

        Người dân miền Nam, ngay cả người đang làm cho Sở Mỹ kiếm tiền nuôi miệng, cũng đã thấy đâu là con đường sáng sủa trong hoà hợp. Anh T., một sinh viên Sài Gòn làm phiên dịch tiếng Mỹ trong Ban liên hợp bốn bên đã nói lên mấy ước mong của mình.

        - Hoà bình cho đất nước.

        - Về quê làm ăn sinh sống...

        Anh ngừng lại, nhìn người sĩ quan quân đội nhân dân.

        - Thế nào, điều mong ước thứ ba của anh là gì, sao anh chưa nói?

        Anh đáp khẽ:

        - Tôi muốn đi thăm Hà Nội.

        Anh phiên dịch đó gia đình ở trên bờ sông Cửu Long. Anh đã mạnh dạn thầm nói với chúng tôi ước mong hoà bình và thống nhất của bảy triệu đồng bào hai bên bờ sông mênh mông.

        Khác hẳn là thái độ của một vị tướng Sài Gòn nọ. Khi có người hỏi ông ta có muốn ra Hà Nội một chuyến nhân dịp trao trả phi công Mỹ không, tướng nọ lắc đầu:

        -  Không đời nào, không đời nào !

        Anh T, lắc đầu:

        -  Người ta sợ hoà bình ! Người ta sợ hoà hợp !

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #369 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 04:21:43 pm »


        Đa-vit "Tiền sử"

        Giữa trại Đa-vit có một bãi cỏ, bao bọc xung quanh là một hàng rào gỗ sơn trắng. Giữa bãi cỏ là một cái miếu Mỹ nằm dưới bóng hai bụi trúc. Cái "miếu' này nóc tròn khum khum và chỉ cao ngang tầm người đứng. Đó là miếu "Tưởng niệm lính Mỹ chết trận". Trên nóc miếu có đọc rõ mấy chữ "Davis Station Memoriam". Một con đường lát gạch dẫn vào miếu. Trước miếu có hai trụ xây. Một cái xích sắt to tướng choàng qua hai trụ. Đó là chỗ cha tuyên uý thường cúi đầu xuống cầu cho phần hồn những người lính đã chết cho cuộc chiến tranh của Giôn-xơn và Nich-xơn.

        Trại Đa-vit có một tiền sử ám muội. Trước đây nhiều sĩ quan cao cấp của Sài Gòn cũng chưa hề được đặt chân vào đây. Tướng Dư Quốc Đống của quân đội Sài Gòn hôm đến chào Thiếu tướng Lê Quang Hoà cũng ngơ ngác hỏi:

        -  Cái chữ Đa-vit này Mỹ viết ra làm sao: David hay Davis?

        Một thời kỳ Đa-vit là trại của Em-pi (M.P), tụi quân cảnh Mỹ hống hách và nhiều quyền hành, sau đó nó là chỗ đóng quân của một đơn vị thuộc tập đoàn không quân số 7 Hoa Kỳ (US 7th An Force). Đây là tập đoàn không quân đặc biệt, mà các báo phương Tây đã mô tả là "tập đoàn không quân bận rộn nhất và hùng mạnh nhất trong lịch sử", với một biệt hiệu là "tập đoàn không quân vô danh".

        Để che giấu âm mưu và hành động của nó, hàng loạt tướng ba sao, bốn sao chỉ huy tập đoàn này là Le-ven, Vớt... đã sống ở Sài Gòn nhưng không bao giờ ra mắt các nhà báo hoặc bất kỳ người nào khác không liên quan đến nó. Cho nên cái bộ phận của tập đoàn không quân số 7 đóng ở trại Đa-vit cũng thuộc loại im hơi, kín tiếng. Nó không cho người Việt vào đó trừ gái điếm, hoặc gái nửa điểm, nửa hầu hạ. Tất nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ.

        Bây giờ bên ngoài căn nhà vốn là nhà ăn của sĩ quan Mỹ và ở cái "bar" bán rượu gần sân bóng rổ của trại Đa-vit anh em ta còn thấy hai cái lò nướng thịt. Cái lò nướng ở nhà ăn trông như một cái thuyền bằng sắt, trên có vỉ sắt, khi dùng thì rải than đỏ dưới lòng thuyền và đặt thịt lên vỉ.

        Trường hợp ngoại lệ là đây. Có một vài tốp biệt kích Sài Gòn trước khi ra miền Bắc phá hoại đã được các sĩ quan Mỹ cho vào chiêu đãi và tuyên thệ trong trại Đa-vit này. Nếu gái điếm đã bán một góc thân thể cho lính Mỹ thì bọn biệt kích này đã bán cả tính mạng cho bộ chỉ huy Mỹ, hay nói đúng hơn là cho đồng đô la.

        Sau khi đến trước cái miếu Mỹ, cúi người trước cái xích sắt buông lửng, đọc lẩm bẩm vài câu gì đó, tư thế quỳ và câu tuyên thệ cũng không cần gắt gao như đối với các sĩ quan tốt nghiệp trên trường võ bị Đà Lạt - tên biệt kích được các sĩ quan Mỹ dắt ra quầy rượu. Ở đây, các cô gái mặc thứ hàng mỏng nhất, khom mình quạt than trên lò nướng. Những cục thịt còn tươi máu xếp dọc vỉ sắt và bắt đầu xèo xèo.

        Các tên biệt kích được ưu tiên chọn miếng thịt nướng, xiên ra khỏi lò và nhắm rượn. Chúng nó say mèm trong khi người Mỹ vẫn tỉnh.

        Chỉ vài tiếng nữa, trong đêm tối, một chiếc máy bay Mỹ không cờ, không số hiệu sẽ đưa chúng ra miền Bắc Việt Nam, ném chúng xuống một dãy rừng âm u nào đó. Lúc đó, chúng nó đã nhả hết rượn và bắt đầu hiểu một cái gì đó. Sau này nằm trong trại giam miền Bắc, một số tên biệt kích mới thấm thía với bữa tiệc thịt nướng mà người Mỹ thí cho. "Người Mỹ nướng thịt cho chúng tôi ăn trước khi ném chúng tôi vào cái lò lửa khủng khiếp nhất... ".

        Nhưng lịch sử có sự ràng buộc khắc nghiệt của nó. Ngọn lửa chiến tranh mà các con diều hâu trong chính quyền Mỹ đã nhen lên không chỉ thiêu chết những người da vàng mà còn thiêu chết hàng chục nghìn lính viễn chinh da trắng đến từ Ca-li-phoóc-ni-a, từ Nữu-ước...

        Trong trại Đa-vit, trên ngưỡng cửa từng gian nhà một đều có đón một tấm biển trắng, in những lời dặn dò của người chỉ huy trại, bằng sơn đỏ. Trước khi rút khỏi trại Đa-vit nhường cho phái đoàn ta đến ở, người Mỹ đã tháo vứt những tấm biển đó đi, nhưng hiện nay, Ở căn nhà T.532 còn sót lại một tấm với các dòng chữ:

 "Khi bị tấn công, đừng chạy, đừng ngồi, đừng đứng, đừng khiếp hãi, hãy lăn ra khỏi giường, hãy lấy đệm trùm lên người, bò ra hầm và lắng nghe mệnh lệnh của đội trưởng".

        (In ca se of attack, do noi run, sít, stand, panic, do run oặt of bánh, cover with mattress, dương lưu crawl to bunker listen for orders from Pa SGT).

        Trong những trận tấn công vào căn cứ Tân Sơn Nhất, suốt từ 1965 đến 1972, đạn hỏa tiễn, đạn cối, bộc phá và đạn bắn thẳng của Quân giải phóng đã thiêu hủy hàng trăm máy bay Mỹ.

        Trại Đa-vit nằm giữa căn cứ Tân Sơn Nhất đã nếm đủ mùi thép và lửa đó. Ở đây lính Mỹ kinh hoàng đã phải nhiều phen chui rúc trong những gian hầm xi măng chạy dài quanh trại.

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM