Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:00:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315193 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #410 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 06:59:25 pm »

        Trong đấu tranh ngoại giao đã phải vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, tình đồng chí, đồng đội luôn sát cánh bên nhau, khi chiến đấu vũ trang, sống chết có nhau, tình đồng chí đồng đội lại càng gắn bó hơn.
   
        Trụ sở của hai đoàn đại biểu quân sự ta ở trại Đavít đã trở thành một ốc đảo cách mạng, như một căn cứ lõm giữa sào huyệt kẻ thù, được pháp lý của hội nghị Pari thừa nhận, một trận địa cách mạng công khai ngay trong lòng địch.

        Dựa vàp ưu thế chính nghĩa, dựa vào lợi thế pháp lý và ngoại giao của Hiệp định Pari mang lại, dựa vào sức mạnh của ta ngày càng thắng lợi trên chiến trường. Từ nơi đây, hai đoàn đại biểu quân sự ta đã dõng dạc tố cáo, vạch trần những âm mưu thủ đoạn và mọi hành động phá hoại Hiệp định Pari một cách có hệ thống của Mỹ, ngụy, lý giải một cách thuyết phục sự cần thiết và chính đáng các hành động vũ trang bắt buộc của ta giáng trả sự phản bội của đối phương trước dư luận trong nước và thế giới.
   
        Trại Đavít, địch hy vọng sẽ vây hãm và cô lập ta, nhưng chính từ nơi đây, các sỹ quan liên hợp của hai đoàn đại biểu quân sự ta có vài chục lần được cử đi cùng Uỷ ban Quốc tế giám sát quân Mỹ và quân các nước chư hầu rút khỏi miền Nam Việt Nam, giám sát các đợt trao trả của các bên, giám sát, kiểm tra các trại giam của địch giam giữ người của ta và điều tra các vụ việc vi phạm hiệp định của đối phương. Ngoài ra, tháng nào hai đoàn ta cũng có vài lần vào Sài Gòn làm việc với Đoàn Hunggari và Balan trong Ủy ban Quốc tế, mỗi lần vào thành phố đều thấy nhân dân vui mừng và vẫy chào (thời gian ta mới vào), về sau chỉ thấy dân nở nụ cười thông cảm, có lẽ bị cảnh sát đàn áp…
   
        Nơi đây, ta đã có quan hệ tiếp xúc với đại diện của gần 80 hãng thông tấn báo chí, phát thanh truyền hình trên thế giới. Trong hơn hai năm ta đã tổ chức hàng trăm cuộc họp báo, tiếp hàng ngàn lượt nhà báo quốc tế, phần lớn lúc đầu họ chưa mấy cảm tình với cách mạng nhưng càng về sau càng hiểu rõ sự nghiệp chính nghĩa của ta cho đến khi Sài Gòn và miền Nam được hoàn toàn giải phóng, các tin tức bình luận được phát đi từ Sài Gòn đều nhấn mạnh tương đối khách quan thắng lợi trọn vẹn của ta, không có hiện tượng phê phán, bài xích…
   
        Cũng từ nơi đây, hai đoàn đại biểu quân sự ta đã phối hợp, hợp tác với Ủy ban Quốc tế ngay từ đầu. Mặc dù âm mưu của Mỹ-ngụy rất thâm độc, thái độ của các thành viên đối lập (Inđônêxia, Canada) trong Ủy ban Quốc tế rất xấu, nhưng ta và các thành viên XHCN (Hunggari, Balan) đã phối hợp đấu tranh tốt, đem lại một số kết quả tích cực. Nổi bật là:
   
        - Trong thi hành hiệp định, ta nắm vững và kiên quyết đấu tranh để bảo vệ và thực hiện triệt để thành quả pháp lý nói trên, giữ cho Ủy ban Quốc tế hoạt động theo đúng tinh thần và lời văn của hiệp định trong thực thi nhiệm vụ của mình, bảo đảm tính vô tư, khách quan.
   
        - Uỷ ban Quốc tế đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát quân Mỹ, quân các nước chư hầu rút hết ra khỏi miền Nam Việt Nam và một số đợt trao trả tù binh, tù dân sự.
   
        - Trong tổng số 390 cuộc điều tra Uỷ ban Quốc tế đã tiến hành, đã kết luận 5 vụ ngụy Sài Gòn vi phạm hiệp định, trong khi đó Uỷ ban Quốc tế  đã không có một kết luận vi phạm nào đối với phía ta.
   
        - Ta đã gửi đến Uỷ ban Quốc tế  một số lượng Công hàm áp đảo để tố cáo, vạch mặt địch phá hoại hiệp định, đẩy mạnh chiến tranh; Qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh dư luận chung, tạo thuận lợi cho hỗ trợ và phục vụ chiến trường.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #411 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 07:02:03 pm »

        Trại Đavít, trụ sở của hai đoàn đại biểu quân sự ta mà Mỹ-ngụy có ý đồ bằng mọi cách cô lập thì trong những ngày cuối cùng của chiến tranh lại là nơi chúng đến cầu cạnh nhiều nhất, từ tên Mắc Tin đại sứ Mỹ bắn tin qua đoàn Hunggari để được gặp đoàn ta nhưng ta không trả lời. Ba đoàn khác gồm Bộ trưởng, linh mục, luật sư do những tên đầu sỏ ngụy Sài Gòn cử đến với danh nghĩa lực lượng thứ ba, để thăm dò, tìm hiểu ý đồ và mục tiêu cuối cùng của ta, số thì xin gặp trưởng đoàn ta, số thì xin ra gặp Hà Nội v.v… đều bị ta bác bỏ.
   
        Và chính nơi đây "Là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị, quân sự đặt ngay trong lòng địch" như lời của đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh quân đôi nhân dân Việt Nam đánh giá.
   
        Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh thì nhận xét rằng:

        -  Các đồng chí của ta ở Tân Sơn Nhất có một thế đứng riêng, thế đứng công khai, hiên ngang giữa lòng địch, thế đứng đó không những tiêu biểu cho cách mạng, cho chính nghĩa về mặt chính trị mà nó còn giúp cho Đảng hiểu thêm lòng dân với sự nghiệp giải phóng và hiểu kẻ thù trước những ngày chúng giẫy chết.
   
        Thượng tướng Trần Văn Trà - Tư lệnh quân giải phong miền Nam, phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 3/5/1975 vào thăm và tuyên bố:

        -  Quân ủy miền công nhận đơn vị Trại Đavít là một tiền tiêu của chiến dịch Hồ Chí Minh.
   
        Trong suốt 823 ngày đêm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của kẻ thù, với lòng quả cảm, kiên cường, các chiến sỹ cách mạng đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa của Tổ quốc Việt Nam, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm, mưu trí, chủ động tấn công địch, đồng thời hai đoàn đại biểu quân sự ta đã thể hiện sự khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo theo phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
   
        Dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh cách mạng, dựa vào pháp lý của Hội nghị Pari, được sự chỉ đạo chặt chẽ của trên và có thắng lợi giòn giã của quân dân ta trên chiến trường cổ vũ, những chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao quân sự mà tiêu biểu là các chiến sỹ tại trại Đavít đã đấu tranh sắc sảo, chiến thắng kẻ thù và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đắc lực vào việc thực hiện Hiệp định Pari, buộc quân xâm lược Mỹ và quân các nước chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29/3/1973, buộc địch phải trao trả những cán bộ, chiến sỹ của ta bị địch bắt và nhân viên dân sự, những cán bộ chính trị, cơ sở cách mạng của ta. Đó là sự đấu tranh kiên định cho một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
   
        Trại Đavít trở thành một biểu tượng sáng ngời tư tưởng cách mạng tiến công và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh trên thế giới.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #412 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 07:07:02 pm »


TRÍCH BÀI PHÁT BIẾU
CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO NGUYỄN DY NIÊN
TẠI LỄ TRAO TẶNG KỶ NIỆM CHƯƠNG
VỀ THÀNH TÍCH ĐÓNG GÓP VÀO VIỆC
THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM.
             
     
        Tại Hà Nội ngày 16 tháng 12 năm 2005 Sau khi thay mặt Bộ Ngoại giao hoan nghênh và chào mừng các đồng chí có mặt trong buổi lễ và bầy tỏ lòng trân trọng đối với công lao đóng góp to lớn của tất cả cán bộ chiến sỹ đã tham gia "Ban liên hiệp quân sự 4 bên và 2 bên từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 đồng chí Bộ trưởng nói.

        " Nếu như hội nghị Paris về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn và phức tạp thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Paris cũng là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức găy go và quyết liệt ".

        Từ sau khi hiệp định Pans được ký kêt ngày 27 tháng 01 năm 1973, tại trại Đa -Vít bên trong sân bay Tân Sơn Nhất giữa một căn cứ quân sự khổng lồ của kẻ thù và trên 7 khu vực ở miền Nam Việt Nam cũng như một số địa phương có trên một nghìn cán bộ chiến sỹ cách mạng vào sống trong vùng của đối phương kiểm soát làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự để thi hành hiệp định Paris về Việt Nam.

        Từ chiến trường khốc liệt với tiếng súng, tiếng bom các đồng chí đã bước vào cuộc chiên đấu mới, cuộc chiến đấu về ngoại giao quân sự xung quanh những vấn đề quan trọng đầu tiên của Hiệp định Pans.

        - Đó là vấn đề ngừng bắn và vấn đề quân Mỹ, quân chư hầu của Mỹ phải rút hết khỏi miền nam Việt Nam.

        - Đó là vấn để trao trả nhân viên quân sư bị bắt,thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ "

        "Trong suốt thời gian làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của địch, với lòng quả cảm các đồng chí đã dương cao ngọc cờ quang vinh của Tổ quốc Việt Nam, ngọn cờ bách chiến bách thắng của lực lượng vũ trang cách mạng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm mưu trí, chủ động tấn công địch đồng thời thể hiện sự, khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo theo phương châm " Dĩ bất biến ứng vạn biến " của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

        "... Dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh cách mạng, dựa vào pháp lý của Hiệp định Paris, được thắng lợi ròn rã của quân dân ta trên chiến trường cổ vũ những chiến binh trên mặt trận ngoại giao quân sự mà tiêu biểu là các chiến binh tại trại Đa -Vít trong suốt 823 ngày đêm đã đấu tranh hết sức sắc sảo trước kẻ thù. Đồng thời hơp tác và tranh thủ một cách có hiệu quả với Uỷ ban Quốc tế mà đặc biệt là với đoàn Hungari và Ba lan.

        Các đồng chí đã hoàn thành xuất săc nhiệm vụ.

        Đã góp phần tích cực đấu tranh thúc đẩy quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền nam Việt Nam ngày 29 tháng 3 năm 1973.

        Đã đấu tranh góp phần buộc địch phaỉ trao trả phần lớn những cán bộ chiến sỹ của ta bị địch bắt và một số nhân viên dân sự - những cán bộ chính trị, cơ sở cách mạng cuả ta.

        Góp phần đấu tranh một cách mạnh mẽ, kịp thời, với tư thế của đội quân chiến thắng có mặt tại sào huyệt của địch,vạch trần những âm mưu thủ đoạn và mọi hành động phá hoại Hiệp định Paris một cách có hệ thống của Mỹ- Nguỵ trước dư luận trong nước và thế giới... "

" Đảng và nhà nước ta mãi mãi ghi công những người con ưu tú của Tổ Quốc những đồng chí công tác tại hai đoàn Đại biểu Quân sự Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên.

        Các đồng chí đã sống, chiến đấu và cống hiến hết mình cho ngày toàn thắng của dân tộc, xứng đáng được mọi thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ và biết.

        Các đồng chí là tấm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng quả cảm và tính kiên định về đấu tranh cách mạng và là sự kết hơp rất đẹp giữa Nhân - Trí - Dũng "

        Đến hôm nay, một số các đồng chí đã Vĩnh biệt chúng ta, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào, đồng chí.

        Chúng ta mãi mãi ghi nhớ công lao to lớn của các đổng chí đã đi xa và xin phép được chia sẻ nỗi nhớ thương với những người thân của các đồng chí đó.

        Để biểu dương những thành tích và đóng góp to lớn của các đồng chí trên mặt trận đặc biêt này thay mặt lãnh đạo Bộ Ngoại giao. Tôi trân trọng trao tặng các đồng chí kỷ niệm chương về thành tích đóng góp vào việc thi hành Hiệp Định Paris về Việt Nam. "

        Và cuối cùng Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đã chúc tất cả các đồng chí Cán bộ, chiến sỹ đã tham gia đấu tranh ngoại giao quân sự luôn mạnh khoẻ, tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng của những chiến sỹ "Trại Đa-vít" năm xưa trong công tác và cuộc sống hôm nay.

       
NGƯỜI GHI LẠI           
Vũ Nam Bình             
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #413 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 07:11:53 pm »


NIỀM VUI VÀ TỰ HÀO CỦA NHỮNG NHÀ NGOẠI GIAO MẶC ÁO LÍNH
             
     
        Nhân kỷ niệm 30 năm Đại thắng mùa Xuân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30.4. 1975 - 30.4.2005) Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã ký Quyết định số 970/QĐKT ngày 28.04.2005 về việc tặng thưởng Kỷ niệm chương cho cán bộ, chiến sỹ quân đội "đã có những đóng góp to lớn vào việc thi hành Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam tại Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên ở trại Đa-vít Tân Sơn Nhất - Sài Gòn - Gia Định từ ngày 27.01. 1 973 đến 30.04. 1975" (Trích Điều 1 - Quyết định số 970/QĐKT ngày 28.04.2005).

        Nhận được tin vui, nhiều anh chị em rất xúc động, vội thông báo ngay cho nhau suốt từ Bắc đến Nam, từ các tỉnh thành gần Trung ương đến những vùng xa xôi, hẻo lánh biết được sự kiện này. Bằng điện thoại, bằng thư từ và bằng các phương tiện có thể đến với nhau gặp trực tiếp trao đổi cho cụ thể, chi tiết hơn. Giờ đây có nhiều đồng chí đã bước vào lứa tuổi "xưa nay hiếm". Một số đồng chí không còn nữa: Anh Trần Văn Trà, anh Lê Quang Hoà, anh Hồ Quang Hoá, anh Trần Văn Danh, anh Bùi Thanh Khiết, anh Nguyễn Văn Sỹ, anh Võ Đông Giang, anh Đoàn Huyên... Nhiều người hiện nay tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, đi lại rất khó khăn do di chứng của hai cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc. Tuy vậy, nhiều anh chị em vẫn cố gắng tìm gặp nhau, ôn lại những tháng năm gian khổ, ác liệt, nằm gai, nếm mật trên các chiến trường. Họ nhớ về một thời đạn bom, một thời khói lửa, khoảng cách của sự sống với cái chết chỉ trong gang tấc nhưng mọi người vẫn lạc quan, tin tưởng tuyệt đối vào ngày thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng... Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, với khoảng thời gian từ ngày đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phải cam kết ký vào bản Hiệp định Pa-ri cho đến ngày toàn thắng 30.04.1975, những ai đã từng công tác tại BLHQS 4 bên và 2 bên đều coi đó là một trong những dấu ấn sâu đậm nhất của đời mình.

        Tại mặt trận mới này, không như ngoài chiến trường chúng tôi đối mặt với kẻ thù bằng súng đạn, phải hết sức mưu trí, linh hoạt dũng cảm nhằm bảo toàn tính mạng mình, kiên quyết tiêu diệt kẻ địch. Còn ở đây, đối mặt với kẻ thù trực diện với mình cần có lập trường cách mạng kiên định, hiểu sâu, biết rộng, nắm vững đường lối quan điểm của Đảng, nắm vững nội dung cơ bản của Hiệp định Pa-ri, dùng lý lẽ đấu tranh, bảo vệ công lý...

        Chúng tôi nhớ lại những phút giây có mặt giữa Sài Gòn xung quanh mật thám, mã tà, cảnh sát, an ninh với nhiều mưu ma, chước quỷ, kể cả súng đạn lăm lăm chĩa vào người hòng đe doạ áp đảo. Nhưng chúng tôi chẳng ai nao núng, vẫn ung dung nói cười, trìu mến nhìn nhân dân đang đứng gần đó biểu lộ vẻ thân thiết, ruột thịt. Ngày mới vào Sài Gòn, nhiều đồng chí vẫn còn sốt rét, nước da xạm đen, xanh xao, gày guộc, trên mình còn khét lẹt mùi thuốc súng đạn bom, ngai ngái cay nồng của chất độc hoá học. Mọi người đã ung dung tiến vào trận địa mới - Trận địa ngoại giao quân sự. Ai nấy khẩn trương lao ngay vào công việc, làm quen với văn bản Hiệp định Pa-ri, phải học, phải nghiên cứu kỹ từng câu chữ, từng điều văn ghi trong đó. Vì từ đây sự hiểu biết, nắm chắc nội dung của Hiệp định sẽ là vũ khí chủ yếu để đấu tranh trên trận tuyến mới...

        Ngày 16.12.2005, theo giấy mời của Bộ Ngoại giao, hơn năm mươi cán bộ, chiến sĩ đại diện cho các thành viên Câu lạc bộ truyền thống BLHQS - Trại Đa-vít (Khu vực phía Bắc) về dự buổi lễ trao tặng Kỷ niệm chương tại Nhà khách Chính phủ số 18 Ngô Quyền - Hoàn Kiếm - Hà Nội.

        Buổi sáng mùa Đông đẹp trời, Hà Nội vàng ươm sắc nắng, đường phố nhộn nhịp người xe. Chúng tôi tề tựu tại Nhà khách trước giờ hẹn để được gặp gỡ nhau, chuyện trò sau nhiều ngày xa cách... Nhìn những khuôn mặt thân quen, nếp nhăn của thời gian như hằn sâu hơn, mái tóc nhiều người cũng bạc hơn nhưng nụ cười rạng rỡ, trẻ trung vẫn không hề thay đổi. Người cao tuổi nhất hôm nay là đồng chí Lưu Văn Lợi - Đại tá, Phó trưởng đoàn CPVNDCCH - ngoài chín mươi tuổi mà vẫn minh mẫn, tinh tường. ông vui cười, hóm hỉnh trả lời phỏng vấn của các nhà báo. Anh Năm Bình, anh Tư Kỷ, anh Phú Bằng gày gò nhưng khoẻ khoắn, vui cười cùng các đồng đội có mặt hôm nay. Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, nguyên tư lệnh Quân khu 6, trưởng đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN - Khu vực IV - Phan Thiết. Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự - nguyên trưởng đoàn CPVNDCCH trong Tổ LHQS 4 bên. Đại tá Hoàng Duy Hoà, sĩ quan trao trả Đoàn B và nghệ sỹ đàn bầu Phạm Kim Hạng từ quê hương năm tấn Thái Bình dù đường xa hàng trăm cây số cũng đã có mặt. Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh và một số đồng chí thay mặt cho một trăm bốn mươi sĩ quan an ninh của Bộ công an hiện ở rải rác nhiều địa chỉ đã về đây, cùng các đồng đội đang chuyện trò rất sôi nổi trong góc hội trường. Đặc biệt, có hai cô gái mà ai cũng quen biết đó là trung tá Vũ Mộng Tước và cô giáo dạy nhạc Nguyễn Thị Tuyết Mai. Mọi người nhớ lại buổi biểu diễn của họ tại giữa sào huyệt kẻ thù, những họng súng đen ngòm từ các lỗ châu mai, từ các vọng gác trên cao của địch đang hướng vào họ như sắp sửa điểm xạ... Mặc, tiếng đàn, tiếng hát của cách mạng vẫn cất cao, vang xa, vượt qua tường rào, hào sâu đến với người dân Sài Gòn đang phải tạm sống trong vùng địch kiểm soát, bà con càng thêm tin tưởng vào ngày mai toàn thắng...

        Buổi lễ trọng thể bắt đầu. Sau những nghi thức, đồng chí chánh văn phòng Bộ Ngoại giao đọc bản Quyết định số 970/QĐKT ngày 28.04.2005 tặng thưởng Kỷ niệm chương về công lao đóng góp trong việc thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam cho những cán bộ, chiến sĩ hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS 4 bên và 2 bên. Sau đó, đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đã phát biểu: "Nếu như Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn, phức tạp thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri cũng là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức gay go và quyết liệt với lòng quả cảm các đồng chí đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước dũng cảm, mưu trí, chủ động tấn công địch, đồng thời thể hiện sự khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo theo phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đảng và Nhà nước ghi công các đồng chí bằng việc quyết định trao tặng Kỷ niệm chương về thành tích này... ".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #414 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 07:13:16 pm »

        Thật xúc động, chúng tôi được nghe những đánh giá quý báu của Đảng và Nhà nước ta về Mặt trận ngoại giao quân sự. Đây là hình thức đấu tranh hết sức độc đáo của cách mạng Việt Nam. Tại đó, đoàn quân gồm hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ quân đội và các ngành khác đã sống và chiến đấu ngay giữa sào huyệt địch. Đoàn quân này đã đóng góp một phần công sức, trí lực, xương máu cho ngày toàn thắng của dân tộc. Mọi người vô cùng cảm động trước những lời động viên của đồng chí Bộ trưởng.

        Cả hội trường rộn rã vui mừng, tiếng vỗ tay không ngớt, tiếng cười, tiếng nói râm ran...

        Đồng chí Trưởng ban liên lạc Câu lạc bộ truyền thống BLHQS “Trại Đa-vít” khu vực phía Bác lên đáp từ.Anh nói:

         ” Nhận được Quyết định số 970/QĐKT ngày 28-4-2005 của Bộ trưởng ngoại giao ký tặng thưởng “Kỷ niệm chương” chúng tôi vô cùng phấn khởi trước sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của Bộ ngoại giao về đánh giá sự cống hiến của đội ngũ cán bộ chiến sĩ trực tiếp tham gia đấu tranh thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam.

        Dù đã trên 30 năm trôi qua, nhiều đồng chí tham gia lúc đó nay không còn nữa nhưng các đồng chí nhận Kỷ niệm chương hôm nay đều rất xúc động và gợi lại cho chúng tôi những kỷ niệm hết sức sâu sắc, rất đáng tự hào của 923 ngày đêm chiến đấu giữa sào huyệt kẻ thù.”

        Đồng chí điểm lại những nét lớn về hoại động của hai đoàn ta trong điều kiện kẻ thù không từ một thủ đoạn nào để phá hoại Hiệp định với những hành động hết sức thô bạo, ti tiện hòng đánh phá nội bộ ta, kể cả kế hoạch tiêu diệt hoặc “bắt cóc hơn 300 Việt Cộng làm con tin”. Nhưng chúng ta đã vững vàng, kiên cường đấu tranhgiành thắng lợi.

        Cuối cùng đồng chí trân trọng cám ơn đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên, chúc sức khỏe đồng chí Bộ trưởng nhân dịp năm mới 2006 và hứa với Bộ trưởng sẽ tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạngcủa những chiến sĩ “Trại Đa-vít”năm xưa vào công tác và cuộc sống hôm nay.

        Buổi lễ trao tặng Kỷ niệm chương đã diễn ra trọng thể, đầy cảm xúc. Mọi người ra trước cửa nhà khách chụp ảnh lưu niệm với đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên.

        Nắng vàng làm cho cảnh sắc xung quanh tươi đẹp hơn, ngời sáng hơn. Ai nấy đều có cảm giác như trẻ lại, căng đầy sức sống, thoả mãn với một ngày cuối năm tuyệt đẹp của Hà Nội mùa Đông. Chúng tôi ra về đem theo niềm vui và tự hào của những nhà ngoại giao mặc áo lính.

        Ngày 18.12.2005, tại thành phố Hồ Chí Minh cũng tổ chức buổi lễ trọng thể trao tặng Kỷ niệm chương cho hơn tám mươi anh, chị, em đại biểu từ các địa phương phía Nam. Mọi người về họp mặt và đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng với niềm hân hoan, vui sướng. Đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đã từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp trao tặng Kỷ niệm chương cho các thành viên Câu lạc bộ truyền thống BLHQS - Trại Đa-vít (Khu vực phía Nam).

        Sau hai buổi lễ trao tặng trên, Bộ Ngoại giao đã gửi công văn đến các Bộ, ban ngành và địa phương trong cả nước thông báo, yêu cầu phát hiện và gỉn danh sách những đồng chí đã từng trực tiếp làm nhiệm vụ thuộc hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS 4 bên và 2 bên Trung ương tại miền Nam. Tính đến nay đã có 627 đồng chí được trao tặng Kỷ niệm chương. Như vậy vẫn còn khoảng hơn số người đó chưa được nhận phần thưởng cao quý này.

        Trong số những anh chị em được trao tặng Kỷ niệm chương có nhiều trường hơp hết sức cảm động:

        Đại tá Thái Văn Công, sinh năm 1922 tại Hải Lăng, Quảng Trị, phóng viên báo Quân đội nhân dân, về nghỉ hưu tại Quảng Trị. Anh là thương binh của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ngày 25.2.1973, tại Tổ LHQS của ta ở Buôn Mê Thuột, anh và các đồng chí trong Đoàn VNDCCH bị bọn côn đồ do Mỹ ngụy tổ chức đã hành hung gây thương tích nặng cho các anh. Ban liên lạc câu lạc bộ đã chuyển Kỷ niệm chương của anh qua đường bưu điện. Khi anh nhận được, lập tức gọi điện ngay ra Hà Nội cho đồng chí Trưởng ban, giọng xúc động, anh nói: "Thật không ngờ! Bộ Ngoại giao và các anh vẫn nhớ đến tôi. Sung sướng quá, bất ngờ quá, đẹp quá, anh ơi !"
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Ba, 2012, 05:45:55 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #415 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 07:14:52 pm »

        Đại tá Lê Văn Cán và đại tá Hoàng Hiệp đều đang nghỉ hưu tại Khánh Hoà. Hai anh đọc báo, biết tin Bộ ngoại giao gởi thông báo về các địa phương, liền gửi thư tới nơi có công văn xem điều kiện làm nhiệm vụ như thế có được khen thưởng không (?). Ngày 30.4.2006, Ban liên lạc tổ chức trao Kỷ niệm chương tại Hà Nội và gửi giấy mời cho hai anh. Họ đã gởi thư và gọi điện ra cảm ơn Bộ ngoại giao và Ban liên lạc, nhờ chuyển hộ vào gia đình vì sức khoẻ rất kém. Khi nhận được Kỷ niệm chương các anh đều rất xúc động, gỉn những lời cảm ơn, lời chúc tết đẹp đến Bộ ngoại giao và Ban liên lạc.

        Đồng chí Nguyễn Văn Hoa, sinh năm 1950, hiện Ở tại quê Thọ Diên, Thọ Xuân, Thanh Hoá. Anh tìm hiểu qua bạn bè được biết có trao tặng Kỷ niệm chương về thi hành Hiệp định Pa-ri. Anh viết thư hỏi bà Nguyễn Thị Bình - Nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao CPCMLTCHMNVN xem mình có đủ tiêu chuẩn được tặng thưởng Kỷ niệm chương không? Bà Bình đã chuyển bức thư đó cho Bộ ngoại giao, bên đó các đồng chí chuyển thư cho Ban liên lạc và được chấp nhận ngay. Khi có giấy mời lên họp mặt và nhận Kỷ niệm chương, anh liên tục gọi điện thăm hỏi các đồng đội... Anh từ Thanh Hoá ra trước một ngày để đến với những anh em cùng ở trại Đa-vít ngày nào. Bao tâm sự được dịp bày tỏ sau mấy chục năm xa cách. Anh vui và như trẻ lại thật sự.

        Cháu Lê Bá Đông con trai của đại tá Lê Bá Chanh nhận được giấy mời đã từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội nhận Kỷ niệm chương thay cha vì anh Chanh đã qua đời cách đây hơn chục năm. Cháu rất vui và nói giọng nghẹn lại: "Cháu cảm ơn các bác, các chú đã không quên cha cháu. Về trong thành phố Hồ Chí Minh, cháu sẽ nói để mẹ cháu có lời cảm ơn các bác, các chú!".

        Cháu Phan Hà, con trai của đại tá Phan Cẩn khi nhận được Kỷ niệm chương đã đặt ngay lên bàn thờ anh Cẩn, thắp hương và thành kính báo cáo trước vong linh của cha mình về việc nhà nước khen thưởng này.

        Các chị Lê Thị Lọn, vợ của liệt sĩ Nông Văn Hưởng (Kiên), chị Phương Kim Dung, vợ của thương binh, đại tá Nguyễn Tiến Bộ (anh mất đã gần chục năm), chị Mai Thị Hải, vợ của thương binh Trần Hán Ngọ (đã mất 2006), chị Ngô Thị Phương vợ của đại tá Trần Ngọc Sỹ (mất 1999), chị Lê Thị Thu vợ của đại tá Nguyễn Khắc Toan (mất 2004). Sự xúc động của các chị lan toả sang chúng tôi làm cho mọi người hồi tưởng về một thời hiểm nguy cùng các anh giữa chốn hang hùm, miệng sói. Các chị vui và bày tỏ sự biết ơn chân thành khi nhận Kỷ niệm chương thay các anh.

        Đặc biệt có trường hợp liệt sĩ Nguyễn Văn Hoà mất ngày 28.4. 1975 tại trại Đa- vít. Sau hơn ba mươi năm tìm thân nhân liệt sĩ đến nay mới biết quê quán của anh. Ban liên lạc đã gửi giấy mời về địa phương nhờ chuyển đến thân nhân của liệt sĩ. Đồng chí Hoà chỉ còn một người chị gái, tuổi đã cao, sức yếu không thể ra Hà Nội được. Chị giao giấy mời cho người cháu thay mặt gia đình đến dự buổi họp mặt và nhận Kỷ niệm chương. Sau khi nhận được món quà này chắc chắn gia đình chị sẽ rất vui!
       
        Còn rất nhiều trường hơp cảm động khác nữa, ai cũng vui mừng và tự hào về những đóng góp của mình đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận qua việc trao tặng phần thưởng cao quý này.

        Nhân sự kiện trên, các thành viên Câu lạc bộ lại có chung nguyện vọng các cơ quan hữu trách sớm xây dựng khu di tích lịch sử quân sự tại trại Đa-vít.

        "Theo thông tư số: l083/TTVH-BQP ngày 26.12.1986 của liên BỘ VH-TT và BỘ quốc phòng đã xác định đây là "khu di tích" chiến dịch HỒ Chí Minh là một trong bốn di tích lịch sử quân sự đặc biệt quan trọng. "Trại Đa-vít" - trụ sở của hai phái đoàn quân sự VNDCCH và CPCMLTCHMNVN, nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất (Vị trí "Trại Đa-vít" cũ nằm trong khu vực đất do quốc phòng quản lý) là một trong những điểm tiêu biểu của khu di tích Chiến dịch Hồ Chí Minh" (Trích công văn số 685/BQP ngày 05.3.2003 của Bộ quốc phòng).

        Từ năm 1990, Bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh (Bảo tàng Quân khu 7) cùng với Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam đã tiến hành biên tập nội dung hồ sơ di tích "trại Đa-vít" và bàn giao cho Sở VH-TT thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2004, Sở VH- TT thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo về khu di tích lịch sử này. Không hiểu vì lý do gì, đến nay vẫn chưa được triển khai xây dựng(?)

        Mong muốn chính đáng của hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã trực tiếp đấu tranh trên trận tuyến ngoại giao quân sự sớm được thăm lại khu di tích lịch sử "Trại Đa- vít". Nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ cũng khao khát được đến chiêm ngưỡng, tìm hiểu nơi đã diễn ra cuộc chiến đấu 823 ngày đêm giữa sào huyệt kẻ thù của những chiến sĩ cách mạng. Ý nghĩa lớn lao trong việc giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng đầy sáng tạo của Đảng ta, của quân đội ta cho các thế hệ mai sau càng cần thiết hơn.

        Chúng tôi tin tưởng một ngày không xa sẽ được thăm lại khu di tích lịch sử "Trại Đa-vít". Niềm vui và tự hào của những nhà ngoại giao mặc áo lính lúc đó mới thực sự trọn vẹn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #416 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 07:19:49 pm »


GẶP MỘT CỰU THÀNH VIÊN LIÊN HỢP QUÂN SỰ

NGUYỄN PHẤN ĐẤU              
     
        Ông là một trong mấy người còn lại đã từng ở trong trại Đa-vít ông chọn  nơi vắng vẻ, yên tĩnh nhất để sống tuổi già - ven cánh rừng tràm, ở giữa Đồng  Tháp Mưởi. Dù vậy, ông vẫn không thể "thoát tục". Trước nỗi oan khuất  của người dân, một lần nữa bản lĩnh của người lính từng sống trong sào huyệt đối phương lại được khơi dậy.

        Tình cờ tôi biết ở giữa Đồng Tháp Mười có cụ già gần 80 tuổi từng sống 823 ngày đêm trong trại Đa-vít. Lần ấy, giữa năm 2006, cánh nhà báo chúng tôi nhận được "tin nóng": Người dân ấp Cây Sao - xã Tân Lập huyện Tân Thạnh (thuộc vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An) chuẩn bị mở quan tài 1 cựu chiến binh (CCB) ra huyện đòi hỏi làm rõ nguyên nhân cái chết. Chuyện phiền toái ấy đã không xảy ra, nhờ ông phát hiện và góp ý kiến kịp thời.

          Chuyện ở một đám tang

        Ngày 30.5.2006, Ở ấp Cây Sao có đám tang không bình thường. Người chết là CCB Đinh Văn Chào, uống thuốc sâu tự tử. Trước đó, anh bị nhóm côn đồ có tiền án tiền sự xông vào nhà hành hung kiểu xã hội đen. Anh Chào được công an huyện mời làm việc. Dư luận cho rằng vì bao che cho côn đồ mà cán bộ điều tra bức cung, nhục hình buộc anh Chào nhận "tội", nên anh uất ức tự tử. Một số người quá khích định đưa quan tài ra huyện đòi làm rõ cái chết. Đầu máy kéo rơmoóc được điều tới, bàn ghế được dọn qua để chuẩn bị khiêng quan tài ra xe. Trong thời khắc nhạy cảm ấy, có một ông lão chống gậy tới đám tang. Cụ ân cần thăm hỏi gia đình người quá cố. Một vài người nhắc nhở việc đưa quan tài ra xe. Cụ già xin phép chủ nhà cho ông có mấy lời nói với bà con. Đám tang ồn ào bỗng trở nên trật tự khi ông đứng dậy, cất tiếng chậm rãi, đại ý: Dư luận về nguyên nhân cái chết của anh Chào có thể đúng mà cũng có thể sai, còn việc bà con tính chở quan tài ra huyện chắc chắn là sai. Ông khuyên bà con bình tĩnh mà cư xử cno phải lẽ, cho đúng luật pháp. Nhận thấy cây nhang từ người thân anh Trào, ông cất tiếng nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng: "Mong anh an nghỉ nơi chín suối ? Nếu thực sự cái chết của anh có điều gì khuất tất, với danh dự của người lính, tôi hứa sẽ làm cho sáng tỏ". Khi ông bước ra khỏi đám, chiếc xe rơmoóc đã không còn đậu ở phía trước, những người qúa khích số thì ra về, số im lìm phụ gia chủ xếp lại bàn ghế.

        Ông tên Nguyễn Văn Sáu, nguyên đại úy - bác sỹ quân y. Ông kể: Hôm ấy vợ ông đi đám tang, thấy lạ nên về kể lại. Ông vội vã đến ngay. Ông trầm ngâm: Người dân đang bức xúc, bị kích động, mà chính quyền dùng biện pháp hành chính để đối phó, chẳng khác nào châm thêm dầu vào lửa. Tôi thấy, chỉ có dùng lời lẽ giải thích, thuyết phục, cộng với việc dám nhận trách nhiệm lo cho nhân dân, thì người dân thông cảm".

        Người về thành phố

        Ngày 27. 1. 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết giữa bốn bên: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam (CPCMLTCHMNVN), Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa (CPVNDCCH), Chính phủ Hoa Kỳ (CPHK) và Chính phủ Việt Nam cộng hòa (CPVNCH). Theo tinh thần hiệp định, một ban liên hợp quân sự (BLHQS) 4 bên được thành lập để thực hiện hiệp định. Phái đoàn CPCMLTCHMNVN hơn 100 nguời do tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn. Đại úy bác sỹ Nguyễn Văn Sáu làm nhiệm vụ Trưởng Tiểu ban quân y. Phái đoàn CPVNDCCH (Đoàn A) và phái đoàn CPCMLTCHMNVN (đoàn B) được xếp chung ở trong trại Đavít - trại quân sự mang tên người lính Mỹ đầu tiên chết ở chiến trường VN. Các ông vào trại khi không khí Tết vẫn còn rôm rả ở Sài Gòn. Một cành đào thật đẹp được máy bay chở từ Hà Nội vào cùng một cành mai được nhân dân Sài Gòn gửi tặng đặt trong phòng khách của trại như thầm khẳng định quyết tâm thống nhất đất nước.

        Theo tinh thần hiệp định, trong thời hạn 60 ngày sẽ thực hiện xong việc trao trả tù binh, cũng là thời hạn lính Mỹ phải rút toàn bộ khỏi lãnh thổ VN. Đối với ông và đồng đội, đó là 60 ngày rất thú vị trong đời lính. Một mặt, các ông được tận mắt chứng kiến (và giám sát) những đội quân xâm lược cuối cùng lên máy bay rời khỏi nước ta, một mặt chào đón những đồng chí, đồng đội từ các nhà lao của chính quyền Sài Gòn về với cách mạng. Có lúc ngày hôm trước các ông đến nhà lao Phú Quốc kiểm tra tình trạng tù binh của ta, thì ngày hôm sau bay ra Hà Nội giám sát các phi công - tù binh Mỹ rời khách sạn Hilton ra sân bay Gia Lâm... Ông kể: "Hàng ngày anh em tụi tôi đều chơi bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, cầu lông...trong sân trại. Tụi tôi còn tổ chức giải mời các đoàn trong ủy ban Giám sát quốc tế (gồm Ba Lan, Hungay, Canada và Indonesia) đến thi đấư". Hình ảnh các chiên sỹ giải phóng tự tin và lạc quan giữa sào huyệt Sài Gòn càng làm tăng thiện cảm đối với nhân dân. Đi đến đâu các ông cũng tranh thủ tiếp xúc với dân chúng, mặc cho chính quyền Sài Gòn ra sức cản trở.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #417 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 07:22:22 pm »


        Hiên ngang giữa chốn hang hùm

        Sau 60 ngày, khi việc trao trả tù binh giữa các bên đã xong, phái đoàn VNDCCH và phái đoàn HK hết nhiệm vụ, rời khỏi Sài Gòn. Chỉ còn lại phái đoàn CPCMLTCHMNVN và phái đoàn CPVNCH trong BLHQS 2 bên và  một tổ liên hợp quân sự 4 bên. Kể từ lúc này, công việc càng lúc càng đi vào bế tắc, vì chính quyền Sài Gòn rắp tâm phá hoại hiệp định. Trại Đa-vít như cây gai nhọn nằm trong mắt họ. Các ông đã phải căng mình chịu đựng những áp lực, sự hằn học, đe dọa, thậm chí hành hung từ phía bên kia. Họ làm như vô tình đùa giỡn cho nổ lựu đạn cay bên ngoài hàng rào trại, nhưmg ở đầu hướng gió, nên khói cay tràn ngập trại... Họ đưa tới xưởng sửa chữa máy bay (nằm cạnh trại) chiếc C130 cổ lỗ cứ đến 9-10 giờ tối là mở máy chạy đinh tai nhức óc... Điều kiện đi lại sinh hoạt của các ông ngày càng bị hạn chế.

         Dù hiệp định đi vào bế tắc, nguy hiểm lại luôn rình rập, các ông vẫn kiến nghị cấp trên lợi dụng thế hợp pháp pháp đấu tranh quyết liệt vạch mặt vi  phạm hiệp định Paris của Mỹ ngụy Sài Gòn để tăng uy thế cho cách mạng. Bước vào tháng 4.1975, sinh mạng của cả phái đoàn càng trở lên mong manh. Đối phương cách ly trại Đa-vít với bên ngoài, họ cho xe thiết giáp đậu quanh chĩa nòng pháo vào trại Một kế hoạch giải cứu phái đoàn được chuẩn bị, bằng cách cho đặc công đột nhập vào trại đưa phái đoàn ra, chỉ để lại đội quân cảm tử ở lại, trong đó có bác sĩ Nguyễn Văn Sáu. Ông đã viết thư, gửi kỷ vật và địa chỉ gia đình cho những người thoát ra. Nhưng kế hoạch giải thoát không được thực thi.  Không ngồi yên chờ đợi, các ông bí mật đào hầm chiến đấu. Bằng những dụng cụ thô sơ tự chế (vì không có cuốc xẻng), chỉ trong mười mấy ngày, các ông đã đào được cả hầm chứa thương binh và hệ thống hầm thông nhau dài cả cây số. Sau này các ông được biết, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, tướng Cao Văn Viên khi bỏ chạy còn để trên bàn làm việc kế hoạch hủy diệt trại Đa-vít bằng pháo cối, ném bom, chất độc hóa học, xe tăng.., nhưng chúng không thực hiện được .Để rồi ông cùng đồng đội là những người vinh dự kéo lá cờ cách mạng sớm nhất ở nội ô Sài Gòn lên đỉnh tháp nước trong trại Đa-vít, vào lúc 9 giờ 30 sáng 30.4.1975.

         Hành xử người lính. 

        Ngay sau khi CCB Đinh Văn Chào được chôn cất xong, Chi bộ ấp Cây Sao đã họp và ra nghị quyết yêu cầu công an huyện phải điều tra làm rõ nguyên nhân. Các ông đã cung cấp những chứng cứ cho thấy dấu hiệu sai phạm của công an huyện trong quá trình điều tra, gián tiếp đưa đến vụ tự tử nói trên. Cơ quan điều tra cấp trên đã về làm việc. Kết quả là nhiều cán bộ công an huyện đã phải chịu kỷ luật về vi phạm các nguyên tắc điều tra trong vụ việc Đinh Văn Chào. Nhưng cũng vì thế mà ông Sáu và các đồng chí trong chi bộ bị phê bình, kiểm điểm, bị dọa "khai trừ khỏi Đảng", vì các ông đã cung cấp thông tin cho các báo chí.. ông không vì thế mà phật lòng, trái lại cảm thấy thanh thản khi đã trả lại sự công bằng cho người đã khuất. Những người làm sai đã bị kỷ luật, nhưng không ai bồi thường cho cái chết của anh Chào, vợ con anh phải bán ruộng trả nợ chi phí đám tang. ông Sáu phải trích lương hưu hàng tháng cho các con anh Chào mua đồ dùng học tập. Ngày 26. 1 này, các ông lại họp mặt ở nhà khách QK7 (TPHCM) nhân ngày ký hiệp định. Trước khi đi xa, ông không quên ghé thăm coi vợ con anh Chào chuẩn bị ăn Tết ra sao.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #418 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 07:51:53 pm »


KÝ ỨC TRẠI ĐA-VÍT

YÊN TRANG              
     
        Trên mặt trận đâú tranh ngoại giao sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, có một cái tên, một địa danh đã ghi một dâú ấn khó quên. Đó là "DAVIS CAMP " (trại Đa-vít) trụ sở của Ban liên hợp quân sự bốn bên và 2 bên sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Nhiều năm nay, cứ đến "mùa hoa đỏ" là các cựu sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội giải phóng miền Nam Việt nam trong "trại Đa-vít " năm xưa, lại hội tụ để cùng nhau nhớ về những ngày lịch sử...

        Cuộc gặp mặt truyền thống năm nay của họ được tổ chức nơi xưa kia là trận địa pháo cao xạ, bên bờ hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Tôi may mắn được tham dự cuộc gặp mặt ấy và điều bất ngờ đầu tiên là được gặp lại người thầy giáo dạy môn sân khấu điện ảnh Trần Duy Hinh. Thầy Hinh đang say sưa quay hình những cán bộ, chiến sỹ trong cuộc gặp mặt lần nay. Trước đây, tôi chỉ biết thầy là trưởng khoa sau đại học Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội. Hóa ra, thầy còn là một nhân chứng của lịch sử, là sỹ quan của Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa trong trại Đa-vít. Hơn ba mươi năm đã trôi qua, chàng sỹ quan trẻ ngày ấy lại đứng đây để ghi lại những hình ảnh đầy xúc động của bạn bè mình trong ngày hội ngộ. Thầy kể: "Mình đến Sài Gòn vào một ngày giáp Tết Quý Sửu năm 1973. Ở miền Bắc đã là cuối đông, vậy mà ở đây còn nắng như giữa hạ. Cát bụi bay mù mịt, trời đổ lửa, tiếng gầm rú của máy bay Mỹ suốt 24/24 giờ. Và trong cái đêm 30 tết giữa lúc Trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đang chúc tết anh em cả hai đoàn quân sự ta trong trại Đa-vít, thì mái tôn bỗng rung lên ầm ầm vì những chiếc trực thăng Mỹ bay lượn trên đầu. Mặc họ, cuộc họp mặt dào dạt tình nghĩa Bắc - Nam giữa hai đoàn không hề bị ảnh hưởng. Anh em chúng tôi ngồi quây quanh chiếc máy thu thanh, nhấp trà, ăn mứt gừng và chờ nghe bác Tôn chúc tết."

        Hơn ba chục năm đã qua, những chiến sỹ ngày ấy bây giờ mỗi người có một số phận khác nhau. Đại tá Hoàng Duy Hòa kể: "Mình đang ở trong rừng Tây Ninh thì được lệnh tới Lộc Ninh để vào Sài Gòn làm sỹ quan liên lạc. Lần đầu được đi máy bay Mỹ dọc theo đường 13 vào Sài Gòn cũng thấy lạ lẫm. Sau này mình còn đi hàng chục lần máy bay Mỹ tới các nơi ở miền Nam để giám sát việc thi hành Hiệp định Pa-ri. Giải phóng Sài Gòn xong mình được cấp trên giao cho làm quản giáo cai quản 33 viên tướng ngụy đang học tập cải tạo."

        Thiếu tá Nguyễn Ngọc Dung (nguyên là thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam) "Tôi được tham gia Ban Liên hơp quân sự bốn bên chỉ 24 giờ trước khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết. Hai niềm phấn khởi quá lớn đến cùng một lúc. Cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi và bản thân tôi được về thẳng Sài Gòn, tham gia bộ máy thực thi Hiệp định ngay tại sào huyệt Mỹ - ngụy, nơi mẹ và hai con tôi đang sống mà hơn hai mươi năm chưa hề được gặp lại".

        Còn ông Nguyễn Ngọc Thìn, khi ở trại Đa-vít có nhiệm vụ chính là cung cấp tư liệu để phái đoàn ta đấu tranh trực diện với quân thù. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông xin giải ngũ, về quê ở Bắc Giang sinh sống. Cũng có người tiếp tục đi học, làm ở một lĩnh vực khác như ông Nguyễn Ngọc Sơn, là thanh niên Hà Nội. Sau giải phóng, ông Sơn đi học trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, khoa dầu khí, nay là kỹ sư của nhà máy lọc dầu Dung Quất. ông Sơn kể:

        -  Ngày vào trại Đa-vít chúng tôi đều còn rất trẻ, chỉ mới ngoài hai mươi, đem theo nhiều cảm xúc, tâm trạng, nhưng cảm xúc chính là niềm sung sướng và hãnh diện vô cùng. Năm nào có kỷ niệm ngày gặp mặt truyền thống, chẳng kể ở miền Nam hay miền Bắc, mình đều đi để được gặp lại những người bạn, những đồng chí từng vào sinh ra tử với mình... "

        Tôi là thế hệ cháu con sinh ra và lớn lên sau ngày đất nước thống nhất, được nghe những câu chuyện trên đây, trong lòng cũng trào dâng một tình cảm khó tả. Cha ông ta, những con người đã không tiếc máu xương cho chúng ta được hưởng bầu trời hòa bình hạnh phúc hôm nay. Cuộc sống muôn màu cứ trôi đi, nhiều chiến sỹ ngày ấy nay không còn nữa. Những người còn sống đến hôm nay, hằng năm họ gặp mặt truyền thống không chỉ để thỏa mãn nhu cầu hoài niệm về những ngày trong trại Đa-vít mà còn để giáo dục truyền thống cách mạng cho lớp trẻ chúng tôi.

        

Thiếu tá Nguyễn Thị Ngọc Dung (2009)


Trần Duy Hinh

        
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Ba, 2012, 08:06:28 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #419 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 04:48:22 am »



THƠM LÂY

Hoàng Anh Tuấn              
               
        “Chính nhờ quý vị mà chúng tôi được thơm lây…” Đó là lời một viên đại tá trong Đoàn đại biểu quân sự của Chính quyền Sài Gòn nói với chúng tôi trong cuộc chiêu đãi của một vị Đại sứ trong Ủy ban quốc tế tại Sài Gòn.
   
        Hồi đó , gần giữa năm 1974. Tình hình chiến trường ngày càng căng thẳng. Cuộc ngừng bắn mỏng manh sau Hiệp định Pa-ri (ký ngày 27.01.1973) chỉ được thực hiện không trọn vẹn một thời gian ngắn, sau khi Mỹ rút hết quân và nhận hết tù binh thì Nguyễn Văn Thiệu  càng đẩy mạnh hành quân  lấn chiếm hòng thu hẹp vùng kiểm soát của Chính phủ cách mạng lâm thời. Quân ta phải kiên quyết đánh trả để giữ vững thành quả đạt được.
   
        Sự căng thẳng trên chiến trường được phản ánh vào hội nghị Ban Liên hợp quân sự hai bên. Trong các phiên họp không ngừng diễn ra đấu tranh gay gắt  tố cáo nhau vi phạm Hiệp định. Không những căng thẳng trong cuộc họp chính thức mà cả trong  những lúc giải lao (theo lệ được hình thành từ đầu, giữa chừng mỗi phiên họp có nghỉ một thời gian để thư giãn, các bên đều vào phòng nghỉ chung uống nước , nói chuyện, thường là tương đối thoải mái) ngay cả trong lúc giải lao không khí cũng lạnh nhạt, phía đối phương không tỏ vẻ lịch thiệp như thường lệ.
   
        Chính vì vậy mà chúng tôi khá bất ngờ trước thái độ đột nhiên cởi mở của viên  đại tá. Hôm đó chúng tôi vừa đến thì lần lượt Đoàn họ đến bắt tay chào hỏi, nét mặt vui vẻ. Sau khi cởi mở đầu bằng câu “thơm lây”, viên đại tá nói tiếp: “ Chúng tôi vừa đi thăm một số nước Tây-Bắc Âu và Úc. Đến đâu, nhất là trong các cuộc gặp gỡ đông người, khi biết chúng tôi là Việt Nam thì người ta đổ dồn đến bắt tay , bày tỏ cảm tình, nói lời cảm phục “Việt Nam anh hùng”. Họ tưởng chúng tôi là người bên quý vị. Đúng là chúng tôi được thơm lây, và cũng không muốn cải chính”.
   
        Ra thế. Sự bộc bạch của viên đại tá thực sự là một điều húy kỵ với phía ngụy, vì đó là một lời khen không dè dặt đối với “kẻ thù”. Nhưng tôi nhìn qua các viên sĩ quan khác đều thấy gật gù tán thưởng, kể cả viên tướng trưởng đoàn, không ai tỏ thái độ khó chịu.
   
        Tôi lại nhớ lại một chuyện gần hai mươi năm trước, nội dung có khác nhưng tính chất cũng giống nhau.
   
        Lúc đó vào quá đầu năm 1955, gần đến thời hạn 300 ngày sau Hiệp nghị Genève, thời hạn mà các lực lượng vũ trang của ta còn ở miền Nam (Liên khu 5) phải tập kết ra Bắc. Đất nước sẽ chia thành hai miền cách biệt nhau hai bên vĩ tuyến 17. Trong đoàn đại biểu “Quân đội Liên hiệp Pháp” tại Ủy ban Liên hiệp trung ương có hai trung tá người Việt, một ông trên 40 tuổi, một ông quá 50, sắp về hưu. Trong quân đội Pháp người đạt đến cấp đó là khá cao. Ông trung tá già vừa được đi một chuyến Sài Gòn. Trong giờ giải lao giữa một phiên họp, ông đến bắt chuyện với chúng tôi và than thở: “mẹ cha bọn sĩ quan trẻ trong đó, chúng cũng đi lính cho Pháp mà ngoi lên, thế mà chúng tôi là đồ đi liếm giầy Tây (1)! Tức muốn chết mà không làm gì được vì chúng ở thế mạnh . Thà các ông nói thì có thể hiểu được , còn chúng nó bây giờ cũng liếm gót giầy Mỹ chứ hơn gì tôi?” Chúng tôi thật ngạc nhiện trước một sự thổ lộ tâm tình như vậy.
   
        Cách nhau 20 năm, kẻ địch xâm lược đã thay đổi, các sĩ quan người Việt theo địch cũng đã thêm mấy thế hệ, còn sự đối lập trận tuyến với cách mạng không hề thay đổi, về sau này còn càng quyết liệt hơn. Vì vậy tôi cứ suy nghĩ mãi: Cái gì đã khiến những con người đã chọn cho mình con đường đi ngược lại với nhân dân, trong đó có người đã thề trọn đời không đội trời chung với “Cộng sản” (sự thật là với toàn bộ sự nghiệp kháng chiến của Dân tộc), cái gì đã khiến cho những người đó trong một lúc bột phát không kịp tự kiềm chế đã thốt ra thành lời trước mặt chúng tôi cảm nghĩ sâu xa trong tâm hồn họ và sự mặc cảm thầm kín về thân phận của họ – dù chỉ là cảm xúc hiếm hoi, xuất hiện và biến đi tức thời?
   
        Càng nghĩ, càng nghiệm , càng tự hào về truyền thống bất khuất của Dân tộc Việt Nam ta, càng thấy kỳ diệu thay cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà hào quang tỏa sáng ra tận những nước xa xôi trên thế giới như Bắc Âu, cuối cùng đã quét sạch bóng mọi kẻ  thù xâm lược , thực hiện trọn vẹn ước mơ cháy bỏng được sống hòa bình trong độc lập thống nhất , xây dựng một chế độ dân giàu nước mạnh , xã hội công bằng dân chủ văn minh, tiến tới sẽ không còn cảnh người bóc lột người nữa.
   
        Giờ đây ta đã bước vào một kỷ nguyên chưa từng có trong lịch sử Đất nước. Thế mà nghe nói vẫn còn những kẻ than phiền oán trách chúng ta đã chọn con đường kháng chiến để tự giải phóng cho mình, khiến đời sống của ta chưa tiến kịp nước người (!). Giải đáp cái gì đây và có cần phải giải đáp cho loại tư tưởng lạc lõng này không nhỉ? Tôi nhớ lại chuyện ông trung tá già ấm ức vì bị mắng là “liếm gót giầy Tây” của những kẻ “liếm gót giầy Mỹ”. Tôi cũng nhớ lại thái độ của những viên sỹ quan Sài Gòn năm nào tỏ ra phấn khởi được thơm lây vì được nhầm là người Việt Nam kháng chiến. Có thể đây cũng là một sự giải đáp!

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM