Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:24:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315320 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #420 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 05:10:07 am »


NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG Ở TRẠI ĐA-VÍT

Thiếu tướng  Nguyễn Đôn Tự              
               
        Sáng 01/05/1975, Đại uý Nguyễn Văn Bổ cán bộ bảo vệ - đoàn Việt  Nam  dân  chủ cộng  hoà đi thu thập tài liệu ở Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Vào phòng làm việc của Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, thấy quyển lịch công tác để ở trên bàn có ghi:

        “Chỉ thị cho cấp dưới: được quyền sử dụng các biện pháp sau đây đối với trại Davis, không cần phải xin chỉ thị của Bộ tổng tham mưu, chỉ cần phát hiện thấy có tiếng súng từ trại Davis bắn sang sân bay:

        1. Bắn pháo và cối vào trại Davít;
        2. Cho xe tăng và bộ binh tràn ngập;
        3. Ném bom;
        4. Rải chất độc hoá học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố”.

        Cao Văn Viên bỏ đi di tản vào chiều 28/04/1975 nên lệnh này có thể phát ra vào ngày 27/04/1975 hoặc sáng ngày 28/04/1975. Các người được cử thay thế Viên cũng lần lượt bỏ nhiệm  sở đi di tản;

        Đổng Văn Khuyên ngày 28/04/1975 tháo chạy;

        Vĩnh Lộc cử chuẩn tướng Nguyễn Văn Hạnh làm phụ tá, rồi cũng chuồn sáng ngày 30/04/1975

        Viên đưa ra lý do để các đơn vị hành động rất mơ hồ, có thể bịa hoặc tạo ra chứng cứ không thể kiểm tra được, thực chất của lệnh này là cho phép các đơn vị quyền tự ý huỷ diệt trại Davis.

        Ban lãnh đạo của Đoàn ta cũng dự kiến 4 khả năng hành động của ngụy nhưng không dự kiến việc địch dùng chất độc hoá học, mà dự kiến khả năng thứ tư là bắt người làm con tin, bắt cả Đoàn hoặc Ban lãnh đạo của đoàn để mặc cả khi liên hợp quân sự họp trở lại.

        Từ ngày 28/04/1975, Bộ tổng tham mưu ngụy Sài Gòn như rắn không đầu, điều hành là chuẩn tướng Nguyễn Văn Hạnh (người có cảm tình với Mặt trận Giải phóng). Pháo lớn của ta bắn dồn dập vào Tân Sơn Nhất, các đơn vị quân Sài Gòn kể cả các trạm gác quanh trại Davis vứt súng bỏ chạy về nhà lo cho vợ con di tản. Sài Gòn đã bị quân giải phóng bao vây. Phan Rang tuyến tử thủ của Nguyễn Văn Thiệu được giải phóng. Sư đoàn 18 bảo vệ cửa ngõ Sài Gòn bị tiêu diệt, những tên đầu sỏ chống cộng điên cuồng tranh nhau cùng vợ con di tản theo Mỹ nên không còn ai thi hành lệnh của Viên.
Cả Mỹ và Sài Gòn vẫn duy trì liên lạc với đoàn ta nhằm mục đích thăm dò và tìm cách ngăn cản cuộc tấn công quân sự của ta vào Sài Gòn.

        Ngày 25/04/1975 theo yêu cầu của ta, Mỹ tổ chức chuyến bay liên lạc C130 ra Hà Nội. Trung tá Summer của Mỹ đi chuyến bay này đã nói với tôi:

        -  Ông báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Mỹ chịu thua Việt Nam rồi … Việt Nam nêu các điều kiện gì, Mỹ sẽ thực hiện đầy đủ!

        Phía Sài Gòn định phái bộ trưởng thông tin Phan Hoà Hiệp yêu cầu ta bố trí người ra Hà Nội để thương lượng với Hà Nội nhưng ta không chấp nhận nên Hiệp ở lại không đi theo chuyến bay.

        Có một đoàn 3 người là giáo sư Châu Tam Luân, Trần Ngọc Liễng, linh mục Chân Tín xin vào trại Davis nói là do tổng thống Dương Văn Minh phái vào Tân Sơn Nhất để gặp đại diện của mặt trận. Ta không đồng ý tiếp họ với danh nghĩa phái viên của Dương Văn Minh, mà chỉ tiếp họ với danh nghĩa cá nhân. Họ đồng ý, khi gặp họ cũng đề nghị không nên tấn công Sài Gòn bằng quân sự, nếu cần gì cứ đọc cho họ ghi họ sẽ chuyển cho Dương Văn Minh. Anh Võ Đông Giang đọc lời Minh tuyên bố đầu hàng, nhưng họ không kịp trở về để chuyển cho Minh vì ta pháo kích liên tục.

        Chiều 25/04 đại sứ Mỹ Martin được chỉ thị tìm cách gặp thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, kể cả vận động Hunggari nhưng anh Tuấn từ chối gặp.

        Điều rõ ràng là cả Mỹ và Sài Gòn rất sợ có cuộc tấn công quân sự vào Sài Gòn.

        Từ tháng 04/1975 tại trại Davis, Đoàn đại biểu quân sự của ta trong cơ quan liên hợp Quân sự 2 bên và 4 bên còn hơn 300 cán bộ chiến sỹ, chủ yếu từ đại uý trở lên, có 30 cảnh vệ được trang bị AK, mỗi cán bộ có một khẩu súng ngắn.

        Từ giữa năm 1974 do Liên hợp quân sự hoạt động không hiệu quả nên Chính phủ ta quyết định đình chỉ mọi hoạt động của cơ quan này, rút bớt cán bộ ra vùng giải phóng, đồng thời rút khỏi cuộc đàm phán về chính trị ở La Celle Saint Cloud (Paris – Pháp) nhưng việc ta vẫn duy trì sự có mặt Đoàn đại biểu quân sự ở trại Davis Tân Sơn Nhất chứng tỏ ta vẫn duy trì đấu tranh trên mặt trận ngoại giao đòi nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris, cơ quan liên hợp quân sự sẵn sàng họp trở lại.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Ba, 2012, 05:16:49 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #421 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 05:21:47 am »

        Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh thông báo cho Đoàn là đêm đầu tiên của cuộc tấn công sẽ có đơn vị đặc công vào đưa đoàn ra khu an toàn cách Sài Gòn 10 km.

        Ban lãnh đạo của đoàn họp bàn nhận định “trong lúc này nhất là trước tình hình kẻ thù đang tan rã, ta vẫn có đủ yếu tố chiến đấu bám trụ tại chỗ và đề nghị Bộ Tư lệnh chiến dịch và Quân uý miền cho phép ở lại để chiến đấu và đủ sức bảo đảm an toàn lực lượng chờ đợi quân ta tới. Đề nghị này được cấp trên chấp thuận.

        Theo dõi tin chiến sự, chúng tôi được biết quân đoàn 2 rồi quân đoàn 1 ngụy bị tiêu diệt và tan rã, quân đoàn 3 bị đánh tơi tả, cửa ngõ Sài Gòn đã được mở, cán bộ chiến sỹ trong đoàn rất phấn khởi.

        Đồng chí Lê Đức Thọ gửi điện động viên cán bộ chiến sỹ “giữ vững bản chất anh bộ đội cụ Hồ” Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng gửi điện thông báo chiến thắng đang đến gần, phải đề phòng kẻ địch có hành động tàn bạo với đoàn.

        Từ giữa tháng 04/1975, Đại tướng ra lệnh lãnh đạo đoàn cần tổ chức bộ đội sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xấu nhất, điểm quan trọng là phải bảo toàn được lực lượng, đồng thời phải tổ chức chiến đấu giữ được từ 3 đến 5 ngày chờ quân giải phóng tới. Như vậy phải đào các hố chiến đấu và các hầm có nắp tránh được các loại pháo của ta và của địch. Phải có giao thông hào có nắp nối liền 7 khu vực chiến đấu; hai hầm ngầm chỉ huy, hầm quân y, hầm làm kho dự trữ nước, lương thực các loại. Tất cả được xây dựng tuyệt đối bí mật bên trong  trại, dưới các sàn nhà; Mắc hệ thống điện thoại từ các đài quan sát đến các khu vực chiến đấu và chỉ huy sở. Dự trữ nước và lương thực đủ dùng trong 10 ngày. Quân y có thể làm trung phẫu thuật. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn chỉ huy chung.

        Quyết tâm của cán bộ chiến sỹ rất cao nên chỉ trong khoảng mười ngày mặc dù không có cuốc xẻng, chỉ dùng cọc màn bằng sắt do Mỹ để lại, đã đào các hố chiến đấu và một phần giao thông hào. Vào những ngày cuối, Đoàn được tăng cường 2 va-li lựu đạn chống tăng qua việc trao trả ở Lộc Ninh các nhân viên của Đoàn Indonesia trong Uỷ ban quốc tế bị bắt ở Buôn Mê Thuật. Như vậy, nếu bộ binh và xe tăng địch tiến vào sẽ bị ta đánh trả quyết liệt. Đa số cán bộ chiến sỹ Liên hợp quân sự dày dạn trong chiến đấu và nhiều đồng chí ở cương vị trực tiếp chỉ huy.

        Từ ngày 28/04 pháo và hoả tiến của ta bắn dồn dập vào Tân Sơn Nhất, gây cháy trụ sở của Ban liên hợp quân sự phía Sài Gòn, câu lạc bộ sỹ quan ngụy. Tất cả cán bộ chiến sỹ ta đều ở trong hầm. Về phía ta, điều không may là một mảnh đạn chui qua cửa thông hơi của căn hầm có nắp làm một đại uý hy sinh, có năm người bị thương trong đó có một đồng chí trung tá, một mảnh khác trúng một đồng chí cảnh vệ đang đổi gác ở ngoài công sự, đồng chí này cũng hy sinh.

        Chiều ngày 28/04 một tốp A37 của ta ném bom khu đỗ máy bay trực chiến của ngụy cách đoàn ta độ 200 m. Sự kiện này được báo cáo ngay ra Bộ tổng tham mưu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện động viên và hỏi đoàn ta có an toàn không. Cũng từ ngày 28/04, ta nghe được các đài chỉ huy các đơn vị tiến về Sài Gòn. Không thể tả nổi vui mừng của mọi người khi một đơn vị báo là đã đến ngã tư Bẩy Hiền, một đơn vị xe tăng đã đến hàng rào phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất, được lệnh dừng lại và đào công sự tại chỗ. Tuy Ban liên hợp quân sự không họp nhưng ta vẫn duy trì các cuộc họp báo vào các sáng thứ 7 hàng tuần, đông đảo nhà báo các nước đến dự, nghe tin chiến sự, thăm dò xem ta có tấn công Sài Gòn bằng quân sự không. Trong khi ta vẫn phải giữ bí mật ý đồ quân sự của ta, ta tố cáo mạnh mẽ việc Sài Gòn lấn chiếm và đánh phá vùng giải phóng, nêu rõ là ta có quyền đánh trả nơi kẻ thù lấn chiếm và cả tại sào huyệt của địch.

        Ngụy Sài Gòn ngăn cản ta họp báo nhưng các nhà báo vẫn đến hoặc phỏng vấn qua điện thoại, nên sự có mặt của đoàn ta ở Tân Sơn Nhất vẫn phát huy được lợi thế trong đấu tranh dư luận. Dù ở trong hang cọp, ta vẫn phát huy được tính chủ động tấn công.

        10 giờ sáng 30/04/1975 sư đoàn 10 quân đoàn 3 tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất và đã đến trại Davis, cán bộ chiến sỹ ta vui mừng ra đón tiếp những người vào giải phóng Sài Gòn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #422 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 08:20:32 am »


Trại Đa-vit
Ngày thắng lợi

Phan Xuyến Thanh Đồng              
      Theo lời kể của đại tá Năm Thành và một số thành viên Phái đoàn quân sự bốn bên          
   
        Trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn khi vạch kế họach đánh vào Tân Sơn Nhất, cấp trên rất quan tâm đến vấn đề an toàn của các thành viên trong hai đoàn đại biểu quân sự của ta ở trại Đa-vít nằm ở góc tây nam sân bay Tân Sơn Nhất. Chính quyền Sài Gòn rất sợ ảnh hưởng của cách mạng, sợ cán bộ ta và nhân dân có điều kiện tiếp xúc, nên bố trí hai đoàn ta ở lọt thỏm giữa sào huyệt của chúng, cách ly hẳn với bên ngoài.
   
        Cán bộ, nhân viên hai đoàn ta họp bàn rất kỹ, hạ quyết tâm chuẩn bị mọi mặt: dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men, lập kế họach chiến đấu, vẽ sơ đồ hệ thống công sự phòng thủ, tổ chức phân công  lực lượng sẵn sàng chiến đấu trên từng vị trí… Nếu xảy ra tình huống chiến đấu với xe tăng địch thì chỉ mấy chục khẩu tiểu liên , súng trường trong tay, khó đạt kết quả. Bộ chỉ huy Miền cử cán bộ vào truyền đạt ý định khi cuộc tấn công vào Sài Gòn nổ ra, sẽ có một cánh đặc công vào ngay trại Đa-vít đón đoàn ra nơi an toàn. Đoàn phải chuẩn bị sẵn sàng, khi đặc công đến là xuất phát được ngay.
   
        Toàn đoàn họp phân tích tình hình và nhận thấy , nếu rút , sẽ không lợi nhiều mặt, trong lúc ta có đủ yếu tố cần thiết để bám trụ chiến đấu tại chỗ. Đảng ủy đoàn nhất trí đề nghị lên Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền cho đoàn được phép tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, hứa bảo đảm đủ sức bảo toàn lực lượng.
   
        Được cấp trên đồng ý và có được hai va ly thủ pháo tăng cường, từ 18-4-1975, cán bộ và nhân viên hai đoàn đại biểu quân sự của ta trong tại Đa-vít bắt đầu một cuộc chuẩn bị chiến đấu khẩn trương, âm thầm mà căng thẳng. Đêm đêm, mọi người chui vào lòng đất đào chiến hào, công sự. Xẻng, cuốc không đủ, mọi người huy động hết tất cả các thứ có thể đào được, từ lưỡi lê, dao găm cho đến những thanh sắt rải rác trong trại đập dẹt thành thuổng, vên… Cả khu đất 200 mét x 200 mét được chia thành 7 khu vực chiến đấu nối nhau bằng hệ thống hào giao thông có nắp dày gần như địa đạo. Mỗi khu vực có hệ thống công sự chiến đấu phòng thủ. Mặc dù các khâu cung cấp lương thực, thực phẩm đều do các nhà thầu của chính quyền đối phương cung ứng , trong đó có mạng lưới "Thiên Nga" cài vào, nhưng nhờ sớm có ý thức chủ động phòng ngừa, hai đoàn ta đã mua dự trữ sẵn , để khi địch phong tỏa sẽ có đủ lương thực dự trữ bảo đảm thời gian cần thiết để thực hiện "sứ mạng bám trụ" của đoàn. Ai nấy sẵn sàng "chiến đấu và chiến thắng" trong những tình huống gay cấn nhất.
   
        Vào sáng thứ bảy 26-4-1975, phiên họp báo do đồng chí Võ Đông Giang chủ trì chật cứng hơn trăm phóng viên. Người trung thực, có tình cảm với ta cũng như kẻ làm "ăng ten thu tin" cho Mỹ-ngụy đều cố tìm hiểu xem ta sẽ đánh đến đâu? Tiến công vào Sài Gòn ra sao? Có thương lượng nữa không? Không phải ngẫu nhiên mà phía bên kia để cho các nhà báo vào "Trại Đa-vít" dễ dàng như vậy. Chẳng bù cho những ngày đầu, họ tức tối, hậm hực, tìm đủ mọi cách cản ngăn, phá quấy, bày bao trò phá đám…
   
        Trưa 29-4, một đoàn khách khá đặc biệt tự giới thiệu là "phái viên của phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền" đến xin gặp trưởng đoàn ta để bàn việc "bàn giao chính quyền". Khoảng 14 giờ 30 , một đoàn thứ hai, rồi khoảng 17 giờ 30 lại chính đoàn thứ hai có thêm một luật sư lại tới thiết tha xin gặp để bàn làm sao việc ta đánh chiếm Sài Gòn "đỡ tổn hại" . Suốt từ 3 giờ sáng đến đêm 29-4, đạn pháo 130 ly và hỏa tiễn của ta vẫn lúc dày , lúc thưa, tiếp tục giã vào Tân Sơn Nhất. Có thể bàn gì thêm nữa, khi mọi điều cần thiết đã được Chính phủ cách mạng lâm thời nêu rõ trong Tuyên bố ngày 26-4-1975. Dẫu vậy, xét thấy những vị trong đoàn là người thuộc "lực lượng thứ ba", lâu nay đã đối lập với chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu, giữa đạn bom nguy hiểm lại tìm đến với cách mạng, ta nể tình thông báo cho ba vị là đoàn có thể tiếp họ nhưng với tư cách cá nhân, chứ không phải với tư cách đại diện bất cứ tổ chức nào. Đại tá Võ Đông Giang được phân công tiếp các vị tại hầm chỉ huy dự bị. Ngoài kia những đợt pháo cấp tập vào Tân Sơn Nhất báo hiệu trận tiến công của bộ binh vào đây sắp bắt đầu. Thế là , cả ba vị đều xin ở lại để bảo đảm an toàn, bom rơi, đạn nổ, biết đâu mà lường.
   
        Suốt đêm hôm đó , ba vị có ngờ đâu lại là một đêm đầy kỷ niệm lịch sử. Họ cùng thức trắng với chỉ huy "Việt Cộng", cùng chuyện trò thân mật, cởi mở. Và, chính qua đó , họ có điều kiện hiểu sâu thêm cách mạng, trút bỏ, giải tỏa được nhiều vấn đề về cách mạng mà lâu nay họ còn nghi ngại, trăn trở băn khoăn. Họ cũng đâu có ngờ chính sau cái đêm lịch sử đó là một bước ngoặt mới của cách mạng đã mở ra. Họ đâu có hiểu hết những tình tiết đã diễn ra trong đêm. Theo kế họach thì một cánh đặc công và một cánh xe tăng của ta sẽ tìm cách đến trại Đa-vít sớm nhất để tăng cường bảo vệ cho hai đoàn quân sự, hoặc tùy tình hình, có thể đưa bớt ra khu an toàn. Nhưng vì trận đánh vào Sài Gòn diễn ra nhanh chóng, thuận lợi trong thế nước vỡ bờ , nên cả hai cánh quân lãnh "nhiệm vụ đặc biệt" này , không tới trại Đa-vít nữa, được lệnh chuyển mục tiêu. Ba vị giáo sư, luật sư và linh mục ở lại trong đêm , đâu có biết , suốt đêm các quân nhân bảo vệ vẫn thay nhau có mặt ở vị trí canh gác , cảnh giới và hai đồng chí đã ngã xuống trong tư thế những người dũng sĩ…
   
        Sau bữa liên hoan đưa chân vào sáng 30-4-1975, cầm tặng vật trong tay mỗi người hai chai "Lúa mới", một gói lương khô, mà chính ba vị giáo sư, luật sư, linh mục cảm thấy rất thích thú. Ba vị nói chân thành:"Chỉ có Quân giải phóng mới có". Cả ba hòa vào niềm vui đại thắng đến ngỡ ngàng. Không có "cuộc tắm máu" nào xảy ra như đối phương hù dọa, như trí tưởng tượng của một số người.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #423 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 08:47:47 am »


TẢN MẠN - NHỮNG MẨU CHUYỆN

Đại tá Nguyễn Trọng Tô              
       
Nhận nhiệm vụ mới

        Sau khi ta thắng lớn trận Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam.

        Một buổi chiều, Trung tướng Phan Bình, Cục trưởng cục 2 gọi tôi lên và giao nhiệm vụ:

        -  Cậu phải đi làm nhiệm vụ mới, khác trước đây, nghĩa là làm ngọai giao quân sự. Mình chỉ dặn cậu một câu: Luôn luôn nghĩ mình là người chiến thắng, công việc cụ thể vào đây gặp anh Đôn Tự sẽ rõ.

        Lần này nhận nhiệm vụ tôi lo nhiều hơn phải nghĩ đến gian khổ, đây là một lĩnh vực mới. Tôi đọc lại bản Hiệp định Paris bằng tiếng Anh, để phòng khi nói chuyện với Tây …

        Một vài tuần sau tôi ra sân bay Gia Lâm cùng một số cán bộ ta trong Ban liên hợp quân sự để vào Sài Gòn.

        Tôi được giao nhiệm vụ làm sĩ quan báo chí của đoàn CPVNDCCH (đoàn A) kiêm sĩ quan liên lạc Tổ LHQS 4 bên do anh Đôn Tự làm trưởng đoàn, đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN (đoàn B) do anh Võ Thọ Son – Trưởng đoàn; đại tá Dương Hiếu Nghĩa - Trưởng đoàn ngụy Sài Gòn, Tombeau trưởng đoàn Mỹ.

        Hàng tuần có hai phiên họp đủ bốn đoàn, xung quanh một cái bàn vuông phủ vải xanh ngồi trong phòng lạnh, nhưng không khí cuộc họp bao giờ cũng nóng. Tố cáo lẫn nhau về vi phạm Hiệp định, có lần Tombeau rút trong ngăn bàn ra một cái áo phi công bê bết máu khô lên án Việt cộng bắn rơi trực thăng, giết phi công Mỹ. Đến giờ giải lao, các đoàn bốn bên lại thành đoàn hai bên. Đoàn Hà Nội và đoàn Lộc Ninh vào phòng có cafe, bánh kẹo đủ thứ … nhưng ta chẳng bao giờ sờ đến, có lẽ vì cảnh giác cao độ, thậm chí chẳng nói gì ngoài vài ba câu vô thưởng vô phạt.

        Đoàn Mỹ và đoàn ngụy vào một phòng bên cạnh. Cứ thế một vài tháng sau đó, có lẽ họ phát hiện ra “Việt Cộng” quá ư cảnh giác, nên họ bố trí cả bốn đoàn giờ giải lao vào chung một phòng, không khí có phần đỡ căng thẳng hơn.

        Tôi còn nhớ một lần giải lao giữa cuộc họp, tôi nói với Dương Hiếu Nghĩa:

        -  Chúng ta là người Việt Nam cả, sao ông ăn nói thô bạo như vậy"

        (Xin miễn trích lời hắn nói). Ông ta nói lại với tôi:

        -  Anh biết không, ta họp ở đây, tướng tá ngồi sau phòng nghe, xem cả đấy. Tôi phải nói mạnh chứ!

        Tôi nói:

        -  Thế sao ông không được lên tướng?

        -  Tôi thuộc nhóm giết Ngô Đình Diệm sao mà lên tướng được, họ sợ tôi lại giết họ như giết Diệm!

        Ông ta trả lời.

        Qua hành động và lời nói, tuy có tên là Hiếu Nghĩa, nhưng đây chính xác là tình báo viên của Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo Sài Gòn. Sau khi ta giải phóng Sài Gòn, tay này là một trong những người cải tạo về muộn nhất.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #424 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 08:55:45 am »


Gặp nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn

        Một lần Đoàn B tổ chức họp báo, Chính quyền Sài Gòn sắp xếp cho hai bên họp báo vào chiều thứ bẩy, là thời điểm mà mọi người dân cũng như quan chức nhà báo đi nghỉ cuối tuần. Mục đích của họ làm giảm ý nghĩa cuộc họp báo. Chúng cho rằng có ít người theo dõi tin tức, ít người đến dự. Nhưng trái lại, cuộc họp báo nào cũng rất đông, đại diện hàng chục hãng thông tấn có phân xã ở Sài Gòn đều đến dự. Cuộc họp báo nào cũng vui vẻ, rôm rả, có rượu ngon, các lọai kẹo bánh…từ Hà Nội gửi vào, có nem rán, thịt nướng nóng hổi, tự tay đầu bếp của ta phục vụ. Đặc biệt là báo chí hàng ngày, tạp chí các loại hàng tháng mà anh em cán bộ ở phía sau chuẩn bị cho đoàn nhưng có lẽ điều thích nhất của họ là được nghe những lời nói đúng sự thật mà trưởng đoàn ta nêu lên, cũng như các câu trả lời những thắc mắc của họ. Tôi thấy giới báo chí Quốc tế và phần lớn các phóng viên báo chí Sài Gòn đều có thiện cảm với họat động của đoàn ta nói riêng và cuộc đấu tranh của quân dân ta nói chung.

        Một lần thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn trưởng Đoàn B chủ trì họp báo, tôi thấy có một nhà báo người Việt Nam làm cho Phương Tây tên là Phạm Xuân Ẩn cũng đến dự.

        Anh ta ngoảnh mặt vào góc tường lầm lì, ít nói, tôi cũng chẳng ưa gì…

        Bất ngờ thay, cuối năm 1979, tôi đang chuẩn bị công tác dài ngày ở nước ngoài, Phạm Xuân Ẩn, tức thiếu tướng Hai Trung anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ra họp đại hội anh hùng.

        Lãnh đạo cục II lại cử anh Hai Trung bồi dưỡng kiến thức kinh nghiệm cho tôi và anh Vặn trước khi lên đường làm nhiệm vụ. Phạm Xuân Ẩn là nhà tình báo chiến lược hoạt động có hiệu quả nhất, có tầm cỡ quốc tế. Anh đã làm việc cho Mỹ, cho Anh hơn hai chục năm trời, đã từng học khoa báo chí trường đại dọc Orange Coast California; Gần chục năm trời làm phóng viên cho tạp chí Times; Tạp chí uy tín nhất của Mỹ, gần chục năm cho hãng Reuters; Hãng uy tín nhất của Anh. Tôi hỏi anh:

        -  Sao hồi đó vào họp báo ở Tân Sơn Nhất anh cứ nhìn thẳng vào góc tường?

        - Mình sợ “tay Việt Cộng” nào đó biết mình rồi ôm chầm lấy mình thì nguy to!

        Hàng chục năm làm tình báo khéo ngụy trang, chui sâu, anh Hai Trung đã cung cấp cho lãnh đạo không biết bao nhiêu tài liệu tin tức, đặc biệt tin tức chiến lược. Tôi xin nêu một tin mà tôi cảm thấy rất thú vị: Đó là sau 3 đợt tổng tấn công và nổi dậy ở toàn miền Nam Việt Nam. Ta chẳng những không dứt điểm được mà còn bị tổn thất nghiêm trọng, đặt biệt là lực lượng biệt động, lực lượng bí mật, các mạng lưới tình báo….

        Rất may, Hai Trung và một số đồng chí khác được lệnh không tham gia trực tiếp vào những chiến dịch đó.

        Sau tổng tấn công nổi dậy năm 1968 chúng ta gặp nhiều khó khăn, một số không ít cán bộ, kể cả cấp cao có người giao động hoang mang. Bọn địch tưởng chúng sắp thắng đến nơi rồi. Bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với những chiến dịch Lam Sơn 719 Quảng Trị, chặt đứt đường tiếp tế của ta….

        Trong lúc tình thế ngặt nghèo như vậy. đồng chí Hai Trung gửi ra Trung Ương Cục bản báo cáo mật của của Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cho Wasshington về những tổn thất cực kỳ to lớn của Mỹ ngụy sau tết Mậu Thân và đặc biệt có kết luận báo cáo rằng “Mỹ không thể thắng bằng quân sự ở Việt Nam, cần phải có một giải pháp chính trị và ngoại giao!”.

        Đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) gọi điện ngay cho đồng chí Như Văn phụ trách tình báo Miền và nói: “Thưởng cho các cậu một con bò!” rồi cười xòa.

        Anh Như Văn nói vui: “Ít quá, tin to thế mà thưởng một con bò thì bõ bèn gì anh Mười ơi!”

        Anh Như Văn có lần kể chuyện vui với tôi như vậy đấy. Một cái tin xoay chuyền cả nhận định đánh giá tình hình. Trong họat động tình báo chiến lược chỉ cần một hai tin như thế đã là anh hùng nhưng với anh Hai Trung có hàng chục tin như vậy.

        Mấy năm sau ngày giải phóng, bạn bè cũ, người Mỹ sang lại Sài Gòn vẫn tưởng Hai Trung vừa đi cải tạo về. Họ không thể tin được rằng con người như Hai Trung mà là Cộng Sản!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #425 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 09:01:34 am »


Thiếu nước nấu bánh chưng Tết

        Ngày 30 tết năm Ất Mão (1975) khoảng gần 300 cán bộ chiến sỹ của cả hai đoàn Bắc Nam náo nức chuẩn bị tết trong lòng Sài Gòn.

        Bánh chưng đã gói, lợn đã mổ, ta chuẩn bị đủ thứ, cho cả vợ con lính ngụy bên “Khu gia binh” nữa. Tôi nói với anh em cứ gói nửa cân kẹo một túm và khi nấu xong bánh chưng thì quẳng một số qua hàng rào cho gia đình lính ngụy. Đột nhiên nước tắc, không có lấy một thùng để nấu bánh chưng. Anh Hoàng Anh Tuấn trưởng đoàn, bảo tôi:

        -  Cậu là sỹ quan liên lạc, cậu gặp tụi sỹ quan liên lạc ngụy bảo chúng sửa chữa cấp nước ngay!

        Tôi nói:

        -  Gặp ngụy không giải quyết được gì đâu anh ạ, gặp tụi Mỹ thì mới xong!

        -  Ừ, thì tùy cậu!

        Anh nói. Tôi lập tức gọi điện cho Johnson - sỹ quan liên lạc của Đoàn Mỹ đến trại Đavit, nơi phái đoàn ta ở - khi Johnson vừa bước chân vào phòng, tôi phủ đầu tới tấp:

        - Người Mỹ các anh tự nhận mình là người văn minh có học thức, các anh đã ở Việt Nam hàng chục năm mà chẳng hiểu phong tục tập quán người Việt Nam chúng tôi.

        - Phong tục là gì ạ?

        Hắn hỏi lại.

        -  Là cuối năm âm lịch, người Việt Nam phải tắm tất niên, ai phá hoại cuộc tắm thần thánh đó, thì họ thù đến đời con, đời cháu, tại sao các ông cắt nước?

        - Tôi không biết phong tục đó, mà có biết thì người Mỹ cũng không làm như vậy. Vấn đề điện nước là do chính quyền Sài Gòn chịu trách nhiệm các ông gặp phía Sài Gòn để giải quyết!

        Hắn nói.

        -  Người Mỹ là thầy của họ, chắc các ông nói họ phải nghe, thôi ông về bảo họ mở ngay đi.

        Quả thực độ khoảng hơn nửa giờ sau thì có nước. Tôi bịa ra cái phong tục đó để dọa nó.

        Đêm 30 tết chúng tôi làm một cuộc tặng quà “ném qua hàng rào, qua hào” mà bọn ngụy đã đào xung quanh doanh trại ta để đề phòng ta từ cơ quan trụ sở của đoàn đột nhập tiến công vào sân bay. Chúng tôi ném kẹo và bánh chưng cho gia đình lính ngụy. Trẻ con, đàn bà và cả lính nữa ra nhận họ hỷ hả phấn khởi lắm, trẻ con chia nhau ăn, người lớn mang bánh vào nhà.

        Cảnh sát ngụy biết được, chúng cấm những người ở khu gia binh ra khỏi nhà. Sáng mùng 1 hội múa lân do anh em trong đoàn diễn, đồng bào đi vui tết cả lính ngụy nữa vây quanh doanh trại để xem. Bọn cảnh sát đưa xe vòi rồng ra xịt xua đuổi, họ mới tản đi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #426 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 09:13:54 am »


Kiên quyết bảo vệ hàng hoá của ta

        Sau Tết có chuyến bay C130 chở một số sỹ quan của bốn phái đoàn ra Hà Nội. Tôi là trưởng bộ phận của đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày máy bay này lại trở về Tân Sơn Nhất.

        Lần này ta chở vào Sài Gòn nhiều thứ. Tay trưởng đoàn Mỹ hỏi tổ lái:

        “Ready go?” (Sẵn sàng cất cánh chưa?) nói xong hắn gọi tôi và nói:

        - Các ông chở nhiều quá, bỏ bớt xuống đi!

        Tôi nói:

        -  Hàng cồng kềnh nhưng trọng lượng vẫn thế mà!

        -  Ông Tô theo tôi lên buồng lái. Hắn nói như ra lệnh.

        Hắn chỉ vào đồng hồ, tôi liền thấy kim chỉ hơn hai tấn, thầm nghĩ mình không thể lừa được máy đo.

        Tôi chống chế:

        - Anh em họ chỉ ước chừng bốc lên máy bay, không cân ông thông cảm.

        Hắn nói:

        -  Hiệp định nói chỉ chở tối đa 1 tấn không hơn, lần sau không được đâu nhé!

        Miệng hắn nói nhẹ nhàng, không cáu gắt gì cả. Tôi sinh nghi. Máy bay vẫn cất cánh như mọi lần. Quả vậy, khi máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất tôi thấy quang cảnh khác hẳn. Đèn điện tắt gần hết, chỉ để đèn hướng dẫn máy bay hạ cánh xuống mà thôi. Tôi nói với anh em:

        -  Có chuyện rồi!

        Những lần trước xe đoàn ta ra đón ngay. Lần này đợi 10 phút, 20 phút, nửa giờ chẳng ai ra đón. Lúc này đoàn Mỹ, đoàn ngụy đã về nhà hết. Trên máy bay chỉ còn lại tổ công tác của hai đoàn ta. Tôi bảo tất cả anh em cứ ngồi lại trên máy bay dù bọn Mỹ có chở ta đi đâu cũng mặc. Tôi và đồng chí thượng sỹ bảo vệ rời máy bay đi xuống gặp bọn chỉ huy ở sân bay. Tất cả bọn chúng đều mặc thường phục, khác với mọi ngày chúng hay mặc quân phục, có quân hàm, quân hiệu. Hỏi thằng nào nó cũng trả lời cộc lốc:

        -  Không biết, đi gặp người có trách nhiệm mà hỏi!

        Biết ai có trách nhiệm ở đây, lúc này tôi quay lại máy bay. Tên trưởng phi hành đoàn nói với tôi

        -  Các ông phải xuống hết, theo Hiệp định chúng tôi chỉ được ở sân bay Tân Sơn Nhất một tiếng đồng hồ mà thôi C130 bay về Utapao (Thái Lan).

        - Tất cả anh em cứ ngồi đấy, để tôi xuống xem sao.

        Tôi bình tĩnh nói vậy với mọi người. Bỗng chốc lù lù một chiếc xe nâng tải, hai cái càng thò ra như hai cái đòn xóc chạy thẳng vào đít máy bay đã mở sẵn. Chúng định nhấc khối hàng xuống đất. Khi xe chỉ còn cách máy bay chừng hai mét tôi và đồng chí thượng sỹ liều mạng nhảy vào giữ hai càng xe nâng.

        Thằng Mỹ ngồi trên máy bay hét lên:

        -  Wounded! Wounded! (Bị thương, bị thương) Get away, Get away (Cút đi, cút đi)

        Không rõ chúng bảo chúng tôi tránh ra hay cút đi chỉ thấy cái xe nâng tải lùi ra xa và quay đầu chạy biến vào trong đêm tối.

        Té ra bọn chúng khi ở sân bay Gia Lâm đã báo cho bọn ngụy Sài Gòn có món hàng quan trọng, hãy chộp lấy xem sao, có vũ khí, có chất nổ không và gì gì nữa…chộp được hàng cấm chúng sẽ đấu ta trong phiên họp sắp tới với dư luận trong nước và quốc tế.

        Quả thật đây là chuyến hàng quan trọng gồm có 100 triệu đồng Sài Gòn, BLOC loạn số mật mã, máy điện tâm đồ, lương khô và gì nữa đựng trong hòm thiếc gắn kín mà tôi cũng không biết nữa. Tôi biết rằng khi ta còn ở trên máy bay thì Mỹ chịu hoàn toàn trách nhiệm, nhưng khi hàng đã xuống đất thì Mỹ không chịu trách nhiệm nữa mà bọn ngụy tha hồ lục soát và cướp đi nữa chứ. Về sau này nghĩ lại, tại sao lúc ấy mình lại nhảy vào càng xe bằng tay không chẳng ngại gì cả! Có lẽ chỉ sợ mất hàng thôi! Chúng tôi cứ sấn sổ chặn chúng lại. Quả nhiên chúng đã phải chùn bước, hàng hoá của ta được giữ nguyên vẹn và được đưa đầy đủ vào trại Davis.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #427 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 09:28:08 am »


CHUYẾN BAY LIÊN LẠC SÀI GÒN - LỘC NINH CUỐI CÙNG

Nguyễn Quang Biểu              

       Nguyên sỹ quan phiên dịch Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Cách mạng thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam
  
        Theo sự thoả thuận của các bên trong Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên Trung ương, hàng tuần có 2 chuyến máy bay liên lạc giữa Sài Gòn và Lộc Ninh.
   
        Phương tiện là máy bay trực thăng HU1A, chuyên chở người và hàng hoá phục vụ cho Đoàn đại biểu quân sự của CPCMLTCHMNVN trong trại Davis.
   
        Các chuyến bay này được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao. Phía Việt Nam Cộng Hoà không được phép khám xét người và hàng hoá.
   
        Từ tháng 2 năm 1973, nhìn chung các chuyến bay vẫn được thực hiện nhưng không đều. Nhiều trường hợp ngụy Sài Gòn viện những lý do hết sức vu vơ nhưng thực chất là ở chiến trường quân ta đánh cho những đòn đau nên Nguyễn Văn Thiệu lồng lộn ra lệnh đánh phá vào các khu giải phóng. Đồng thời trả đũa vào 2 đoàn của ta ở trại Davis. Chúng phá các phiên họp, cắt điện thoại, cấm cả việc cung cấp báo chí cho ta, ngăn cản họp báo và cắt các chuyến bay liên lạc Sài Gòn - Lộc Ninh.
   
        Hai đoàn đại biểu quân sự ta vẫn vững vàng và tiếp tục đấu tranh, vẫn giữ liên lạc được với Hà Nội và Lộc Ninh bằng nhiều phương tiện khác.
   
        Ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân ta tiến công thị xã Phước Long và liên tiếp sau đó là tiến công Ban Mê Thuột (10-03-1975). Chiến thắng dồn dập giải phóng Thành phố Huế (25-03-1975), giải phóng Thành phố Đà Nẵng (29-03-1975)…
   
        Cán bộ, chiến sỹ hai đoàn đại biểu quân sự ta trong trại Davis hết sức phấn khởi và theo dõi rất kỹ cuộc tiến công như vũ bão của quân ta trên chiến trường.
   
        Đồng chí thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, trưởng đoàn B mang cả tấm bản đồ có đánh dấu đỏ các mũi tên tiến công của quân ta trên các hướng sang đố vui chúng tôi xem ai đoán trúng mũi tên tiến công nào sẽ tiến vào Sài Gòn trước tiên? Tuy không phải các nhà quân sự chuyên nghiệp, chúng tôi cũng hiểu được rằng trong sâu thẳm của vị tướng trưởng đoàn của mình đang nung nấu một nguyện vọng giá như được trở lại chiến trường, tung hoành trận mạc, dẫn một đoàn quân ta vào giải phóng Sài Gòn, nơi đó còn có mẹ và em gái mình đang ngày đêm chờ mong ngày đoàn tụ sau bao năm xa cách, còn hơn là nằm chờ tại đây...

        Lúc này mọi người đều kháo nhau và dự kiến các tình huống có thể xảy ra đối với 2 phái đoàn ta:

        1.Bị bắt làm con tin để mặc cả sau này, nếu như ta không dứt điểm được việc giải phóng Sài Gòn.
        2.Bị tiêu diệt bởi xe tăng và bộ binh của địch.
        3.Một số đồng chí của đoàn có thể được xe tăng và đặc công của ta vào cứu đưa đến một nơi an toàn.
        4. Quân ta thắng lợi như chẻ tre, địch hoang mang tan rã chỉ lo mà tháo chạy, không đứa nào dám bén mảng đến chỗ ta. Nếu có đến, với tinh thần của 2 đoàn ta đã được chuẩn bị, chúng ta đủ sức chiến đấu với chúng, chờ đại quân tới.

        Lãnh đạo hai đoàn đều hạ quyết tâm chuẩn bị sẵn sàng đối phó với tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Một số bức điện mật của lãnh đạo Đảng và Quân đội liên quan đến chủ trương của ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã được lãnh đạo hai đoàn phổ biến cho cán bộ đảng viên của 2 đoàn để xác định tư tưởng kiên định bám trụ, chiến đấu đến cùng, sẵn sàng chiến đấu để góp phần vào thắng lợi cuối cùng. Cán bộ chiến sĩ hai phái đoàn ngày đêm thay nhau đào hầm, xây dựng giao thông hào liên hoàn như địa đạo nối liền 7 khu vực chiến đấu, hai hầm ngầm chỉ huy, một hầm quân y, kho dự trữ lương thực...Tất cả đều được xây dựng tuyệt đối bí mật bên trong doanh trại bằng các dụng cụ tự chế tạo; chủ yếu bằng cọc màn, giường sắt được gò thành thuổng và mài sắc để đào đất cho bén.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #428 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 09:32:48 am »

        Vũ khí ta có trong hai phái đoàn chủ yếu là súng ngắn, một số tiểu liên AK - 47 theo quy định của Hiệp định Paris. Cái thiếu của 2 đoàn ta là vũ khí, đạn dược, lựu đạn, nhất là vũ khí chống tăng. Để có thể chiến đấu với xe tăng, bộ binh địch trong trường hợp chúng liều lĩnh xông vào, ta phải có những vũ khí cần thiêt trên. Đoàn đã điện, phản ánh một vài khó khăn và đề nghị cấp cho vũ khí chống tăng. Cấp trên đồng ý, song lại nảy sinh khó khăn mới, đó là vận chuyển những thứ đó từ Lộc Ninh vào phái đoàn như thế nào cho suôn sẻ, che mắt được địch. Nếu bị phát hiện, kẻ địch có thể suy ra ý định của ta và như vậy sẽ ảnh hưởng đến toàn cuộc. Ở đây cần phải nói thêm một điểm là từ khi ta đánh và giải phóng tỉnh lỵ và toàn bộ tỉnh Phước Long, phía Sài Gòn đơn phương cắt vô thời hạn các chuyến bay liên lạc hàng tuần Sài Gòn - Lộc Ninh. Đây là việc làm thường xuyên của phía họ nhằm gây sức ép đối với các phái đoàn ta.

        Nhưng như ông cha ta thường nói: "Trong cái khó, ló cái khôn". Cái "khôn" hay nói đúng hơn là biết lợi dụng một tình huống bất ngờ nảy sinh là trong trận đánh và giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta có bắt giữ một đại uý In-đô-nê-xi-a và một đại uý người I-ran trong Tổ Uỷ ban Quốc tế ở đó. Đại sứ In-đô-nê-xi-a và Đại sứ I-ran đến nhờ trưởng đoàn ta tại trại Davis can thiệp để trao trả cho họ. Ta nhận thấy đây là dịp may hiếm có để chẳng những có thể khai thác vào việc vận chuyển một số vũ khí chống tăng, đáp ứng yêu cầu của phái đoàn ta mà còn đưa được một số cán bộ lãnh đạo đoàn không cần thiết nữa ra vùng giải phóng để nhận nhiệm vụ khác, như vậy là nhất cử lưỡng tiện, vừa đưa được người của ta ra vùng giải phóng vừa vận chuyển được "hàng" về. Phía ta đã chăm sóc hai sĩ quan trên chu đáo và cho đưa về Lộc Ninh, chờ ngày trao trả và lãnh đạo đoàn ta cũng nói cho hai phái đoàn In-đô-nê-xi-a và I-ran trong Uỷ ban Quốc tế cần gây sức ép với phía Sài Gòn bảo đảm an ninh cho máy bay của Uỷ ban Quốc tế bay vào Lộc Ninh, ta cần có sĩ quan liên lạc đi cùng phái đoàn Uỷ ban Quốc tế.

        Về phía đoàn, ta cử đồng chí đại tá Nguyễn Văn Sĩ (thường gọi là anh Bẩy Sĩ, sau này là thiếu tướng, phó Tư lệnh Quân khu 9), phó trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 2 bên Trung ương, tôi đi làm nhiệm vụ phiên dịch cho đồng chí Bẩy Sĩ và áp tải "hàng". Chúng tôi đều được các đồng chí lãnh đạo đoàn quán triệt rất kỹ nhiệm vụ được giao cần phải hoàn thành một cách tốt nhất, không để cho đối phương phát hiện được ý định thực của ta.

        Theo kế hoạch, Uỷ ban Quốc tế sẽ thực hiện hai chuyến bay Sài Gòn- Lộc Ninh: Chuyến thứ nhất vào ngày 15 tháng 4 năm 1975 để làm công tác chuẩn bị, còn chuyến thứ 2 bay vào ngày 17 tháng 4 năm 1975 để thực hiện việc trao trả và đón hai sĩ quan đó về Sài Gòn. Theo phân công đồng chí Bẩy Sĩ sẽ tháp tùng đại sứ In – đô – nê – xi –a và đại sứ I-ran trong chuyến bay  thứ hai ra Lộc Ninh, sau đó ở lại và không quay lại trại Davis nữa. Nhưng việc không quay lại Sài Gòn chỉ một mình đồng chí Bẩy Sĩ biết mà thôi và phải tuyệt đối giữ bí mật không để đối phương biết. Còn tôi có nhiệm vụ đi phiên dịch, nhận “hàng” và áp tải “hàng” về cho phái đoàn ta. Để đảm bảo chắc ăn, bộ phận sỹ quan liên lạc và an ninh của phái đoàn ta đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Lộc Ninh để ngay sau khi máy bay của Uỷ ban Quốc tế hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất là đã có đủ người bốc dỡ va-li ngay lên xe của ta và trở về phái đoàn. Khi các chiến sĩ ta khiêng “2 va-li ngoại giao” lên xe, tôi nghe thấy mấy sĩ quan nguỵ kháo nhau:

        -  Hàng ngoại giao gì đâu, lại mì (sắn) Lộc Ninh đó thôi, mấy ổng này quen ăn mì rồi.

        Với chuyến thứ nhất ta đã mang trót lọt “2 va-li ngoại giao” đầy vũ khí chống tăng, không bị ai khám xét…

        Với chuyến thứ hai, tôi còn nhớ khi lên máy bay đi Lộc Ninh, ngồi cạnh nhau, vị đại sứ In-đô-nê-xi-a hỏi đồng chí Bẩy Sĩ:

        -  Xong việc trao trả tại Lộc Ninh, ngài đại tá có cùng chúng tôi về Sài Gòn hay không?

        Đồng chí Bẩy Sĩ đành trả lời một cách lấp lửng:

        -  Chắc là có, vì nhiệm vụ chính của tôi hôm nay là đi tháp tùng các ngài và chứng kiến cuộc trao trả hai sĩ quan Uỷ ban Quốc tế.

        Nói xong không ai nói thêm gì nữa, mỗi người theo đuổi ý nghĩ của riêng mình. Linh cảm mách bảo tôi đây là chuyến đi cuối cùng tiễn đồng chí Bẩy Sĩ ra vùng giải phóng nhận nhiệm vụ mới. Bỗng dưng trong tôi trào lên một tình cảm rõ rệt. Phía trước là khu giải phóng, là hậu phương vững chắc cho những cuộc tiến công vũ bão sắp tới, đánh vào sào huyệt cuối cùng của địch. Phía sau tôi là tiền phương, nơi còn có 300 đồng đội của mình, đang ngày đêm mong chờ có đủ vũ khí đạn dược để “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tôi tự nhủ phải áp tải thắng lợi 2 va-li ngoại giao này về cho đoàn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #429 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 09:35:22 am »

        Việc trao trả hai sỹ quan In-đô-nê-xi-a và I-ran diễn ra một cách suôn sẻ, nhanh chóng. Họ đều khoẻ mạnh và phấn khởi, hết lời ca ngợi sự đối xử tốt đẹp của bên ta dành cho họ. Tôi đoán, chắc hơn 1 tháng sống trong vùng giải phóng với các chiến sĩ ta, kể từ ngày bị bắt giữ tại thị xã Buôn Ma Thuột, giờ đây hai viên đại uý này đầy ắp những kỉ niệm và muốn nhanh chóng trở về Sài Gòn. Lúc chuẩn bị lên máy bay để trở về Tân Sơn Nhất, đồng chí Bẩy Sĩ kéo tôi ra chỗ vắng nói nhỏ:
        -  Lát nữa phía họ có hỏi sao tôi không về thì em cứ nói tôi bị bệnh phải ở lại Lộc Ninh chữa bệnh nhé.

        Nói xong đồng chí ôm chặt lấy tôi và nói:

        -  Em trở về trong đó mạnh giỏi, nhớ gửi lời chào tới tất cả các anh em phiên dịch trong Tiểu ban Quốc tế nhé

        (Đồng chí Bẩy Sĩ là phó đoàn phụ trách Tiểu ban Quốc tế và hay có thói quen gọi phiên dịch chúng tôi là em). Lúc đó tôi không biết nói gì, chỉ thấy mặt mình nóng ran. Nhưng tôi rất hiểu tình cảm và những lời nói chân thành của đồng chí Bẩy Sĩ dành cho tôi lúc này mang đầy ý nghĩa.

        Thế là bằng hai chuyến bay của Uỷ ban Quốc tế ra Lộc Ninh đón hai thành viên của phái đoàn In-đô-nê-xi-a và I-ran bị quân ta giữ lại từ trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột về Tân Sơn Nhất vào các ngày 15 và 17 tháng 4 năm 1975, đoàn ta đã hoàn thành một cách xuất sắc kế hoạch đã đề ra: vừa chuyển được người ra vùng an toàn vừa mang được vũ khí chống tăng về để chuẩn bị cho giai đoạn chiến đấu cuối cùng.

        Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn vào ngày 26 tháng 4 năm 1975 và đến sáng 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn hoàn toàn giải phóng. Do các mũi tiến quân của ta tiến về Sài Gòn nhanh, mạnh như vũ bão dẫn đến quân đội Sài Gòn tan rã nhanh chóng, trở tay không kịp mà các chiến sĩ ta trong trại Davis không có dịp sử dụng đến số vũ khí chống tăng kia. Nhưng như người ta thường nói “nuôi quân ba năm, dùng quân một giờ”, ở đây không phải dùng đến quân mà vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì càng tốt chứ sao!

        Xin nói thêm một chi tiết để thấy các tình huống dự kiến trên của anh em ta trong phái đoàn là có cơ sở, khi tiếp quản Bộ Tổng tham mưu nguỵ, sĩ quan an ninh của ta đã tìm thấy sổ công tác trên bàn làm việc của tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, có ghi: “Chỉ thị cho cấp dưới được quyền sử dụng một trong các biện pháp sau đây đối với phái đoàn trong trại Davis không cần xin chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, chỉ cần phát hiện thấy có tiếng súng từ trại Davis bắn sang sân bay: (1) Bắn pháo, cối vào trại Davis; (2) Cho xe tăng và bộ binh tấn công; (3) Ném bom; (4) Rải chất độc hoá học. Cao Văn Viên di tản chiều 28 tháng 4 năm 1975 và lệnh này không được thi hành cũng do việc nguỵ “nhào” quá nhanh mà thôi.

        Thấm thoắt hơn ba mươi năm đã trôi qua và chúng ta đang chuẩn bị kỷ niệm ngày chiến thắng 30 tháng 4, mốc đánh dấu miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông trở về một mối và cũng là dịp để các thành viên trại Davis gặp mặt ôn lại những kỷ niệm xưa. Được biết đồng chí Bẩy Sĩ đã qua đời. Ngày đồng chí mất vì đường xá xa xôi không vào viếng, tiễn đưa đồng chí đến nới an nghỉ cuối cùng được, nhưng tôi cầu xin vong linh của đồng chí hãy coi bài viết này của người phiên dịch đã từng tiễn đưa đồng chí ra vùng giải phóng Lộc Ninh an toàn trên chuyến bay liên lạc cuối cùng của Uỷ ban Quốc tế như một nén hương thắp lên mộ để tưởng nhớ đến người Thủ trưởng năm xưa rất đỗi kính yêu của mình.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM