Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:51:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315413 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #380 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 10:48:23 am »

        Theo quy ước, chúng ta đi thăm các phố chính rồi thăm Cảng Cần Thơ. Tôi chụp khá nhiều ảnh. Thiếu tá Tuấn nói:

        - Sao thiếu tá cứ nhằm những ngôi nhà lụp xụp để chụp. Có biết bao nhiêu nhà cao tầng, các cửa hiệu lớn sao bỏ qua? Ông định gửi ảnh về Hà Nội đăng báo nói là dân Cần Thơ cực khổ, có đúng không?

        - Thiếu tá cần xem phim tôi chụp không?

        - Chúng tôi không muốn dư luận phê phán là kiểm duyệt phim.

        - Chắc chắn là thiếu tá biết Mỹ đã dùng hàng chục ngàn tấn bom và dùng B52 rải thảm để xóa sổ Hà Nội. Dân Hà Nội phải sơ tán về nông thôn. Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, Hà Nội phải sơ tán nên nghèo hơn Cần Thơ. Bác Hồ chúng tôi có câu nói: “Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Chúng tôi sẽ làm như thế.

        - Vậy thiếu tá chụp những túp lều để làm gì?

        - Theo nhận xét của tôi, Cần Thơ không có kế hoạch xây dựng. Thiếu tá xem hai ngôi nhà kia. Chủ nhà giàu, có nhiều tiền nhưng không có đất nên xây nhà 5 tầng chỉ với 2m mặt đường. Người bên cạnh có mặt tiền rộng hơn 10m, không có tiền đành xây nhà 1 tầng lợp mái tôn. Tôi có cảm giác như một người răng vổ có cái răng chuột nên rất khó coi.

        Sau chuyến đi, Đoàn ta rất vui. Các cơ sở mật ở Cần Thơ thông báo bà con ở Cần Thơ nhắc lại luận điệu: “Bảy tên Việt cộng bám không gãy nổi cành đu đủ” vì chính họ đã trông thấy Việt cộng to, cao, đẹp trai, chững chạc, mặt rất tươi đưa tay vẫy chào đồng bào.

         Có một lần, trung tá Độ rủ tôi đứng gần cửa sổ hỏi:

        - Có phải hôm qua thiếu tá đã dùng ống nhòm quan sát chúng tôi?

        - Đúng! Tôi nghe tiếng kêu la và trông thấy một đại úy tát, đá đít lính.

        - Thiếu tá không ngạc nhiên vì chúng tôi cho phép đánh lính. Có dậy dỗ lính bằng roi vọt mới có kết quả. Thôi chúng ta nói sang chuyện khác. Thiếu tá mới chỉ biết mùi con gái miền Bắc, chưa thưởng thức gái Nam Bộ?

        Độ chuyển cách nói:

        - Đằng ấy đi với tớ, tớ khao.

        - Trung tá không sợ đồng đội và vợ con chê trách à?

        - Đằng ấy yên tâm đi. Việc này chỉ có tớ và đằng ấy biết thôi. Vợ con đằng ấy ở xa, làm sao biết được chuyện ma ăn cỗ?

        - Thưa trung tá! Mỗi khi dự định làm việc gì xấu, tôi thấy lương tâm cắn rứt.

        - Lương tâm là cái đếch gì. Nơi nào vui, tạo khoái cảm cho ta, ta cứ làm.

        - Lương tâm là quan tòa kiên quyết soi đường hiện tại và tương lai của chúng ta. Xin trung tá phải có lương tâm và không bao giờ bàn về chủ đề này với tôi.

        Trung tá Độ có vẻ ngượng nên chuyển đề tài:

        - Đoàn của thiếu tá đồng ý tiếp các nhà báo Mỹ, Anh, Pháp và Tây Đức nếu mời họ đến doanh trại của thiếu tá được không?

        - Tôi nghĩ là nên họp ở đây tốt hơn. Trung tá hẹn giờ đưa xe đến đón tôi và phiên dịch.

        - Tại sao trưởng đoàn các ông không gặp họ?

        - Trưởng đoàn đã ủy quyền cho tôi.

        Vào họp, các nhà báo thay nhau đặt câu hỏi. Bỗng phóng viên Mỹ tấn công chúng ta:

        -  Thưa ông! Tôi đã dự nhiều trận đánh, chính mắt tôi đã thấy xác Việt cộng chết.

        - Họ mặc quân phục như tôi đang mặc?

        - Không mặc giống ông nhưng tôi tin họ là người miền Bắc. Tại sao các ông lại xâm lược miền Nam?

        - Các ông đã nghiên cứu Hiệp định Paris chưa? Chính Bộ trưởng Bộ ngoại giao Mỹ đã công nhận Việt Nam là một nước duy nhất, tại sao ông nói là miền Bắc xâm lược miền Nam. Ông là người da trắng, mắt xanh, mũi lõ. Các thành viên trong đoàn chúng tôi và đoàn của trung tá Độ đều là người Việt nên không cần phiên dịch. Chúng tôi có mặt ở Cần Thơ là để bàn những việc thống nhất đất nước, hòa hợp, hòa giải dân tộc. Chỉ có Mỹ mới xâm lược miền Nam thôi.

        Buổi họp báo kết thúc. Nghe lại băng ghi âm, trưởng đoàn phán:

        -  Cậu là nhà báo nên kiến thức rộng mới trả lời hết câu hỏi của họ…

        Sau 2 tháng, Đoàn tôi rời Cần Thơ về Hà Nội. Nghe báo cáo, trưởng đoàn là thiếu tướng Lê Quang Hòa biểu dương đoàn chúng tôi đã thành công ở khu vực 7.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #381 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 11:03:06 am »


CẢM TỬ CHO TỔ QUỐC QUYẾT SINH

        Năm 1975, tôi được tham dự Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiều ngày 1 – 5, tôi quay lại trại Đa-Vít và được nghe thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn kể chuyện:

        Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương quan tâm đặt biệt tới chúng tôi. Chúng tôi nhận được hai kế hoạch.
Theo lời anh Tuấn thì kế hoạch thứ nhất được giao cho đơn vị xe tăng. Nếu thấy xe tăng ta, hơn 200 chiến sĩ của phái đoàn quân sự sẽ bắt liên lạc và sẽ tùy tình thế lúc đó mà có cách xử lý thích hợp. Đến chiều 29 tháng 4 đường dây liên lạc giữa đôi bên vẫn giữ vững nhờ đã được thông báo trước tần số bí mật của điện đài. Tối hôm đó, đúng giờ quy định, đồng chí cán bộ thông tin mở máy thu được vẻn vẹn một câu:

        - Chúng tôi có nhiệm vụ mới. Rất tiếc là phải gửi lời chào các đồng chí.

        Đây không phải là tin vui và cũng chẳng thể gọi là tin buồn đối với các thành viên trong phái đoàn quân sự. Anh em náo nức chờ đợi xe tăng đến đón. Là những cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu, ai cũng hiểu tường tận giá trị của đoàn chiến xa ở mặt trận, nên ít ai lộ vẻ thất vọng thay đổi bất ngờ vào phút chót như vậy.

        Kế hoạch thứ hai là có bộ binh của đơn vị đặc biệt tinh nhuệ đánh thọc sâu, để phối hợp với lực lượng tại chỗ tổ chức phòng ngự hoặc tấn công địch nếu điều kiện cho phép.

        Tôi đưa ra câu hỏi với thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn:

        - Được biết là các anh cùng thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” có phải không?

        Trưởng đoàn đại biểu quân sự cười, trả lời:

        - Nguồn tin đó là sự thật. Đề nghị các anh nhà báo cải chính cho. Khẩu hiệu của chúng tôi là “Cảm tử cho tổ quốc quyết sinh!”

        Tôi chăm chú, lắng nghe đồng chí trưởng đoàn giải thích:

        Cuối tháng 3 năm 1975, tuy chưa được phổ biến, nhưng anh em cán bộ lãnh đạo phán đoán thời cơ giải phóng Sài Gòn đã tới gần. Trong một chuyến bay thường kỳ vào thứ sáu hàng tuần từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội, chúng tôi đề nghị với Bộ Tổng tư lệnh xin trang bị cuốc, xẻng để đào hầm và vũ khí để chiến đấu khi cần thiết. Thứ sáu tuần sau, chúng tôi không nhận được loại “hàng” đang mong đợi mà chỉ thu về một câu trả lời là “phải tổ chức chiến đấu bảo vệ lực lượng, không để xảy ra sơ suất gì ảnh hưởng tới đại cuộc!”

        Là người trong cuộc, các anh có cách nhìn tinh tế và sáng suốt. Các anh phải không lên gân khi tình thế chưa đòi hỏi phải làm như vậy. Cán bộ, chiến sĩ Ban liên hợp quân sự đã chọn phương án tác chiến đúng theo tinh thần nghị quyết của Đảng ủy  là không để một chiến sĩ nào hy sinh vô ích. Ta không chủ động tiến công địch nhưng ta không bị động khoanh tay chờ chết khi địch tiến công. Với số súng và lựu đạn mà các đồng chí cảnh vệ được trang bị theo Hiệp định, ta sẽ chiến đấu đạt hiệu suất cao khi cần thiết.

        Vấn đề đào hầm được đặt ra nhưng đào ở đâu, đào như thế nào, đào vào lúc nào…được bàn cãi đến từng chi tiết nhỏ nhất. Làm cách nào giữ được bí mật với địch. Địch đóng quân ở bên kia hàng rào nên bất cứ việc gì xảy ra ở ngoài sân và trong doanh trại (nếu ta mở cửa), chúng đều quan sát được. Ngoài ra còn có những tên lính gác thay nhau gác liên tục 24/24 giờ ở tháp canh trên cao thường xuyên dùng ống nhòm theo dõi nhất cử nhất động diễn ra trong chỗ ở của đoàn ta. Ta phải đào hầm như thế nào? Ta không chủ trương mỗi người đào một hầm cá nhân cho riêng mình mà đào cả hệ thống giao thông hào đủ sâu, đủ rộng để ta có thể đi từ nhà này sang nhà khác rồi tỏa ra các vọng gác. Dứt khoát ta không thể đào giao thông hào vào ban ngày mà phải chọn giờ hành động từ nửa đêm về sáng. Tuy nhiên ngay đêm đầu khởi sự đã nảy sinh nhiều rắc rối vì thiếu cuốc, xẻng và biết đổ đất vào đâu để khỏi bị lộ. Ngay tức khắc, mọi dụng cụ bằng sắt như cọc màn, chân giường, tuốc –nơ – vít…đều được dùng để đào đất. Đất đổ vào gầm giường, đất nâng cao thêm sàn nhà. Một ngày, hai ngày rồi năm ngày trôi qua. Cán bộ chiến sĩ đã mệt rã rời vì đêm thức, ngày không ngủ được vì phải giữ mức sinh họat bình thường. Oái oăm nhất là những cầu thủ bóng chuyền, bóng rổ. Đúng giờ quy định, những vận động viên nghiệp dư buộc lòng và những ai buộc sắm vai khán giả vẫn hò reo, cổ vũ nhiệt tình. Mệt bở hơi tai, mệt tưởng muốn đứt hơi nhưng ta buộc lòng phải đóng trọn mọi vai để kẻ địch không nghi ngờ gì mình.

         Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn giải thích:

        - Chúng tôi không lo anh em mệt hoặc mất ngủ vì hoàn cảnh chúng tôi sướng hơn nhiều so với các chiến sĩ ở chiến trường. Điều mà Đảng ủy lo nhất là anh em liều mình manh động. Chúng tôi không tranh cãi xem khi rời Thủ đô ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô dùng khẩu hiệu “Cảm tử hay quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” nhưng rõ ràng hoàn cảnh của chúng tôi khác hẳn với thời điểm 19 tháng 12 năm 1946. Ngày đó, địch mạnh, ta yếu và thiếu vũ khí, ta chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Còn bây giờ, địch rất yếu, đang thua trận và ngày ngụy nhào chắc không còn xa nữa. Vì vậy, chúng tôi phải biết hy sinh đúng lúc, phải “Cảm tử”, chứ không “Quyết chết”

        Tôi đã đi dưới giao thông hào có nhiều đoạn sâu tới 1.50mét. Có biết bao bài hát: “Mẹ đào hầm, mẹ đào hầm” rồi ví von “Nơi hầm tối là nơi sáng nhất” và huyền thoại về “Địa đạo Củ Chi” khiến kẻ thù khiếp sợ, thế giới ca ngợi nhưng chưa ai nói tớ hàng ngàn mét giao thông hào kỳ lạ ở Ban Liên Hợp quân sự hai bên. Khoảng 6 giờ chiều ngày 28 tháng 4, cán bộ, chiến sỹ reo vui phấn khởi, một tốp A37 (mà sau này các anh biết là do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu) ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Phải chăng đây là hành động phản chiến? Bằng những tin thu được qua điện đài và hỏi những nhân viên phục vụ, ta hết sức vui mừng vì những thiệt hại do trận ném bom gây ra, đặc biệt là ta đã thu được báo cáo chính xác của ngụy: “Ngày 28 tháng 4 năm 1975, 18 giờ tối, máy bay A37 (Máy bay phản lực mà cộng sản đã chiếm được) trang bị ĐK81 đã bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất. Bom rơi trúng nhà để máy bay của không quân, phá hủy nhiều máy bay C47 và ít nhất có 3 máy bay AC119. Hai trái bom trúng giữa trung tâm điều khiển và vọng kiểm soát.”
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #382 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 11:11:31 am »

        Anh em càng phấn khởi lại càng nuối tiếc vì mình không được trực tiếp tham gia chiến đấu. Còn có gì khổ tâm hơn là cứ ngồi một chỗ nghe tin chiến thắng của các đơn vị và chính mắt mình nhìn thấy nhưng ngọn lửa bốc lên cao, chính tai mình nghe rõ tiếng bom nổ rền ở cách mình chưa tới trăm mét? Anh em ao ước có gì “mở cửa thành” trong đánh ra, ngoài đánh vào, phối hợp cùng nhau diệt địch. Rất nhiều đồng chí đã từng là dũng sỹ diệt Mỹ, diệt ngụy và những sỹ quan đã lăn lộn ở khắp các chiến trường suốt  30 năm qua đều rất muốn lập công: Đây là cái tình giữa chọn hướng hành động “Cảm tử” hay “Quyết tử”. Những câu hỏi dặt ra:

        -  Địch hoang mang, tan rã, không còn tinh thần chiến đấu. Cứ cho tôi 5 quả lựu đạn, tôi dùng kỹ thuật đặc công đột nhập vào sở chỉ huy của chúng, tôi đảm bảo hạ dăm bảy thằng cỡ trung tá, đại tá ngụy.

        -  Ta chỉ cần một tiểu đội trang bị tiêu liên, súng trường, thủ pháo cũng đủ sức đánh bay cả tiểu đoàn địch. Chúng tôi không ngại hy sinh.

        Anh em nôn nóng ra trận từng phút, từng giây. Liệu có khả năng xảy ra chuyện một chiến sỹ nào đó “Vô kỷ luật” lẻn sang tấn công “Hàng xóm” không? chả nhẽ ngồi yên chờ chúng đến giết mình à? Số vọng gác, người gác và đốc gác tăng lên gấp ba ngày thường. Ta phải cảnh giác cao độ, không để bất ngờ đáng tiếc xảy ra và cũng tránh mọi hành động, lời nói  khiêu khích kẻ thù cùng đường. Một không khí căng thẳng như trước giờ nổ súng của trận đánh lớn bao trùm lên mọi cán bộ chiến sỹ. Đêm 28 rạng 29/4/1975, những lọat đạn pháo hạng nặng của pháo binh ta nã vào sân bay Tân Sơn Nhất. Tiếng nổ lớn tưởng như không dứt, sân bay chìm trong lửa khói. Do đạn pháo tản mác, đêm đó trong khi làm nhiệm vụ có hai đồng chí hy sinh và một số đồng chí khác bị thương. Làm thế nào để chôn cất Liệt sỹ? Ta không có điều kiện tổ chức tăng lễ, phủ quốc kỳ lên quan tài với hàng rào danh dự mang súng có lưỡi lê tuốt trần, bắn lọat đạn chỉ thiên vĩnh biệt liệt sỹ, xung quanh là kẻ thù, chúng ta buộc phải giữ im lặng. Vì sự nghiệp giải phóng Sài Gòn, chúng ta chưa đặt vòng hoa lên ngôi mộ hôm nay nhưng sẽ có một ngày nào đó, chúng tôi sẽ công khai khóc thương những đồng đội đã hy sinh cho độc lập, tự do của đất nước.

        Đảng ủy Ban liên hợp quân sự  còn chủ trương giữ bí mật với phía ta. Vượt qua nguyên tắc cấp dưới phải báo cáo với cấp trên mọi việc xảy ra không đòi hỏi sự dũng cảm. Đồng chí trưởng đoàn chỉ thị:

        - Đồng chí của ta đã hi sinh không thể cứu sống nổi. Ta báo cáo chậm để các pháo thủ không bị ảnh hưởng  tâm lý khi bắn. Từ giờ phút này, mọi người phải ở trong công sự khi nghe pháo ta hay pháo địch bắn.

        Sáng 30 tháng 4, cảnh hỗn loạn của quân ngụy ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày một tăng. Chính mắt tôi đã trông thấy đống quân phục của đủ mọi sắc lính ngụy, với đủ lọai lon khác nhau chất thành những đống to. Các lọai súng trường tự động, súng ngắn, tiểu liên cực mạnh và cả trung liên cũng xếp thành đống bên cạnh. Anh em kể:
 
        - Tụi nó chạy bán sống bán chết để thoát thân. Thằng ngồi xe Zeep, thằng ngồi xe gắn máy, xe đạp hay chạy bộ đều nhất lọat cới bỏ quân phục quăng ngổn ngang ngập đường, vứt mọi thứ vũ khí mang theo, chúng tôi mới gom lại thành nhiều đống tương tự như thế này.

        Chiều 01 tháng 5 năm 1975, các bạn đồng ngũ mở tiệc liên hoan mừng chiến thắng và chiêu đãi khách. Anh Phương Nam đã rỉ tai tôi:

        - Tối nay sẽ phát bài tường thuật hỏi cung Dương Văn Minh của cậu. Bài viết tốt, sinh động. Chắc sáng mai độc giả báo quân đội nhân dân sẽ có nhiều niềm vui mới.

        Các đồng chí ở Ban Liên hợp quân sự hai bên là tổ Liên hợp quân sự bốn bên đã hoàn thành sứ mạng thiêng liêng của Tổ quốc giao phó, thực hiện đầy đủ khẩu hiệu hành động “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #383 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 11:24:15 am »



TẤM ẢNH ĐẶC BIỆT

HOÀNG KHÁNH                

        11h30 ngày 30 tháng 04 năm 1975 1á cờ cách mạng ngạo nghễ tung bay tại Dinh Độc lập, sau đó cả nước được nghe lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện của Dương Văn Minh - Tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn.

        Phòng bảo vệ Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam (Cục chính trị B2) cùng với đại quân tiến về Sài Gòn và được lệnh tiếp quản khu vực số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc Quận I thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Đây là trụ sở của Cục an ninh quân đội nguỵ.

        Người dân miền Nam, đặc biệt là những ai đang ở Sài Gòn lúc bấy giờ đều biết địa danh nổi tiếng này. Ai bị bắt vào đây, ra khỏi cái địa ngục trần gian này là rất khó( ! ). Người nào, nếu không đủ chứng cứ là họ có tham gia hoạt động cho cách mạng, khi địch thả ra cũng mẻ trán, bươn đầu, mang thương tật suốt đời. Mỹ nguỵ bắt bớ những người yêu nước đưa vào đây giam cầm, tra tấn, đầy đoạ họ nhằm khai thác để đánh phá các cơ sở cách mạng của ta. Những đòn tra tấn từ cổ điển đến hiện đại nhất đều được Mỹ nguỵ đem ra ứng dụng. Công cụ để tiếp tay cho tội ác man rợ còn treo lơ lửng trong các phòng thẩm vấn. Mùi tanh lợm của máu các chiến sỹ cách mạng đổ ra ở đây càng làm tăng thêm vẻ lạnh lẽo đến gai người...

        Cổng sắt khu số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm trước kia thường đóng kín. Một bốt gác bê tông nhô hẳn ra ngoài, tên lính nguỵ đứng gác lăm lăm khẩu tiểu liên cực nhanh AR 15 trên tay, hắn sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ ai liều lĩnh vượt qua barie chắn trước cổng. Ai có việc phải đi qua đoạn đường này đều e ngại, cố vượt cho nhanh để tránh những phiền phức có thể xảy ra...

        Cơ quan an ninh Quân giải phóng tiếp quản một trong những công cụ chủ yếu của Mỹ nguỵ kìm kẹp, đàn áp cách mạng khốc liệt nhất, vì vậy chúng tôi càng phải tập trung thu thập toàn bộ số tài liệu của địch bỏ lại để phục vụ cho công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng và các lực lượng vũ trang ta sau này.

        Những ngày đầu tiếp xúc với các loại đồ vật, dụng cụ, sách báo, tranh ảnh trong công sở của Mỹ nguỵ thật khó chịu và kinh tởm. Đú loại tranh ảnh, sách báo đồi truỵ nhan nhản trên bàn làm việc, trên tường, trong ngăn bàn, các hộc tủ... Hình như các loại văn hoá phẩm đồi truỵ bẩn thỉu ấy của bọn xâm lược là thứ năng lượng tạo ra ma lực phản dộng nhất để chúng liều lĩnh chống phá cách mạng, chống lại nhân dân ta.

        Tôi đi nhanh một lượt qua các phòng, tới đâu cũng vậy, sách báo, tranh ảnh, giầy và quần áo lính nguỵ vứt ngổn ngang... Có mặt tại khu vực này trước chúng tôi là những chiến sỹ Quân giải phóng của cánh quân tiến trên đường Hồng thập tự (sau này đổi thành đường Xô viết Nghệ Tĩnh) họ băng qua cầu Thị Nghè, đến ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm rẽ trái, gặp đường Thống Nhất (sau đổi thành đường 30 tháng 04) tiến thẳng vào Dinh Độc Lập buộc Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện...

        Mọi thứ ở đây bị lục tung, vút bừa bãi ra sân, vườn và trên thềm nhà... Có nhiều dấu vết của bọn lưu manh hôi của. Chúng cạy phá, lục lọi tất cả các ngăn bàn, các hộc tủ, những cánh cửa tủ bật tung ra khỏi bản lề...

        Những ngày đầu giải phóng, cơ quan an ninh là đơn vị phải làm việc nhíều nhất. Vừa thu thập tài liệu, khẩn trương khai thác tài liệu, triển khai truy tìm ngay những kẻ không chịu ra trình diện chính quyền cách mạng còn lẩn trốn, lôi kéo, tụ tập nhau lại tiếp tục chống phá cách mạng, trong số này có Trần Hữu Độ - Đại tá, Cục phó Cục an ninh quân đội nguỵ. Chiều ngày 01 tháng 05 năm 1975, có người còn gặp Độ vậy mà không thấy có tên của y đăng ký trình diện( ! ) Hoặc những tên đầu hàng phản bội đã gây nhiều nợ máu với cách mạng, với nhân dân mà không hề ân hận để cải tà quy chính như Đoàn Văn Hà, Lê Duy Quyền... Chúng tôi lao vào công việc với mong muốn sớm vạch mặt bọn phản dân, hại nước để ngăn chặn những hậu quả mà chúng có thể gây ra. Chúng tôi khẩn trương nghiên cứu ngay những tài liệu mới thu thập được, khai thác ngay những thông tin đó, cả thông tin của quần chúng cung cấp, lời khai của những đối tượng là nhân viên cơ quan an ninh, tâm lý chiến, Thiên Nga, Phượng Hoàng, Phủ đặc uỷ trung ương tình báo nguỵ. Cơ quan tình báo Mỹ CIA và các cơ quan tình báo khác. Riêng công tác thu thập tài liệu, ngành bảo vệ quân đội đã hết sức quan tâm, thành lập hẳn một bộ phận chuyên trách. Tôi cũng được phân công làm nhiệm vụ trong bộ phận này.

        Tại số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm, địch bỏ lại rất nhiều tài liệu. Những người đến trước, do ý thức nghiệp vụ hạn chế nên không quan tâm! Bọn hôi của chỉ chăm chăm lục tìm tiền, vàng bạc, đá quý hoặc những thứ có giá trị kinh tế khác nên chúng không đoái hoài gì đến các loại tài liệu này. Chúng vứt thành đống ngổn ngang, trên sàn nhà, trong xó xỉnh, ngoài vỉa hè, sân vườn... Có ai đó còn dùng vào việc cá nhân rất bẩn thỉu. Đối với chúng tôi, khi xem lướt qua thấy có dấu hiệu mang ý nghĩa nghiệp vụ thì dù có rách nát, bẩn thỉu thì cũng vẫn đem về, khẩn trương khai thác ngay những "báu vật" đó. Qua nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đã có tài liệu sử dụng kịp thời cho công tác đánh địch trước mắt, một số khác dùng để đánh địch lâu dài...

        Tôi sục vào phòng làm việc của Vũ Đức Nhuận - Chuẩn tướng, Cục trưởng Cục an ninh quân đội nguỵ. Căn phòng khá rộng, đồ đạc ngổn ngang sau nhiều đợt lục lọi. Chiếc tủ gỗ to, choán khá nhiều diện tích căn phòng. Cánh cửa tủ ai đó đã mở, bên trong còn treo trên mắc áo bộ quân phục màu cà phê sữa, có bảng ghi tên "nhuận" khâu liền trên nắp túi áo bên phải, hai bên vai áo còn lon cấp tướng một sao (chuẩn tướng) của Nhuận. Bộ quân phục vẫn nguyên nếp là thẳng tắp, có lẽ vì vội trốn chạy nên y không kịp mang theo, không kịp cất giấu hoặc xoá bỏ dấu vết của một tên tay sai gần trọn cuộc đời cúc cung tận tuỵ với hết quan thầy thực dân Pháp lại đến đế quốc Mỹ!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #384 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 06:34:29 pm »

        Trên mặt bàn làm việc, quyển sổ công tác ở những trang cuối trước lúc trốn chạy y còn trao đổi công việc với Trần Hữu Độ - Đại tá, Cục phó Cục an ninh quân đội nguỵ; với Nguyễn Văn Học - Đại tá, trưởng phòng phản tình báo... Tại góc phòng, gần bàn làm việc của Nhuận có kê một két sắt to gần bằng chiếc tủ gỗ đựng quần áo. Đây là chiếc tủ két rất kiên cố, nặng hàng tạ, vỏ sắt ổ khoá số và có thể chống cháy, chống trộm... Tôi đoán, trong đó chắc chắn có nhiều tài liệu quan trọng. Những người đến trưỏc và bọn hôi của đều bó tay trước sự kiên cố của chiếc tủ két. Cũng đã có rất nhiều vết cậy phá còn để lại trên cánh cửa tủ và ổ khoá số. Như vậy những thứ ở bên trong vẫn còn nguyên vẹn.

        Tôi gọi đồng chí Thanh, quê Nghệ An, chuyên gia phá khoá của bộ phận thu gom tài liệu đến giải quyết ổ khoá số hiểm hóc này. Thanh cởi áo ngoài, mặc áo lót Đông Xuân, anh có thân hình chắc lẳn, mập mạp. Anh loay hoay cả tiếng đồng hồ, các bài mở khoá công khai, bí mật đã được học đều được ứng dụng hết cả nhưng không kết quả, mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm chiếc áo lót cộc tay. Chiếc két vẫn trơ trơ, ngạo nghễ thách thức mọi người. Có ý kiến : "Ta dùng khoan và cưa kim loại để phá vậy!" Mọi người không tán thành! Chiếc két càng khó mở thì độ tin cậy càng cao, giá trị sử dụng càng lớn. Để cất giữ các tài liệu quan trọng của ngành bảo vệ quân đội sẽ rất tốt... Quá trưa chúng tôi đành bỏ dở để về ăn cơm !

        Chiều, bộ phận thu gom tài liệu được "tăng cường" một thợ phá khóa chuyên nghiệp. ông này là người Hoa trong Chợ Lớn, thợ khoá lâu năm, tuổi gần 40, gày nhom nhom, đeo kính, nước da xam xám, chân đi dép lê. Cơ quan an ninh tốn khá nhiều công sức đi tìm vì ông ta không ở cố định tại địa chỉ nào. Ngày mới giải phóng như bao người lao động trong thành phố này, ông cũng phải kiếm kế sinh nhai, lo chạy từng bữa ăn để nuôi sống bản thân và gia đình. Tôi gặp ông, nói sơ qua về công việc, ông lắp bắp "dạ..dạ..." rối rít với dáng vẻ sợ sệt, khúm núm. Tôi động viên ông, nói về những đường phố mà tôi đã đi qua trong thời gian công tác tại Đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam tại BLHQS hai bên trong "trại Davis" ở Tân Sơn Nhất và hỏi thăm gia cảnh, tạo không khí vui vẻ, thông cảm để ông yên tâm làm việc. ông đã bình tĩnh và đến bên tủ két, đi vòng quanh, lùi ra xa khoảng hai mét ngắm nghía, sau đó lại đi thêm một vòng quanh tủ. Ông dừng lại, tiến đến bên két, tay trái tỳ lên cạnh tủ, tay phải đặt vào ổ khoá số, nhẹ nhàng xoay theo chiều kim đồng hồ mấy vòng, rồi quay ngược lại. Ông ghé tai vào gần tủ lắng nghe tiếng động bên trong... Cứ thế, xoay đi, xoay lại nhiều vòng ổ khoá, không rõ mấy mươi lượt như vậy? Phải mất khoảng gần chục phút, bỗng trong két có một tiếng bật "tách" và ông ta kéo tấm cửa sắt nặng nề ra rất dễ dàng. Mọi người đứng xung quanh đều trầm trồ thán phục. Tôi cũng mừng, nói với ông lời cảm ơn và hẹn sẽ còn phải nhờ ông giúp những trường hợp tương tự. ông tỏ ra rất phấn khởi vì "đã được Giải phóng tin cậy ! "

        Đúng như dự đoán, trong tủ sắt còn nguyên các tập tài liệu được xếp gọn tại ngăn trên cùng, đều là những tài liệu quan trọng thuộc loại "tối mật" của an ninh quân đội nguỵ. Nhuận còn để tiền và một số kim loại quý. Có hai khẩu súng ngắn, một khẩu Valte xinh xắn và một khẩu Rulos cối quay. Bên cạnh có mấy hộp đạn, ngoài hộp có nhiều viên đạn rời màu vàng ươm. Không hiểu những viên đạn rời để ngoài hộp có ý gì?  Có lẽ trước khi tháo chạy y đã tính đến chuyện tự kết liễu đời mình?  Nỗi ám ảnh về "một cuộc tắm máu sẽ xảy ra khi Sài Gòn thất thủ đã dồn kẻ bại trận vào một tình thế bất lợi như vậy!  Phải công nhận "thành tích" của bộ máy chiến tranh tâm lý khổng lồ Mỹ nguỵ đã lừa bịp được cả những tên tay sai trung thành như Vũ Đức Nhuận...

        Tôi xếp riêng các tập tài liệu để về nghiên cứu. Súng đạn, tiền và những đồ trang sức Ở trong tủ két được kê vào một biên bản để bàn giao cho bộ phận khác. Bỗng tôi chú ý đến một góc phòng gần chỗ ghế của Nhuận ngồi, ở đó có nhiều loại giấy tờ, có thứ đã viết, đã đánh máy và cả giấy trắng. Ai đó đã thu gom ở đâu đem đến đây, ném chồng chất lên nhau, rất lộn xộn... Tôi nhặt từng tờ có chữ viết và đánh máy để riêng ra, lần lượt xếp thành một tập dầy ngay ngắn. Phía dưới cùng của đơng giấy bỗng lộ ra nhiều tấm ảnh, tôi cầm lên xem và nhận ra ngay những đồng đội của tôi, họ đã cùng tôi chiến đấu trên trận tuyến "ngoại giao quân sự" trong Ban liên hợp quân sự bốn bên và hai bên trung ương. Các anh chị là thành viên của hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng: Đoàn của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (Đoàn A) và Đoàn của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (Đoàn B). Đây là một trận tuyến đặc biệt, không phải sử dụng súng đạn, không phải tiềm nhập bí mật vào căn cứ địch, không phải xông xáo giữa trận tiền khét lẹt mùi thuốc súng. Tại đây, mỗi cán bộ chiến sỹ ta phải chiến đấu với kẻ thù bằn., sự thông tuệ, khôn khéo, nhạy bén, dũng cảm, với những lý lẽ chính nghĩa được ghi nhận trong văn bản Hiệp định về chấm dút chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, vừa phải đối phó với đủ loại hình của chiến tranh thông thường, huỷ diệt, tâm lý... Hơn thế chúng tôi còn phải sống, làm việc, sinh hoạt như thế nào để nhân dân cả nước tin yêu, đồng bào đang phải sống trong vùng địch kiểm soát tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, bạn bè quốc tế mến phục, thông cảm và ủng hộ, còn kẻ thù phải kiêng nể. Đây cũng là một trận địa gay go, quyết liệt không kém gì ngoài tiền tuyến, phải trực diện với kẻ thù lắm mưu sâu, kế độc. Chúng liên tục đánh phá ta mọi lúc, mọi nơi kể cả những thủ đoạn đê hèn nhất! Song chúng đã thất bại hoàn toàn, hàng nghìn cán bộ chiến sỹ ta dù trong hoàn cảnh công tảc đấu tranh xa hậu phương, có lúc chỉ một vài người ở giữa hang ổ địch, vẫn giữ vững khí tiết, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, không để xảy ra một trường hợp đáng tiếc nào.

        Trong số những tấm ảnh thu được, tôi thấy có tấm chụp anh Lê Quang Hoà - Thiếu tướng, trưởng đoàn A đang ôm hôn anh Trần Văn Trà - Trung tướng, trưởng đoàn B. Phải công nhận đó là một tấm ảnh đẹp, chụp có kỹ thuật, độ nét cao, bố cục hợp lý, rất sống động và chứa chan tình cảm ruột thịt, tình đồng chí, tình bạn chiến đấu thuỷ chung, son sắt của hai lực lượng vũ trang cách mạng. Lúc đó, theo văn bản Hiệp định Paris nên tạm gọi là hai lực lượng gồm Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đối với chúng tôi thì không hề có sự tách biệt nào cả.  Chúng tôi cùng một mẹ Việt nam sinh ra, là quân đội của nhân dân, cùng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước, quyết thực hiện lời Bác Hồ đã kêu gọi: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào"và cùng dưới sự lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam quang vinh. Vì vậy, về bản chất chúng tôi chỉ là một!

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #385 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 07:24:52 pm »

        Một số tấm ảnh chụp các đồng chí thành viên của Đoàn A, quân phục Thu Đông gọn gàng, mũ kêpi đính quân hiệu, trên vai mang quân hàm trông vừa đẹp, vừa trang nghiêm. Có hàng trăm tấm chụp cán bộ, chiến sỹ Quân giải phóng của Đoàn B với dáng vẻ hiên ngang, đầu đội mũ cát cứng (mũ cối) và mũ tai bèo, quân phục đồng màu trông cũng rất đẹp, trên mũ đính ngôi sao vàng, giữa nền cờ nửa đỏ, nửa xanh của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Nét mặt mọi người trong ảnh rạng rỡ, tự hào mặc cho xung quanh có hàng trăm tên cảnh sát dã chiến, quân cảnh Mỹ nguỵ, an ninh và mật vụ mặc thường phục... Bọn quân cảnh và cảnh sát dã chiến trong tay lăm lăm súng đạn. Nhìn vào ảnh đã thấy rô sự tương phản giữa một bên những người chiến sỹ cách mạng đàng hoàng, chững chạc, bình thản trước kẻ thù còn bên kia loang lổ những bộ rằn ri dữ tợn, mặt mũi láo liêng, hoảng loạn, súng đạn đầy mình...

Nữ chiến sĩ quân giải phóng tại Tân Sơn Nhất 2-2-1973. Ảnh do nhân viên an ninh
chính quyền Sài Gòn chụp



2/2/1973 Tân Sơn Nhất. Nhân viên an ninh ngụy chụp

        Có nhiều tấm ảnh chụp các nữ chiến sỹ Quân giải phóng trông mới đẹp làm sao. Với bộ quân phục nữ, mũ tai bèo đính ngôi sao vàng trên nền cờ cách mạng và những bó hoa tươi thắm càng tôn thêm vẻ đẹp, niềm tự hào, kiêu hãnh của đoàn quân chiến thắng. Nhìn các cô, trong lòng tôi xốn xang dường như niềm kiêu hãnh, tự hào và vẻ đẹp ấy lan toả sang cả người xem ảnh. Cô Thuận, cô Chiến, cô Hồng, cô Loan, cô Nguyệt, cô Vân, cô Dung, cô Hạnh.., trông những cô gái thật rắn rỏi từ nét mặt, dáng đi rất tự tin, trên tay mỗi người có một bó hoa. Hoa từ Lộc Ninh do bà con trong vùng giải phóng tặng trước khi các cô lên máy bay trực thăng do phi công Mỹ lái để vào Sài Gòn. Bà con đã gửi trọn tấm lòng tin tưởng ngày thắng lợi hoàn toàn ước vọng đất nước sớm được hoà bình, thống nhất. Nụ cười nở bên những bó hoa tươi thắm càng tôn vẻ đẹp của những nữ chiến sỹ Quân giải phóng gấp bội phần.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #386 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 07:56:45 pm »

        Ảnh chụp chị Nguyễn Thị Ngọc Dung đang tươi cười bắt tay, phía sau là một sỹ quan Hungari thành viên của Uỷ ban Quốc tế. Không biết chị Dung bắt tay ai nhưng tôi đoán được người đối diện với chị phải là người rất quen thân trong phái đoàn của ta tại sân bay Tân Sơn Nhất.

        Có một số tấm chụp các anh từ Paris về. Anh Lê Trực có vầng trán cao, ngồi bên anh là Vũ Dũng (phiên dịch). Nhiều anh vẫn còn ngồi trong khoang máy bay. Có lẽ máy bay vừa ngừng trên sân đỗ, các "nhiếp ảnh gia" của cơ quan an ninh quân đôi ngụy đã kịp có mặt để ghi lại những hình ảnh này.

        Tôi lật phía sau một số tấm ảnh thấy có mấy dòng chữ ghi "29/1/73- 15h45" và "05 tên MTGP + BV trên phi cơ UTQ". Như vậy tấm ảnh được chụp vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 29 tháng 01 năm 1 973 và có 5 người của ta trên máy bay của Uỷ Ban quốc tế. Lại có một số tấm ảnh chụp ngày 28 tháng 01 năm 1973 và những ngày tiếp theo.

        Có tấm ảnh chụp anh Vũ Nam Bình và anh Ngô Thế Kỷ đang rảo bước trên sân bay. Chiếc ba lô con cóc nặng trĩu trên đôi vai gầy của các anh vẫn không làm giảm vẻ rắn rỏi nhanh nhẹn trong mỗi bước chân. Một tấm khác chụp anh Phú Bình (Phạm Phú Bằng) với thân hình gày gò được giấu trong bộ quân phục rộng thùng thình...

        Từ trong đống ảnh, tôi bỗng nhận ra một tấm có hình mình, buột miệng tự nhiên kêu: "A!" lên một tiếng. Đó là tấm ảnh đen trắng cỡ 6cm x 8cm, loại này nhỏ hơn hàng trăm tấm ảnh vừa xem trước. Có thể ảnh chân dung nên không cần phải làm lớn hơn(?!) Tôi cố nhớ lại, khi vừa bước chân xuống sân bay, hàng chục tên mặc quần áo dân sự nhâu nhâu chõ máy ảnh vào mình. Tôi cố tình quay phải, quay trái làm như đang tìm ai để không lọt hẳn khuôn mặt mình vào gọn trong ống kính, tên nhân viên an ninh quân đội này đã kịp chộp được một kiểu ảnh rất chính diện! Chiếc mũ tai bèo mới lĩnh từ quân nhu Đoàn 315A Ở Lộc Ninh nếp gấp vẫn còn hằn lên vành mũ vải. Nhìn kỹ mình trong ảnh cứ ngồ ngộ, tôi bỗng bật cười(!) Chưa bao giờ tôi nghĩ sẽ có lúc đứng ngắm ảnh chân dung của mình tại chính căn phòng làm việc của đối thủ sau cuộc trường chinh đầy máu lửa! Tấm ảnh này chác chắn bọn an ninh, bọn tình báo Mỹ nguỵ đã nhân bản nhiều lần cùng với ảnh của hàng nghìn cán bộ, chiến sỹ hai đoàn đaị biểu quân sự cách mạng trong Ban Liên hơp quân sự bốn bên và hai bên để chúng nghiên cứu, theo dõi...

        Hứng chí, tôi gom cả đống ảnh ai đó đã trút xuống góc phòng làm việc của Vũ Đức Nhuận gồm hàng trăm chiếc, cho vào túi nilon và quyết định giữ lại toàn bộ số ảnh đó, tôi tự xét thấy đây không phải là tài liệu, tiền bạc hoặc thứ được xếp vào hàng chiến lợi phẩm nên không phải lập biên bản bàn giao cho ai cả.

        Về tới phòng nghỉ, tôi giở tập ảnh ra xem. Lúc này có nhiều thời gian nên nhìn kỹ hơn, tôi thấy có mấy tấm ảnh chụp cảnh Hà Nội, cửa trại gíam Hoả Lò nơi này ai cũng biết là "khách sạn Hin - tơn Hà Nội" đón các vị khách không mời mà đến (!). Có tấm chụp công viên Thống Nhất. Có tấm chụp một đám đông người đứng bên đường, nổi lên trong đó có hai cánh tay giơ nắm đấm về phía trước... Có lẽ đây là lúc đoàn Mỹ và nguỵ ra Hà Nội nhận tù binh Mỹ do ta trao trả, ngoài đó đã tổ chức cho họ đi thăm quan(!) Nghĩ đến cách đối xử của phía Mỹ nguỵ với hai đoàn ta trong Ban liên hơp quân sự bốn bên và hai bên Trung ương ở Sài Gòn và các địa phương mà lòng tôi dâng trào phẫn nộ. Kẻ thù thật đê hèn, chúng rất hoảng sợ vì sự có mặt của những người lính cách mạng trong vùng chúng tạm thời kiểm soát!

        Bỗng tôi thấy có một tấm ảnh rất khác lạ, không như những tấm vừa xem trước đó. Tấm ảnh không có khuôn mặt của người nào. Tác giả cố ý chĩa máy ảnh xuống đất, trong khuôn hình chỉ có đôi chân người chiến sỹ Quân giải phóng, bên cạnh dựng khẩu tiểu liên báng gập AK47 và dưới hai bàn chân anh là đôi dép cao su. Tôi đã xem hàng trăm tấm ảnh, chiếc nào cũng có những khuôn mặt thân quen của đồng đội tôi trong đó. Kẻ địch chụp tất cả thành viên của hai phái đoàn ta, chúng chụp nhiều lần, nhiều máy ảnh cùng chụp, nhiều góc độ.., bọn chúng là nhân viên của các cơ quan an ninh, mật vụ, tình báo, cảnh sát.., nên "tay nghề" rất khá( ! ) ảnh của chúng tôi, địch đưa ra cho bọn đầu hàng, phản bội nhận mặt. Những thông tin cá nhân, lai lịch, quê quán, sở thích, cá tính, ưu điểm, nhược điểm của từng người trong hai đoàn ta sẽ bị địch dùng thủ đoạn câu nhử, lôi kéo, mua chuộc hoặc nếu cần thì khống chế, bắt cóc...

        Nhìn tấm ảnh, tôi cứ phân vân suy nghĩ: Tại sao người chụp tấm ảnh này chỉ chú ý đến hai loại đồ vật cần thiết nhất của người chíên sỹ Quân giải phóng? Những câu hỏi cứ lởn vởn xoay xung quanh chủ đề rất độc đáo mà tác giả buộc người xem phải đặt ra! Hồi lâu, tôi chợt nghĩ, kẻ chụp tấm ảnh này là nhân viên của Cục an ninh quân đôi nguỵ, chắc chắn y đã trải qua những ngày tháng kinh hoàng nhất trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968. Số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm án ngữ góc ngã tư đối diện với góc đường bên kia là Đài phát thanh, truyền hình Sài Gòn của nguỵ. Trong những ngày đó, Quân giải phóng đã tiến đánh vào vị trí đặc biệt quan trọng này. Đại sứ quán Mỹ ở gần đấy cũng bị đòn rất nặng nề. Cách không xa là Dinh Độc lập của nguỵ quyền, bọn tay sai đầu sỏ ẩn nấp trong tận cùng hang ổ không tránh khỏi những giây phút hoảng loạn... Cả Nhà trắng và Lầu Năm góc còn bạt vía, kinh hồn! Vậy thì người chụp ảnh cùng chung tâm trạng sợ hãi ghê gớm như quan thầy và đồng bọn của hắn. Sở thú Sài Gòn, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, cầu Thị Nghè và các đường phố trong nội thành Sài Gòn cùng các đô thị trên toàn miền Nam những ngày xuân Mậu Thân đều có bóng dáng của người chiến sỹ giải phóng quân. Chiếc mũ tai bèo, đôi dép cao su và khẩu súng AK 47 trở thành biểu tượng oai hùng của họ. Những hiện vật đó là niềm vui, niềm tự hào và tin yêu của đồng bào ta đang phải sống trong vùng địch kiểm soát. Trái lại, chính những đồ vật ấy đã gieo nỗi khiếp sợ cho cả bọn xâm lược và bè lũ tay sai. Hình ảnh những người lính chân đồng, vai sắt và anh dũng tuyệt vời đó luôn ám ảnh tâm trí của tác giả bởi hình tượng của họ trong cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt giữa hang ổ kẻ thù. Chỉ có chứng kiến tận mắt những hiện vật đó người chụp ảnh mới bị sốc đến thế! Sự nếm trải của y trong mùa xuân Mậu Thân năm ấy chắc không dễ xoá nhoà trong ký ức khi gặp lại nhửng hiện vật đã làm cho hắn mất ăn, mất ngủ nên vội thu vào trong ống kính nghiệp vụ của một nhân viên an ninh quân đội nguỵ như vậy!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #387 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 08:35:12 pm »

        Càng nhìn tấm ảnh, tôi như thấy những bước chân thần tốc của các cánh quân ta đang rầm rập tiến vào giải phóng Sài Gòn, thấy dáng đứng của người dũng sỹ trên đường băng Tân Sơn Nhất ngày nào... Ký ức những năm tháng chinh chiến trên khắp các nẻo đường đánh Mỹ ùa về quanh tôi. Cùng đôi dép thần kỳ đã đưa tôi đến với Tây Nguyên bất khuất, nơi có chiến dịch PleiMe hào hùng, ngay từ trận đánh đầu tiên với Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ (Sư đoàn kỵ binh bay Mỹ). Thú vị biết bao khi lực lượng chúng tôi chỉ được trang bị vũ khí bộ binh nhẹ với hoả lực vác vai đã tả xung, hữu đột "bám thắt lực địch mà đánh" trước một đối thủ có ưu thế tuyệt đối về các loại hoả lực phi pháo... Hơn nữa, đơn vị này còn được Nhà trắng và Lầu Năm góc ưu tiên trang bị những vũ khí hiện đại nhất, sức công phá lớn nhất của hoả lực, khả năng cơ động cao nhất với gần năm trăm máy bay lên thẳng để có thể tạo nên những yếu tố bất ngờ trên các chiến trường...

        Oái oăm thay cho đạo quân thiện chiến hung hăng đó khi chúng dương dương tự đắc nhảy cóc, đổ bộ xuống thung lũng IaĐrăng dưới chân dãy ChưPrông hùng vĩ. Chỉ trong vài ngày đã phải chịu thất bại nặng nề, ta diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ, một tiểu đoàn Mỹ khác bị đánh tơi tả. Chúng đã phải ôm đầu máu bỏ chạy và mất hàng mấy chục năm sau mới lý giải được nguyên nhân bại trận này !... Ngay từ đó, bóng dáng chiếc mũ tai bèo, đôi dép cao su và tiếng đạn liên thanh chát chúa của AK47 đã là nỗi ám ảnh kinh hoàng cho những tên xâm lược rồi!

        Đôi dép đơn sơ gắn bó với cuộc đời người lính trong những năm tháng chiến tranh. Đã bao lần đôi dép ấy đưa tôi đến các vùng đất xa xôi, nơi quân thù đang ngày đêm dày xéo quê hương. Nhiều đêm hành quân ra trận, đôi vai trĩu nặng súng đạn, tư trang, rồi mưa dầm, bão giật, bom pháo quân thù xé đứt đội hình, cơn sốt rét quái ác bỗng ập đến, tôi vẫn nghiến răng theo sát đoàn quân. Đã có lần bùn ngập ngang đùi, phải nhờ tới chiếc gậy phụ giúp mới rút được chân lên thì chiếc dép thân thiết ấy bỏ tôi mà nằm lại chỗ cũ. Do mang vác nặng nề nên người cứ đổ nghiêng, đổ ngả. Những vật trên vai, trên lưng được thể đè nghiến lên người tôi. Phải khéo lựa mãi mới gượng đứng lên được. Khi đó sục tay xương bùn tìm thì không sao thấy dép(!) ánh chớp, đêm giông không đủ sáng để định hướng vị trí chiếc dép nằm ở chỗ nào. Pháo sáng cầm canh từ đồn thù lúc mờ lúc tỏ, chẳng giúp gì cho việc tìm kiếm. Đơn vị vẫn hành tiến, tôi đành bỏ chiếc dép lại, nghiến răng cứ chân dép, chân không để bước theo đoàn quân... Còn một chiếc dép nhưng tôi không dám vứt vì hy vọng mỏng manh là sẽ nhặt được đâu đó một chiếc khác. Hơn nữa, bên chân có dép phải chịu trọng lượng nhiều hơn cho bên không dép.

        Ai rơi vào hoàn cảnh này mới thấy được hết sự cần thiết gắn bó giữa một đồ vật đơn sơ với bản thân mình là không thể thiẻú được. Thật khốn khổ cho những ngày mất dép! Những lúc dẫm phải vật cứng, chưa nói đến mảnh bom đạn hay đá, cũng đã đau đớn lắm rồi! Vì vậy chỉ mong sao sớm được về hậu cứ, quân nhu bổ sung cho đôi dép khác. Phải nói mong hơn ngày thơ ấu đợi mẹ đi chợ về... Những ngày ấy mới dài lê thê làm sao!

        Chính nhờ lần mất dép ấy đã cho tôi một kinh nghiệm quý báu để đến khi tôi được giao nhiệm vụ dẫn giải bọn tù binh Mỹ từ trận điạ về hậu cứ. Lần đó chúng tôi nhận bàn giao xong tôi nói với đồng chí phiên dịch phải bắt bọn chúng cởi giầy. Sau đó buộc hai chiếc lại với nhau, thắt nhiều nút thật chặt để khi tháo sẽ khó khăn, đề phòng nếu chúng bỏ trốn thì không kịp xỏ chân vào giầy. Mỗi tên đeo hai chiếc giầy đã buộc chặt vào nhau lên cổ. Nhờ vậy, bốn những tên Mỹ cao lớn rón rén bước chân trên mặt đất, tôi lại nhớ mấy lần mất dép khốn khổ của mình. Lần nào cũng phải mang vác nặng, đi trong đêm tối, đau yếu bệnh tật và dưới trời mưa giông bão, đường trơn lầy lội. Còn bọn Mỹ tuy phải đi bằng chân đất nhưng chúng không mang vác thứ gì, đi giữa ban ngày, đường giao liên rộng rãi, khô ráo. Bọn chúng mới từ Mỹ sang chưa bị sốt rét, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng nên khoẻ như trâu. Bước sải chân của chúng dài gần gấp rưỡi nên dù chậm rãi bước đi thì anh em ta cũng phải chạy gằn, ráng sức. Bọn này trọng lượng trung bình nặng hàng tạ. Cùng đợt dẫn giải này có mấy tên Mỹ bị thương, anh em đơn vị vận tải phải khiêng cáng. Cứ mỗi tên, ta phải có bốn người, hai người một đầu mới khiêng nổi. Từ trận địa ra tới đường giao liên băng qua rừng rậm núi cao, vực sâu nên các đồng chí vận tải cực hơn chúng tôi rất nhiều( ! ) Đã vất vả ghê gớm, thiếu thốn đủ thứ, sức khoẻ rất kém nhưng không ai kêu ca, không chối bỏ nhiệm vụ và đã khiêng cáng những tên xâm lược đó về đến bệnh viện để điều trị, khai thác tin tức phục vụ cho đơn vị chiến đấu.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #388 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 08:51:11 pm »

        Đối với chúng tôi, dẫn giải những tên tù binh tuổi đời rất trẻ, khoẻ là một việc hết sức khó khăn. Ngày đi, đêm nghỉ. Mọi việc ăn uống trên đường cho bọn chúng do bộ phận dẫn giải tự lo toan. Trên đường cho chúng ăn uơng và cảnh giới đề phòng chúng chạy trốn. Tối đến sau khi ăn uống xong, căng võng, căng tăng (mái bằng nilon) và kiểm tra lại dây trói (phải trói để chúng không chạy nhanh vì đêm tối sẽ rất khó phát hiện). Tuy trói nhưng không được làm cho chân tay chúng bị tụ máu, thế mới khó!

        Mỗi khi đến trạm giao liên, chúng tôi lại cử người xuống suối kiếm cá. Giỏi lắm cũng chỉ được vài con bằng ngón tay. Đem cá ra nướng, đến bữa ăn chia cho mỗi tên Mỹ một nửa con cá chấm muối để ăn với cơm. Bọn này ăn cơm rất ít. Gọi là cơm cho sang vì gạo được cấp lấy từ kho để cũng vài năm rồi. Mùi hôi của mốc, của bao tải bốc lên rất khó ngời. Tuy thế chúng còn được ăn cơm. Anh em chúng tôi ăn ngô và sắn do trạm giao liên cung cấp. Anh nuôi lấy sắn nấu canh, nêm muối và một thìa bột ngọt vào nồi canh to mà mấy tên tù binh ăn rất ngon lành. Chúng luôn mồm "Thank you!" Thì ra bọn này quen ăn súp nên canh sắn giống với món ăn quen thuộc hàng ngày của chúng. Riêng số tù binh bị thương còn được quân y cho chúng uống sữa. Đây là loại thực phẩm cao cấp đối với chúng tôi ở chiến trường B3.

        Chiều. Đến trạm giao liên. Trong lúc ngồi nghỉ, đồng chí giao liên tháo dây thắt lưng lấy chiếc điếu cày ra để hút thuốc lào. Anh nhồi thuốc đầy nõ điếu, châm lửa và rít một hơi dài. Anh ngửa cổ nhả khói lên cao, mắt lơ đãng nhìn trời qua đám lá rừng, vẻ mặt mãn nguyện. Tiếng kêu của điếu làm mấy tên tù binh chú ý, chúng ngạc nhiên và rất thích thú. Tên tù binh da đen mạnh dạn chìa tay xin được hút thử. Mọi thao tác đồng chí giao liên làm giúp đưa điếu cho hắn và ghé mồm vào ống điếu hướng dẫn cách hút. Anh châm lửa. Tên Mỹ cũng rít thật mạnh một hơi dài, nuốt ực khói. Mọi người chăm chú nhìn tán thưởng. Hắn lờ đờ, từ từ ngả người, hai mắt chớp chớp, giật giật, hai ngón tay cái vê vê những ngón tay còn lại và lăn ra đất. Hắn say thuốc!

        Những tên khác thấy thế sợ hãi cuống quýt hỏi người phiên dịch. Nghe giải thích đó là "say thuốc" chúng mới bớt sợ hãi. Phải mất vài phút sau, tên Mỹ tỉnh lại, ngồi dậy và hỏi "Thuốc gì mà khủng khiếp vậy?" Đồng chí phiên dịch giải thích tỷ mỉ về loại thuốc, tên gọi, nơi trồng ra thứ thuốc "khủng khiếp" này, tập quán hút thuốc ìào của người Việt Nam... Nghe xong cả bọn lè lưỡi, lác đầu nhưng rất thích thú vì đã phát hiện ra một loại hình sinh hoạt mới lạ của vùng đất chúng đến xâm lược. Tên Mỹ da đen lại mạnh dạn xin thêm mấy điếu thuốc nữa để dành sẽ hút dần. Anh giao liên ngắt một chiếc lá to, dốc cả túi thuốc vào lá rồi gói lại, anh đưa cho hắn, tay véo một mảng thuốc lào nhỏ, vê tròn và hướng dẫn cách nhồi thuốc vào no điếu. Hắn khoái chí nhe hàm răng rất trắng tương phản với nước da đen kịt và cưởi. Cả bọn thấy vậy cùng cười và quên cả sợ hãi...

        Đôi dép cao su còn gắn bó với tôi trên nhiều nẻo đường chiến dịch, trên các chiến trường để đến với "Miền Đông gian lao mà anh dũng!" Cũng từ đây đôi dép cao su lại đưa tôi vào tận hang ổ quân thù, nện gót trên đường băng Tân Sơn Nhất, đứng trên đường phố Sài Gòn hiên ngang tư thế của người chiến thắng làm nhiệm vụ thi hành Hiệp định Paris. Cuối cùng đôi dép đơn sơ ấy lại cùng tôi đến tận sào huyệt của chúng để truy lùng bọn phản dân, hại nước không chịu ra trình diện cách mạng, thu hồi những tài liệu chúng bỏ lại để phục vụ cho việc đánh địch sau này.

        Đôi dép đã là một phần không thể thiếu của cuộc đời người lính chiến, gắn bó thân thiết với tôi trong suốt chặng đường đầy chông gai khốc liệt nhất của cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước và chứng kiến tất cả những buồn vui mà tôi ttải qua. Nhiều lúc tôi nghĩ nếu thiếu đôi dép ấy ở chiến trường không hiểu sẽ phải vượt qua khó khăn đó ra sao(?) Và tôi thầm cảm ơn người sáng tạo ra "đôi hài ngàn dặm" thần kỳ để dùng trong mọi loại địa hình, mọi thời tiết, giúp người lính cách mạng lập nên chiến công hiển hách đánh thắng quâỉl xâm lược.

        Những vẫn thơ của Tố Hữu đã nói lên tư thế của người chiến sỹ Giải phóng quân mà tôi rất yêu thích:

                                      ”...Vẫn đôi dép lội chiến trường
                                        Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy
                                        Tuốt gươm không chịu sống quỳ
                                        Tuổi xanh chẳng tiếc, tiếc chi bạc đầu... "


        Vào những dịp lễ kỷ niệm của đất nước, của quân đội, tôi thường đem "tấm ảnh đặc biệt" này ra xem. Dù trong đó không có hình dáng thân quen nào của đồng đội tôi, chỉ có khẩu súng AK47 và đôi dép cao su huyền thoại đã làm cho kẻ thù khiếp sợ. Tôi quyết định sẽ giữ mãi tấm ảnh này để minh chững cho con cháu tôi và các thế hệ mai sau biết về một loại hiện vật lịch sử có một thời tiếp sức cho các lớp ông cha viết nên trang sử hào hùng, lập nên chiến công vĩ đại nhất của dân tộc.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #389 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2012, 09:10:48 pm »



MỘT SỐ MẨU CHUYỆN VỀ LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
 TRONG BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ

Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh (Tự Quyết)              

        Ngày 27 – 01 – 1973, Hiệp đinh Paris về chấn dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Đây là một thắng lợi to lớn mang tính lịch sử của quân và dân ta sau gần 5 năm vừa đánh, vừa đàm, buộc đế quốc Mỹ phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ nước ta; buộc chúng phải chấm dứt chiến tranh chống Việt Nam; Phải rút quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam…

        Lực lượng Công An Nhân Dân dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công An mà người đứng đầu là đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, ủy viên Bộ Chính Trị đã chủ động chuẩn bị lực lượng mọi mặt và 9 phương án như phương án công tác Công An trong việc tổ chức trao trả giặc lái, tù binh, phương án tiếp nhận số cán bộ, chiến sỹ của ta bị địch bắt; Phương án công tác an ninh trong Ban Liên hiệp quân sự…(Nghị quyết Hội Nghị Công An toàn quốc lần thứ 27 từ ngày mùng 5 đến ngày 12/1/1973) để tham gia thực hiện nhiệm vụ chức năng của ngành Công An khi có giải pháp chính trị.

        Nghị định thư Hiệp định Paris từ diều 10 đến diều 18, nói về nhiệm vụ chức năng, tổ chức phương thức họat động, nơi đóng quân, phương tiện kỹ thuật, kinh phí của Ban Liên hợp quân sự 4 bên, 2 bên từ Trung Ương xuống các khu vực, các tổ liên hợp quân sự ở địa phương (tỉnh).
Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công An đã có phương án công tác, chỉ đạo triển khai chặt chẽ, huy động toàn bộ các đơn vị nghiệp vụ chức năng, với Ban An Ninh Trung Ương Cục và các dịa phương có liên quan, gắn bó chặt chẽ với Quốc Phòng. Việc triển khai thực hiện Hiệp định Paris thu được nhiều kết quả sau 60 ngày kết thúc nhiệm vụ Ban liên hợp quân sự 4 bên, chuyển sang thực hiện nhiệm vụ Ban liên hợp quân sự 2 bên, khi họp với anh em, đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn phát biểu có một câu làm mọi người nhớ mãi: “60 ngày bằng 20 năm”. Nhưng do thiếu tổng kết, các đồng chí chủ trì, người mất, người còn, anh em Công An trong Ban liên hợp quân sự cũng chưa có dịp gặp nhau trao đổi nên người viết bài này chỉ ghi lại một số mẩu chuyện anh em kể lại.
 
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM