Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:33:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315339 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #490 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2013, 01:38:39 am »


        II.   NHỮNG THÀNH TÍCH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ LIÊN HỢP QUÂN SỰ TRONG ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO QUÂN SỰ THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PA-RI VỀ VIỆT NAM

        1. Buộc quân đội Mỹ và quân đội các nước chư hầu của Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày

        Nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn đánh giá rằng: "Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Pa-ri không phải là ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại" .

        Trong đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam thì nhiệm vụ quan trọng nhất mà Đảng và Nhà nước giao cho 2 Đoàn ta là phải đấu tranh một cách kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo và sáng tạo để buộc cho được quân Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày như Hiệp định Pa-ri quy định.

        Việc Hoa Kỳ phải chấp nhận rút hoàn toàn quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam là vấn đề đấu tranh rất quyết liệt, căng thắng, kéo dài ở Hội nghị Pa-ri. Với Mỹ thì đây là một thất bại rất cay đắng mà họ đã dùng mọi biện pháp, kể cả biện pháp mạnh là ném bom B52 vào Hà Nội tháng 12 năm 1972 mà không cứu vãn được. Với chính quyền Sài Gòn thì quân Mỹ rút hoàn toàn là mất chỗ dựa và Hiệp định là một bản án tử hình đối với chúng.

        Chúng ta phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo phát hiện kịp thời những ý đồ đen tối trong vấn đề rút quân, phải đề phòng cả trường hợp chúng dây dưa kéo dài hoặc tìm mọi cớ rồi chây ỳ để lại một bộ phận quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

        -   Hai Đoàn ta bằng mọi cách thúc đấy quân Mỹ phải rút đúng số lượng 25% theo từng đợt. Sĩ quan ta kiểm tra, giám sát thật nghiêm túc. chặt chẽ việc rút trong từng chuyến ở tất cả các địa điểm rút quân Mỹ ở Nha Trang, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng. Ta đảm bảo cho quân Mỹ rút được an toàn, không gây bất cứ một trở ngại nào. Chúng ta đã tống tiễn chúng với thái độ đàng hoàng và trên tư thế chững chạc của đội quân chiến thắng, của người lính cách mạng có tầm văn hoá cao.

        -   Ngay đợt trao trả và rút quân đầu tiên, hai Trưởng đoàn ta hỏi Trưởng đoàn Mỹ, Thiếu tướng Gin-bớt út-uốt, là tại sao trao trả đã bắt đầu mà không thấy Đoàn Hoa Kỳ thông báo lịch rút quân và đợt rút quân đầu tiên để Ban Liên hợp quân sự và Uỷ ban Quốc tế làm nhiệm vụ của mình. Trưởng đoàn Mỹ lúng túng và né tránh. Ta yêu cầu phải báo cáo không thể cho qua được, út-uốt nói đợt 1 chúng tôi đã rút 8.000 quân, có cả quân đồng minh.
Lập tức hai Trưởng đoàn ta phản đối. Không thể chấp nhận sự thông báo hời hợt như thế được. Ai tin được. Phải chăng là con số bịa đặt? Không có sự kiểm tra, kiểm soát, giám sát của Ban Liên hợp quân sự và Uỷ ban Quốc tế thì việc rút quân đó là không có giá trị.

        Út-uốt ngồi im chịu trận. Mấy ngày sau, y phải gửi công hàm chịu để Ban Liên hợp quân sự và Uỷ ban Quốc tế kiểm tra, kiểm soát, giám sát tất cả các đợt, các chuyến rút quân.

        -   Sĩ quan quân đội ta đi kiểm tra, kiểm soát Mỹ rút quân phát hiện thấy không có tên nào mang theo vũ khí. Sĩ quan ta chất vấn, chúng nói rằng vũ khí đã mang về bằng đường biển. Thật là một sự lừa bịp trắng trợn.

        Trưởng đoàn ta truy hỏi út-uốt rằng, theo Điều 6 của Hiệp định Pa-ri, quân đội Hoa Kỳ và chư hầu phải hủy bỏ căn cứ quân sự mà không thấy Đoàn Mỹ báo cáo việc này. Út-uốt nói rằng Hoa Kỳ đã bàn giao các càn cứ quân sự cho quân Sài Gòn trước khi ký Hiệp định Pa-ri. Lại là một sự trả lời bừa của kẻ xâm lược.

        Chúng ta lên án rất quyết liệt thái độ của phía Mỹ về hai vấn đề trên và vạch rõ Mỹ đã vi phạm Điều 5 là rút quân phải rút cả vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Không hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự là vi phạm Điều 6 của Hiệp định Pa-ri và Điều 9 của Nghị định thư là không tháo dỡ và chuyển ra khỏi miền Nam Việt Nam hoặc phá hủy những vũ khí, mìn... để không được dùng vào mục đích quân sự.

        -   Điều 5 còn quy định phải rút cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #491 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 01:54:18 am »

        Ta lên án Mỹ vi phạm nghiêm trọng điều này là để lại và đưa thêm vào trên một vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự.

        Đến đợt 4 là đợt cuối cùng thì Mỹ giở quẻ dây dưa việc rút quân.

        -   17 giò ngày 21 tháng 3 năm 1973 ta gửi công hàm cho Mỹ là ta sẽ trao trả tù binh Mỹ đợt 4 trước thời hạn với điều kiện Mỹ cũng rút hết quân.

        -   22 giờ cùng ngày 21 tháng 3 năm 1973, Trưởng đoàn Mỹ út-uốt trả lời thoả thuận hoàn toàn, trao trả và rút quân hoàn thành ngày 25 tháng 3 năm 1973.

        -   Sáng sớm ngày 22 tháng 3 năm 1973, Phó đoàn Mỹ Uých-khâm gửi bị vong lục đến hủy bỏ công hàm của út-uốt gửi cho ta lúc 22 giờ ngày 21 tháng 3 năm 1973 và nêu ra yêu sách là ta phải trả quân nhân Mỹ bị bắt ở Lào (!)

        Ta phản đối quyết liệt. Cuộc họp hôm sau Uých-khâm nói rằng chúng tôi đưa ra yêu sách "theo lệnh của chính phủ chúng tôi". Thế là rõ, đòi hỏi vô lý này là từ phía chính phủ Hoa Kỳ, từ tổng thống Hoa Kỳ.

        Ta lập tức tố cáo Mỹ phá hoại Hiệp định Pa-ri. Ta lên án Mỹ lật lọng về vấn đề trao trả và rút quân. Ta vạch rõ Mỹ đưa ra một đòi hỏi vô lý là phía ta phải trả những người do nước khác bắt và giam giữ.

        Ta đặt vấn đề là, có phải Mỹ kiếm cớ để một bộ phận quân Mỹ ở lại miền Nam Việt Nam không chịu rút đúng thời hạn hay không. Và đây là vấn đề Mỹ tiếp tục dính líu về quân sự ở miền Nam Việt Nam.

        Ta kêu gọi nhân dân Mỹ hãy đấu tranh buộc chính quyền Mỹ phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri và ta cũng nói rõ rằng gia đình những nhản viên quân sự Mỹ bị bắt và các quán nhân Mỹ chưa được về cứ điện thắng về Lầu Năm góc và Nhà trắng mà đòi hỏi. Trách nhiệm thuộc về hai nơi ấy.

        -   Ngày 24 tháng 3 năm 1973, ta gửi cho phía Mỹ công hàm kiên quyết yêu cầu phải rút quân đúng thời hạn 60 ngày theo đúng quy định của Hiệp định Pa-ri.

        -   2 giờ sáng ngày 25 tháng 3 năm 1973. Mỹ gửi công hàm cho ta và phải nhận rút quân.

        -   Ngày 26 tháng 3 năm 1973. ta triệu tập Đoàn Mỹ tới trụ sở của ta để nói rõ việc trao trả và rút quân. Ta nói rằng tù binh Mỹ ở Lào do Pa-thét Lào quyết định. Nó không phải là công việc của Liên hợp quân sự 4 bên ở đây. Vì thiện chí và do Mỹ chưa có quan hệ ngoại giao với Lào nên ta sê giúp Mỹ vấn đề này. Khi nào có tin sẽ báo cho Mỹ biết.

        Còn kế hoạch trao trả hết số tù binh Mỹ phải được thực hiện trong ba ngày 27, 28 và 29 tháng 3 năm 1973. Quân Mỹ phải rút hết trong ba ngày đó.

        Số nhân viên quân sự Hoa Kỳ trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 159 lính thủy đánh bộ canh gác đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn cũng phải rút hết trong thời hạn đó.

        Trưởng đoàn Mỹ út-uôt, Phó đoàn Mỹ Uých-khâm xin tiếp nhận và làm theo kế hoạch của ta.

        Ngày 29 tháng 3 năm 1973, đúng 16 giờ 30 phút giờ Hà Nội, những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam.

        Ngày 29 tháng 3 năm 1973 đánh dấu mốc lích sử từ 115 năm nay, tính từ năm 1858, trên đất nước thân yêu của chúng ta đã sạch bóng quân xâm lược.

        Ngày 29 tháng 3 năm 1973, tính từ tháng 7 năm 1954 khi cố vấn quân sự Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn để hỗ trợ cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đến khi tên ỉính Mỹ cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam, là 18 nảm 8 tháng.

        Quân Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam là yếu tố quan trọng nhất làm chuyến biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, để chúng ta tiến đến giành thắng lợi hoàn toàn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #492 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2013, 03:29:52 am »

        2.   Đấu tranh quyết liệt buộc đối phương phải thực hiện việc trao trả những nhân viên quân sự (tù binh) và nhân viên dân sự (tù chính tri) của các bên bi bắt

        Trao trả người của các bên bị bắt là vấn đề quan trọng đối với Mỹ và ta. Còn ngụy quyền Sài Gòn thì không thiết tha với người của họ bị ta bắt, trong khi họ giam giữ nhiều cán bộ, chiến sĩ và cơ sở cách mạng của ta. Chúng ta đã tính toán kỹ vấn đề này.

        -   Nắm vững điểm quan trọng của Hiệp định Pa-ri là "việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói tại Điều 5" (tức quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ).

        Chúng ta tiến hành trao trả tù binh Mỹ - ngụy đúng theo số lượng của từng đợt, đúng thòi gian, đúng địa điểm đã thoả thuận. Trong tất cả 4 đợt, ta đã trao trả tất cả số tù binh Mỹ - ngụy bị ta bắt, kể cả 1 tù binh Mỹ mà ta bắt sau này chưa có tên trong danh sách đã trao cho phía Mỹ ở Pa-ri cũng đã trao trả kịp thời.

        Tất cả tù binh Mỹ - ngụy mà ta trao trả đều khoẻ mạnh, những người bị thương đều được chữa chạy khá tốt. Họ hết sức cảm kích, bày tỏ lòng biết ơn với những người phụ trách giam giữ họ, biết ơn chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.

        Việc ta trao trả tù binh Mỹ - ngụy một cách chu đáo, chặt chẽ, đàng hoàng thế hiện chính sách nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Điều đó cũng chứng tỏ chúng ta chấp hành nghiêm túc những quy định của Hiệp định Pa-ri về vấn đề này.

        Việc làm tốt này có tác dụng thúc đẩy Mỹ phải rút quân theo đúng quy định của Hiệp định Pa-ri. Mỹ không có cớ gì xung quanh vấn đề nhạy cảm này để chần chừ, dây dưa việc rút quân.

        Nó là một sức mạnh biến thành một sức ép buộc ngụy quyền Sài Gòn cũng phải trả người đúng tỷ lệ theo các đợt, phải trả phần lớn tù binh của ta và hạn chế bớt những hành vi phá hoại, gây cản trở trong vấn đề trao trả.

        Chúng ta trao trả hết tù binh Mỹ bị bắt và qua trao trả thể hiện tính nhân đạo của ta với tù binh Mỹ, dù chúng đã gây rất nhiều tội ác với nhân dân ta. Cái đó là một minh chứng làm cho nhân dân Mỹ, chính quyền Mỹ và những người có thiện chí hiểu rõ sự thật. Nó cũng có tác dụng đập tan những luận điệu của các thế lực hiếu chiến ở Mỹ, thường rêu rao về khả năng còn tù binh Mỹ ở Việt Nam hòng gây kích động về vấn đề nhạy cảm này.

        -   Cuộc đấu tranh buộc ngụy quyền Sài Gòn phải trả tù binh và tù chính trị cho ta là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, phức tạp.

        Phía Sài Gòn trả cho ta 26.492 tù binh nhưng chúng còn giữ lại 242 người (đã trao danh sách tại Pa-ri) với lý do là họ xin hồi chánh (!). Trong số trao trả, ta phát hiện có 71 quân phạm của ngụy. So với danh sách trao tại Pa-ri hôm 27 tháng 1 năm 1973, có 2.478 người không đúng tên và hàng trăm dân thường bị bắt trong các cuộc càn quét của chúng.

        Có thế nói là không có đợt trao trả, không có chuyến trao trả nào mà bọn ngụv Sài Gòn không phá đám.

        Ngay từ khi bắt đầu đợt trao trả thứ nhất, bọn ngụy thông báo rằng trên 900 tù binh của ta không chịu về với cách mạng và yêu cầu được gặp phái đoản ta. Hai Trưởng đoàn ta cử ngay một số sĩ quan đến xem xét và giải quyết. Qua nắm tình hình trực tiếp, ta thấy rõ chính là do ngụy Sài Gòn không phổ biến Nghị định thư về trao trả cho anh em ta. Nghi ngờ bọn ngụy đưa anh em đi thủ tiêu nên anh em đòi được gặp phái đoàn ta. Gặp được đại diện của phái đoàn ta, được nghe phổ biến nội dung Nghị định thư, tất cả anh em phấn khởi được trở về với cách mạng để tiếp tục chiến đấu.

        Đợt 2 trao trả, gặp một trở ngại lớn là Trưởng đoàn ngụy Dư Quốc Đống đưa ra con số trao trả cho ta từ 7.000 người trong đợt 1, tụt xuống còn 3.000 người trong đợt 2. Dư Quốc Đông nói rằng "đây là lệnh của chính phủ chúng tôi, ngừng bắn chưa thực hiện hoàn toàn, thả nhiều quá để các vị lại tổ chức hàng trung đoàn tấn công chúng tôi sao". Trưởng đoàn ta không tranh cãi với Dư Quôc Đống, chỉ nói cho Trưởng đoàn Mỹ út-uôt có ý kiến. Ta chỉ tuyên bố là "nếu phía Việt Nam cộng hòa phá hoại như thế này thì toàn bộ công việc trao trả sẽ bị đình trệ, trao trả quân nhân Mỹ bị bắt cũng bị ảnh hưởng".

        Mấy ngày sau, phía Sài Gòn phải ngoan ngoãn theo lệnh Mỹ trao trả đợt 2 cho ta là 6.300 nhân viên quân sự.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #493 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2013, 12:12:19 am »

        -   Riêng vấn đề tù chính trị là đấu tranh quyết liệt nhất. Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố không trao trả tù chính trị, thả tù chính trị là thả hổ về rừng. Tại Hội nghị Pa-ri, Kít-xinh-giơ cũng nói là thả họ về, họ lại đánh chúng tôi à. Khi ta đòi gắt gao phải trao trả tù chính trị thì Kít-xinh-giơ lại tính đổi lấy việc ghi vấn đề quân miền Bắc vào văn bản Hiệp định: "Sài Gòn sẽ thả một số đáng kể thường dân bị giam giữ đồng thời với việc triển khai lại một số đáng kể quân đội ở phía bắc Nam Việt Nam".

        Rõ ràng là cả Mỹ và ngụy đều rất sợ phải trao trả những cán bộ hoạt động cách mạng của chúng ta.

        Ta tính toán, bàn bạc rất kỹ về cuộc đấu tranh đòi Mỹ - ngụy trả tù chính trị của ta. Ngụy quyền Sài Gòn cố tình dây dưa và bày ra đủ trò để tranh cãi vô bổ như bàn lại thể thức trao trả, địa điểm trao trả... Tạ thông báo số nhân viên dân sự của chúng mà ta giam giữ là 637 người, và ngụy phải trao trả cho ta tất cả nhân viên dân sự mà ngụy quyền Sài Gòn đang giam giữ.

        Ngụy đòi ta một con sô rất lớn mà chúng cố tình bày đặt ra là ta phải trả cho chúng 67.000 người, không trả số đó thì chúng không trao trả người của ta.

        Chúng ta lên án rất mạnh mẽ những hành động vô nhân đạo của kẻ thù đối với tù chính trị của ta. Dư luận rộng rãi trên thế giới cũng lên án chế độ giam giữ tù chính trị của chính quyền Sài Gòn. Mục sư Tin lành hgưòi I-ta-li-a Tu-lô Vi-nai (Tullo Vinay) đã tuyên bố là chế độ Sài Gòn còn giam giữ 200.000 tù chính trị. Hội Ân xá quốc tế đưa con số tù chính trị mà Việt Nam cộng hoà còn giam giữ là 100.000 người. Ngay tờ báo Đối diện của Sài Gòn cũng nêu 200.000 tù chính trị đang trong các trại giam của Việt Nam cộng hoà.

        Nhưng, dù chúng ta đã cố gắng rất lớn và đấu tranh quyết liệt nhưng kết quả trao trả tù chính trị vẫn rất ít, ta chỉ đòi được 5.075 người. Ta đã làm tất cả những gì có thể làm được để giành giật với địch từng người trong từng chuyến trao trả và tố cáo với Uỷ ban Quốc tế, với dư luận về sự phản trắc của chính quyền Sài Gòn và tội ác của chúng với tù chính trị của ta.

        Kết quả của cuộc đấu tranh kiên trì, quyết liệt về vấn đề trao trả như sau:

        Ta trả:
                  -  Mỹ: 554 nhân viên quân sự và dân sự.
                  -  Ngụy: 5.426 nhân viên quân sự và 637 nhân viên dân sự.

        Ta nhận:
                 -  26.492 nhân viên quân sự.
                 -  5.075 nhân viên dân sự.

        2.   Vấn đề chấm dứt chiến sự - ngừng bắn

        Hiệp định Pa-ri về Việt Nam có tên gọi là "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam".
Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định nên thực tế là chiến tranh không được chấm dứt, hoà bình không được lập lại. Vấn đề ngừng bắn là điều đầu tiên và nêu ra rất cụ thể nhưng Mỹ - ngụy không thực hiện. Hiểu rõ ý đồ sâu xa của kẻ thù nên ta chủ động đối phó có hiệu quả.

        Ký Hiệp định Pa-ri, Mỹ chấp nhận một bước lùi về chiến lược, nhưng vẫn tiếp tục "Việt Nam hoá chiến tranh", dùng chính quyền và quân đội Sài Gòn làm công cụ, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài nước ta.

        Mỹ - ngụy chỉ thi hành điều khoản nào có lợi cho Mỹ và theo yêu cầu của Mỹ. Ngoài ra, họ đã vi phạm trắng trợn, có hệ thống Hiệp định Pa-ri, tiếp tục tiến hành chiến tranh.

        Tiếng súng không hề được chấm dứt ngay từ khi Hiệp định Pa-ri được ký kết chưa ráo mực. Kẻ thù đã chuẩn bị từ trước để tiếp tục chiến tranh.

        Phía ta chủ trương đấu tranh bằng phương pháp hoà bình và coi đó là một bước quá độ tiến lên hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam. Chính vì vậy mà ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri và đòi đốỉ phương cũng phải làm như vậy.

        Nhưng từ kinh nghiệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, lần này ta coi đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri thực chất là một bộ phận của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta nhằm đánh bại cuộc chiến tranh "Việt Nam hoá", đánh đổ chính quyền tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thông nhất đất nước. Ta đã đánh giá đúng và thực tế Mỹ - ngụy đã phá bỏ Hiệp định Pa-ri, tiếp tục chiến tranh.

        Làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự trực diện với kẻ thù ngay giữa sào huyệt của chúng, hai Đoàn ta phải đấu tranh thực hiện cho kỳ được việc quân Mỹ rút hoản toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, việc trao trả người bị bắt của các bên. Một vấn đề quan trọng mà hai Đoàn ta phải rất tập trung và tỉnh táo theo dõi chặt chẽ là những hành động tiếp tục chiến tranh của kẻ thù. Từ đó mà ta đã kịp thòi phát hiện, tố cáo, lên án và vạch trần những mưu đồ đen tối của chúng
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #494 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2013, 03:57:39 am »

        Tại cơ quan Liên hợp quân sự Trung ương, diễn đàn cấp Trưởng đoàn được dư luận hết sức quan tâm theo dõi.
Hai Đoàn ta đã đấu tranh một cách mạnh mẽ về việc kẻ thù vi phạm ngừng bắn ngay từ ngày đầu tiên Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

        Vụ Cửa Việt mà ngụy Sài Gòn tố cáo và gửi công hàm đến Uỷ ban Quốc tế vu cáo ta vi phạm ngừng bắn đã bị Đoàn ta vạch mặt. Ta nói rõ là quân Sài Gòn dùng toàn bộ pháo từ hạm đội bắn vào trận địa quân ta ở Cửa Việt mà chúng ta đã giải phóng từ tháng 5 năm 1972. Chúng sử dụng 200 xe tăng, xe bọc thép và lữ đoàn 147 tiến đánh Cửa Việt. Ngay sau đó quân ta giáng một đòn trừng trị đích đáng. Chúng tháo chạy bỏ lại nhiều xác chết và trên 100 xe tăng, xe bọc thép.

        Bốn ngày sau, Uỷ ban Quốc tế điều tra và kết luận là quân ngụy Sài Gòn vi phạm ngừng bắn, chúng hết đường chối cãi.
      
        Tiếp theo, ta tố cáo nhiều vụ quân ngụy Sài Gòn lấn chiếm với lực lượng cấp trung đoàn, sư đoàn vào Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Bắc Kon Tum, Cai Lậy, Tây Ninh, Chương Thiện, Tân Châu (Hồng Ngự),...

        Ta tố cáo rất cụ thể, rõ ràng về thời gian, địa điểm, lực lượng sử dụng lấn chiếm. Trưởng đoàn ngụy rất lúng túng, trả lời một cách công thức: "Lấy làm tiếc, đã nhận bản phản kháng của quý vị, sẽ đệ trình lên chính phủ chúng tôi".

        Còn Trưởng đoàn Mỹ út-uốt tảng lờ mãi không được, phải làm ra vẻ khách quan giấu mặt đồng loã: "Nhiều vi phạm quá rồi, chúng ta phải hợp tác để chấm dứt các vụ vị phạm! Phải tiến hành những cuộc điều tra có kết quả, có hiệu lực" (!)

        Khi bị dồn vào thế bí, Trưởng đoàn ngụy Dư Quốc Đống nói toạc chân tướng: "Tôi không tán thành Hiệp định Pa-ri vì nó có lợi cho các ngài". Trưởng đoàn Trần Vàn Trà nghiêm khắc phê phán: "Thế là đã rõ, trung tướng Dư Quốc Đống - người đại diện của phía Việt Nam cộng hoà để thi hành Hiệp định Pa-ri mà không tán thành, chống lại Hiệp định thì các ngài vi phạm, phá bỏ Hiệp định là tất nhiên, là rõ ràng...". Dư Quốc Đống hốt hoảng vội lúng túng bào chữa "cá nhân tôi không tán thành... nhưng... vì... đã có Hiệp định thì chúng tôi phải thi hành, không có phá...".

        Không dừng lại ở đó, chúng ta còn tố cáo là Mỹ - ngụy đã chuẩn bị sẵn kế hoạch phá Hiệp định Pa-ri từ khi sắp được các bên ký kết. Cuối năm 1972, ngụy đã có kế hoạch "Hùng vương 2 và 18" triển khai mọi hoạt động quân sự, chính trị cả trước và sau khi ký Hiệp định Pa-ri để giành lợi thế trên chiến trường ngay từ đầu. Rồi kế hoạch "Lý Thường Kiệt" năm 1973 đề ra 5 biện pháp chiến lược lấy lấn chiếm, bình định làm biện pháp trung tâm và phá những điểm nào mà Hiệp định Pa-ri không có lợi cho phía ngụy.

        Ta tố cáo cái chiến dịch "Tràn ngập lãnh thổ", chiến dịch cắm cờ, chuẩn bị 1,6 triệu lá cờ ba que và dùng bộ binh, trực thăng để cắm cờ.

        Đối với vấn đề vi phạm ngừng bắn, chúng ta đã tiến công liên tục, tiến công quyết liệt. Thời gian thi hành Hiệp định Pa-ri đã được 1 tháng, ngày 26 tháng 2 năm 1973, trong cuộc họp các Trưởng đoàn, hai Trưởng đoàn ta đọc bản tổng hợp tình hình, vạch trần có hệ thông âm mưu và hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri của Mỹ - ngụy.

        Trưởng đoàn Mỹ út-uốt không chịu nổi, bộc lộ bản chất kẻ xâm lược, kẻ vi phạm Hiệp định Pa-ri. Hắn lắc đầu, cười láo xược, phát biểu là đã ngán những diễn văn dài như vậy, chỉ uống công vô ích (!), rồi bĩu môi, nhún vai.

        Trung tướng Trần Văn Trà đập lại ngay, đại thể: "Vừa đúng một tháng thi hành Hiệp định, cần làm rõ tình hình, cần truy ra trách nhiệm. Phản ứng vừa rồi của Trưởng đoàn Hoa Kỳ là phản ứng của kẻ bị cáo. Chúng tôi cần làm cho dư luận hiểu đúng tình hình, hiểu rõ nguyên nhân. Sự phản ứng thiếu lịch sự vừa rồi thật không xứng đáng với chức vụ Trưởng đoàn đại biểu quân sự của một chính phủ, thật đáng hổ thẹn", út-uôt đỏ mặt, im thin thít.

        Thiếu tướng Lê Quang Hoà nói tiếp: "Đây là chúng tôi nói lên sự thật. Chúng tôi vạch trần một cách có hệ thống những âm mưu và hành động thiếu thiện chí của phía các vị. Tại sao các vị lại phản ứng không bình thường như thế? Chỉ có thể tìm thấy nguyên nhân ở chỗ những lời lên án của chúng tôi đã chỉ đúng những kẻ chịu trách nhiệm về tình hình rất nghiêm trọng hiện nay, về tình hình gần như là bế tắc trong công việc của Ban Liên hợp quân sự...".

        Dư Quốc Đống càng lúng túng đề nghị chúng ta không nói chuyện chính trị ở đây. Thật là một bài học đích đáng cho họ.

        Đấu tranh tố cáo, lên án kẻ thù vi phạm ngừng bắn là cuộc đấu tranh liên tục, quyết liệt, căng thắng sụôt cả quá trình từ thời kỳ Ban Liên hợp quân sự 4 bên sang thời kỳ Ban Liên hợp quân sự 2 bên. Khi kẻ thù đã vi phạm ngừng bắn trên cả 4 vùng chiến thuật, chiến tranh đã trở lại trên toàn miền Nam Việt Nam, Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam công bố lệnh kiên quyết đánh trả vi phạm tại nơi lấn chiếm. Sau đó quyết định thêm là Quân giải phóng không chỉ đánh trả tại chỗ vi phạm lấn chiếm mà giữ quyền trừng trị tại nơi xuất phát vi phạm.

« Sửa lần cuối: 08 Tháng Chín, 2013, 03:10:11 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #495 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2013, 03:05:37 am »


        3.    Tại diễn đàn Uỷ ban Quốc tế

        Nhiệm vụ của Uỷ ban Quốc tế là kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản được quy định trong Hiệp định Pa-ri. Đó là sự bảo đảm quốc tế về giá trị pháp lý của Hiệp định, sự công nhận quốc tế đối với các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Nắm vững những nguyên tắc trong hoạt động của Uỷ ban Quốc tế mà các bên đã thoả thuận tại Hội nghị Pa-ri, ta tăng cường đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với hai Đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri là điểm quan trọng để củng cố thế cân bàng vững chắc trong Uỷ ban Quốc tế. Vừa đấu tranh với những hành động xấu của các thành viên đối lập trong Uỷ ban, vừa có thái độ hợp tác tranh thủ từng thành viên cụ thể để họ đảm bảo làm việc đúng với tinh thần và lời văn của Hiệp định Pa-ri.

        Uỷ ban Quốc tế đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát Mỹ và chư hầu rút hết quân và một số đợt trao trả tù binh, tù dân sự của ta bị phía ngụy quyền Sài Gòn giam giữ.

        Ta sử dụng diễn đàn nàv nhằm tố cáo Mỹ - ngụy vi phạm Hiệp định Pa-ri, trọng tâm là vi phạm ngừng bắn. Ta gửi đến Uỷ ban Quốc tế 924 công hàm, tố cáo 18.971 vụ vi phạm ngừng bắn trên cả 4 vùng chiến thuật. Ta đòi Uỷ ban Quốc tế phải điều tra các vụ vi phạm, đặc biệt là những vụ vi phạm nghiêm trọng.

        Trong tổng số 390 cuộc điều tra mà Uỷ ban Quốc tế đã tiến hành. Uỷ ban kết luận được 5 vụ mà phía Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Pa-ri. Đó là:

        -   Vụ lấn chiếm Cửa Việt ngày 28 tháng 1 năm 1973.
        -   Vụ hành hung Đoàn ta tại Huế ngày 10 tháng 2 năm 1973.
        -   Vụ ném bom vào cửa khẩu Đức Cơ ngày 19 tháng 2 năm 1973.
        -   Vụ bắn pháo vào trụ sở Uỷ ban Quốc tế tại Bảo Lộc ngày 2 tháng 4 năm 1973.
        -   Vụ bán phá vào Núi Giai ở Tri Tôn ngày 3 tháng 4 năm 1973.

        Trong khi đó, Uỷ ban Quốc tế đã không có bất cứ một kết luận vi phạm nào đối với phía ta, kể cả những vụ mà ngụy quyền Sài Gòn vu cáo ta hết sức rùm beng.

        4.   Hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận hỗ trợ chiến trường

        Giữa trung tâm hang ổ của kẻ thù, hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã đưa hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận thành một mũi nhọn quan trọng. Sài Gòn lúc bấy giò là tiêu điểm nóng bỏng nhất của thế giới. Nó là nơi Mỹ buộc phái rút hoàn toàn quân đội khỏi miền Nam Việt Nam trong 60 ngày kể từ ngày ký Hiệp định Pa-ri. Nó cũng là nơi một lực lượng của quân đội cách mạng có mặt công khai giữa trung tâm đầu não của địch để đấu tranh buộc Mỹ - ngụy phải thi hành Hiệp định Pa-ri. Nó còn là nơi tập trung đại diện của 77 hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, báo chí nước ngoài mà chủ yếu là của các nước phương Tây, trong đó có 21 hãng của Mỹ.

        Hai Đoàn ta xác định đây là mặt trận đấu tranh có tác dụng quan trọng, góp phần vào mặt trận đấu tranh dư luận rộng lớn mà Đảng và Nhà nước ta triển khai trong nước và trên thế giới. Tiếng nói chính nghĩa, rất thực tế, cụ thể và chính xác được phát lên từ trung tâm lò lửa Sài Gòn có một tầm quan trọng đặc biệt.

        Yêu cầu của ta đối với mặt trận đấu tranh dư luận là phải làm cho nhân dân trong nước và bạn bè trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, hiểu rõ ràng về tình hình thi hành Hiệp định Pa-ri của các bên. Tập trung vào thông tin về việc quân Mỹ và quân chư hầu rút như thế nào, về việc trao trả người bị bắt của các bên và về việc chấm dứt chiến sự, ngừng bắn được thực hiện ra sao?

        Ta hiểu rằng, đấu tranh bằng công hàm, đấu tranh qua báo chí dư luận không thể buộc đổi phương chấm dứt hoặc giảm các hành vi vi phạm. Nhưng mặt trận đấu tranh này rất quan trọng ở chỗ nó làm nổi bật trước dư luận thế giới sự khác nhau về lập trường, thái độ của các bên đối với Hiệp định Pa-ri. Nó thể hiện rõ ai là người thi hành nghiêm chỉnh, ai là kẻ phá hoại Hiệp định Pa-ri.

        Ở Trại Đa-vít hình thành một ban thông tấn báo chí mạnh, gồm những cán bộ có năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng được chọn lựa từ các cơ quan thông tấn báo chí hai miền Nam - Bắc để thực hiện nhiệm vụ trên trận địa quan trọng nảy.

        Quá trình đấu tranh được chuẩn bị chu đáo. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt thường chủ trì các cuộc họp báo. Buổi họp báo đầu tiên giữa Sài Gòn do Trưởng đoàn Trần Văn Trà chủ trì. Có gần 100 nhà báo đến dự và đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên của đại diện cách mạng với giới báo chí ngay tại Sài Gòn. Sau đó, đồng chí Hoàng Anh Tuấn, Võ Đông Giang chủ trì những cuộc họp báo tiếp theo.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Chín, 2013, 03:20:28 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #496 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2013, 01:32:18 am »

        Trong hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận, chúng ta tập trung nói rõ những hành động vi phạm Hiệp định Pa-ri của Mỹ - ngụy, vạch trần và lên án những mưu đồ đen tối, xấu xa của chúng. Chúng ta làm cho dư luận thế giới hiểu rõ chính Mỹ là kẻ tiếp tục dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, vi phạm Điều 4[1] của Hiệp định Pa-ri. Chính Mỹ là kẻ chủ mưu thúc đẩy và tiếp tay cho ngụy Sài Gòn phá Hiệp định Pa-ri.

        Đồng thời, điều quan trọng làm cho thế giới hiểu rõ về sự thực tâm và hành động nghiêm chỉnh của ta thi hành Hiệp định Pa-ri để đem lại hoà bình cho nhân dân ta sau bao nhiêu năm chiến tranh. Chúng ta nói rõ và chứng minh một cách thuyết phục về cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Chúng ta khẳng định rằng, chính Mỹ - ngụy rắp tâm phá bỏ Hiệp định Pa-ri. tiếp tục đưa chiến tranh trở lại trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam. nơi buộc lòng chúng ta phái đánh trả.

        Đó là quyền tự vệ thiêng liêng, chính đáng của chúng ta.

        Bằng cách trình bày những nội dung cơ bản trên, trong mỗi cuộc họp báo hoặc gặp riêng với các phóng viên ở Sài Gòn, chúng ta đều đi sâu vào từng vấn đề một cách rõ ràng, làm cho sức thuyết phục với giới báo chí ngày càng tăng thêm.

Đối với giới háo chí Sài Gòn, phần lớn họ có cách nhìn và quan điểm khác ta trên nhiều vấn đề. Có người thật sự ghét Cộng sản. nhiều người chưa biết gì, chưa hiểu rõ về ta. Nhưng cũng có một số bày tỏ cảm tình với ta, nên khi tiếp xúc ban đầu họ nêu những câu hỏi chân thành mà họ muốn biết.

        Với thái độ thật sự tôn trọng dư luận và tôn trọng giới báo chí, ta trả lòi họ một cách rõ ràng, chính xác, cụ thể và có sức thuyết phục. Dần dần họ hiểu ta hơn. có thiện cảm với ta hơn và có những vấn đề tỏ ra đồng tình với ta.
Có thể nói rằng, giới báo chí Sài Gòn theo dõi khá sát mọi động thái của hai Đoàn ta. của Uỷ ban Quốc tế, của phía Hoa Kỳ, của chính quvền Sài Gòn đối với việc thi hành Hiệp định Pa-ri. Họ đưa tin khá nhanh nhạy và bình luận khá sôi nổi.

        Lúc đầu giới báo chí Sài Gòn đưa tin có lợi cho ta không nhiều. Có những tin họ nói cả hai bên đều vi phạm Hiệp định Pa-ri. Càng về sau tỷ lệ đưa tin và bình luận có lợi cho ta càng nhiều hơn.

        Có những phóng viên cung cấp cho ta những tin về số tù chính trị còn bị ngụy quyền Sài Gòn giam giữ, chia sẻ với chúng ta suy nghĩ của họ nhân kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ, ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng, v.v...

        Trên trận tuyến hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận, hai Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên đã góp phần có hiệu quả vào việc làm cho thế giới hiểu rõ chúng ta hơn về những vấn đề thi hành Hiệp định Pa-ri. Tranh thủ được sự đồng tình của dư luận trên thế giới đối với cuộc đấu tranh của chúng ta hoặc ít nhất là sự chấp nhận của dư luận thế giới với con đường chúng ta đi. Nó là một thắng lợi rất quan trọng trong cuộc đấu tranh pháp lý, chính trị, ngoại giao sau Hiệp định Pa-ri để bảo vệ những hành động quân sự chính nghĩa của ta đi đến đích cuối cùng.

---------------------
[1]  Điều 4: Hoa Ký sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. (Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Pa-rỉ về Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Nxb Chính trị quốc gia. tr. 483)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #497 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2013, 04:54:29 am »


        5.     Trại Đa-vít - Một trận địa cách mạng kiên cường giữa sào huyệt địch

        Mỹ - ngụy có một kế hoạch tổng hợp, hoàn chỉnh để phá hoại Hiệp định Pa-ri, trong đó chúng coi việc đánh phá trực tiếp vào hai Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên là đặc biệt quan trọng.

        Kẻ thù bố trí hai Đoàn đại biểu quân sự ta vào Trại Đa-vít là để cô lập ta, giam lỏng ta, gây cản trở và làm tê liệt mọi hoạt động Liên hợp quân sự cua ta. Cao hơn nữa, để hai Đoàn ta vào đấy thì lúc nào chúng cũng có thể khống chế, ngăn chặn và cùng có thể sẵn sàng bắt làm con tin hoặc hủy diệt hai phái đoàn quân sự này.

        Chúng dùng mọi thủ đoạn như Thủ tưởng Phạm Văn Đồng đã nói hôm gặp lãnh đạo Đoàn A là: "Họ sẽ không từ một thủ đoạn bẩn thỉu nào để phá hoại và cản trở công việc thi hành Hiệp định. Họ có thể giở những thủ đoạn hèn hạ vô cùng mà chúng ta không thế tương tượng nổi nữa kia...".

        Nhưng tất cả những mưu đồ xấu xa. thủ đoạn bẩn thỉu của chúng đã bị ta đánh bại.

        Chúng ta hiên ngang biến Trại Đa-vít thành trung tâm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch.

        Chúng ta phát huy ưu thế tuyệt đối về chính trị là chính nghĩa dân tộc, tư tưởng cách mạng tiến công. Chúng ta nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, nắm vững pháp lý của Hiệp định Pa-ri để đấu tranh với kẻ thù buộc chúng phải thi hành Hiệp định.

        Vừa đấu tranh kiên quyết, liên tục và không khoan nhượng với kẻ thù, chúng ta vừa rất tỉnh táo và khôn khéo phát hiện những ý đồ đen tồi, mánh lới xáo trá của kẻ thù để kịp thời vạch trần, lên án chúng trước dư luận rộng rãi.

        Ở tại vị trí trung tâm đầu não của địch, dù kẻ thù tìm mọi cách ngăn cản. chúng ta vẫn tiếp xúc với nhiều loại người, qua các kênh có thể nắm tình hình và đặc biệt là qua kênh trực diện đấu tranh với kẻ địch. Chúng ta đã có những phân tích, đánh giá tình hình chiến trường và báo cáo với cấp trên, góp phần thêm vào việc đánh giá những âm mưu, ý đồ của Mỹ - ngụy.

        Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ ta là những chiến binh vững vàng, bản lĩnh chính trị được tôi luyện, có ý chí chiến đấu và tính cảnh giác cách mạng cao. Nhờ đó, chúng ta đã triển khai một thế trận tiến công chủ động, sắc bén và phòng ngừa chặt chẽ, đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù.

        Các loại âm mưu thủ đoạn của địch đã gây nên những khó khăn và cản trở nhất định cho hoạt động của ta, nhưng không thể làm nao núng và càng không thể tác động đến tâm lý của cán bộ, chiến sĩ ta.

        Những thủ đoạn xảo quyệt của địch được chuẩn bị công phu nhằm đánh sâu vào nội bộ ta cũng đều bị vô hiệu hoá hoàn toàn.

        Những ngày cuối cùng của chiến tranh, các chiến binh trong Trại Đa-vít càng biểu hiện rõ phẩm chất và hành động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Hai Đoàn ta ỏ một vị trí bốn bề bị vây hãm, lại là thời điểm kẻ thù đang trong cơn giãv chết thì chắc chắn là chúng không từ một thủ đoạn tàn ác nào để tiêu diệt chúng ta.

        Cấp trên rất quan tâm đến vấn đề an toàn của 300 cán bộ, chiến sĩ ở Trại Đa-vít. Các đồng chí đã điện nhắc nhở phải giữ vững bản chất Bộ đội Cụ Hồ, phải để phòng hành động tàn bạo của kẻ thù. Bộ chỉ huy Miền và Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh thông báo là khi quân ta tiến công vào Sài Gòn sẽ có một cánh bộ đội đặc công vào để đưa đại bộ phận của hai Đoàn ta ra nơi an toàn.

        Hai Đoàn ta là những người ở tại chỗ. đã đánh giá phân tích tình hình và đề đạt nguyện vọng lên cấp trên cho ở lại bám trụ, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tại chỗ.

        Được cấp trên đồng ý, 300 cán bộ. chiến sĩ ta đã bắt tay vào việc tổ chức chiến đấu. Rất khấn trương, toàn bộ Trại Đa-vít trở thành một công trường ngầm lặng lẽ. bí mật triển khai xây dựng toàn bộ hệ thống hầm hào, quyết tâm bám trụ chiến đấu đến cùng.

        Chỉ trong vòng 10 ngày và trong điều kiện phải dùng cọc màn, chân giường và tất cả những gì có thể dùng được để xây dựng trận địa chiến đấu. Công tác tư tưởng lúc này là thuận lợi nhất, một không khí đoàn kết thông nhất, kỷ luật rất tốt và tinh thần chiến đấu cao.

        Thấy máy bay địch dồn về Tân Sơn Nhất rất nhiều, hai Đoàn ta đề nghị với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh cứ bắn pháo mãnh liệt tiêu diệt máy bay địch. Đừng thấy máy bay địch ở gần phái đoàn ta mà không bắn thì lỡ cơ hội. Chúng tôi sẵn sàng nhận sự hy sinh để chiến dịch toàn thắng, cách mạng toàn thắng.

        Thật là một đội quân anh hùng, luôn nghĩ đến chiến thắng của cách mạng, bản thân hoặc đơn vị mình gặp hiếm nguy củng lấy làm vinh dự. không hề tính toán.

        Trong quá trình thi hành nhiệm vụ ngoại giao quân sự, lực lượng Liên hợp quân sự của ta đã có 9 đồng chí hy sinh, 25 đồng chí bị thương.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #498 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2013, 01:33:51 am »


        III. KẾT LUẬN

        1.   Hơn 2 năm 3 tháng kể từ 28 tháng 1 năm 1973, ngày bộ phận đầu tiên vào sân bay Tân Sơn Nhất, đến 30 tháng 4 năm 1975. ngày giành thắng lợi hoàn toàn, hai Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hỏa miền Nam Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        -   Điểm nổi bật nhất là cùng với cuộc đấu tranh của toàn dân và toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, hai Đoàn đại biểu quân sự ta tại trận địa đấu tranh trực diện với kẻ thù đã bằng mọi cách quyêt liệt, liên tục tiến công địch, luôn tỉnh táo. khôn khéo, sáng tạo buộc đối phương phải rút hoàn toàn quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam đúng 60 ngày sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết.

        -   Công tác trao trả người của các bên bị bắt cũng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp. Việc ta trao trả tù binh Mỹ một cách chặt chẽ, đàng hoàng có tác dụng rất lớn thúc đẩy quân Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Nó còn có tác dụng lớn đối với nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới, làm cho họ hiểu rõ chính sách nhân đạo của Việt Nam với tù binh Mỹ. Đồng thòi, nó còn là một sức ép buộc ngụy quyền Sài Gòn phải trao trá phần lớn nhân viên quân sự của ta bị họ giam giữ.

        -   Ở tại nơi nóng bỏng nhất của chiên tranh, hai Đoàn đại biếu quân sự ta tập trung vào việc đấu tranh mạnh mẽ, kịp thòi tố cáo. lên án và vạch trần những mưu đồ đen tối của Mỹ - ngụy là không chấm dứt chiến tranh mà là tiếp tục "Việt Nam hoá chiến tranh". Mỹ vẫn tiếp tục dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Ta vạch rõ Mỹ - ngụy ngày càng đẩy mạnh chiến tranh một cách toàn diện, có hệ thống và đã đưa chiến tranh trở lại trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

        Đồng thời, chúng ta nêu cao chính nghĩa, chúng ta mong muốn hoà bình, nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri. Ta làm cho dư luận rộng rãi đồng tình và ủng hộ, hoặc ít nhất là chấp nhận con đường chúng ta đi. Kẻ thù rắp tâm phá bỏ Hiệp định nên buộc ta phải dùng bạo lực vũ trang cách mạng đê đạt mục tiêu đã được ghi tại Điều 1, Chương I: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thố của nước Việt Nam...".

        2.   Hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã khẳng định trận tuyến đấu tranh ngoại giao quân sự thời kỳ sau Hiệp định Pa-ri là sự sáng tạo và độc đáo của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. cứu nước thần thánh của dân tộc ta.

        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng như các nước trên thế giới, chưa từng có trường hợp nào mà một bên đối địch lại hợp pháp cắm được một bộ phận lực lượng của mình công khai hiên ngang đứng tại trung tâm đầu não cua đối phương, được thế giới công nhận và trước đại diện dư luận cộng đồng quốc tế tập trung tại đây.

        Bộ phận lực lượng ấy dõng dạc phân tích sâu sắc các ý đồ và hành động của mỗi bên, lên án những việc làm xằng bậy của đối phương, lý giải và chứng minh một cách thuyết phục cho những bước đi bắt buộc của mình để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đạo lý và cuối cùng ca khúc khải hoàn với đại quân ngày chiến thắng.

        Tạo được điều kỳ diệu độc đáo này là do đường lối đúng đắn, phương cách sáng tạo của Đảng ta, sự chỉ đạo sâu sắc của các cấp trên trực tiếp.

        Thành công đó còn có phần đóng góp từ bản lĩnh và sự nỗ lực vượt bậc, không ngại hy sinh, gian khổ, một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ thành viên của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

BAN LIÊN LẠC CỰU CHIẾN BINH BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ - TRẠI ĐA-VÍT        
                                        TRƯỞNG BAN                                                  
                        Đại tá Nguyễn Văn Khả (Vũ Nam Bình)                          
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #499 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2013, 01:51:44 am »



"CÁC ĐỔNG CHÍ ĐÃ SỐNG, CHIẾN ĐẤU VÀ CỐNG HIẾN HẾT MÌNH CHO NGÀY TOÀN THẮNG CỦA DÂN TỘC TA..."

NGUYỄN DY NIÊN        
     Trích phát biểu cúa Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên tại Lễ trao tặng "Kỷ niệm chương" về thành tích đóng góp vào việc thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam theo phương châm "Dì bất biến, ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh...

        "Nếu như Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn và phức tạp, thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri cũng là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức gay go và quyết liệt...

        Trong suốt thòi gian làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của địch, với lòng quả cảm các đồng chí đã giương cao ngọn cờ quang vinh của Tổ quốc Việt Nam, ngọn cờ bách chiến bách thắng của lực lượng vũ trang cách mạng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm mưu trí, chủ động tiến công địch, đồng thòi thê hiện sự khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo

        Dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh cách mạng, dựa vào pháp lý của Hiệp định Pa-ri. được thắng lợi giòn giã của quân dân ta trên chiến trường cổ vũ, những chiến sĩ trên mặt trận ngoại giao quân sự mà tiêu biểu là các chiến binh tại Trại Đa-vít trong suốt 823 ngày đêm đã đấu tranh hết sức sắc sảo trước kẻ thù. Đồng thời, các đồng chí đã hợp tác và tranh thủ Uỷ ban Quốc tế, mà đặc biệt là các đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan...

        Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao phó.

        Đã góp phần tích cực đấu tranh thúc đẩy quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29 tháng 3 năm 1973.

        Đã đấu tranh góp phần buộc địch phải trao trả phần lớn những cán bộ, chiến sĩ của ta bị địch bắt và một số nhân viên dân sự - những cán bộ chính trị, cơ sở cách mạng của ta.

        Đã đấu tranh một cách mạnh mẽ, kịp thời, với tư thê của đội quân chiến thắng có mặt tại sào huyệt của địch, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn và mọi hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri một cách có hệ thống của Mỹ - ngụy trước dư luận trong nước và trên thế giới...

        Đảng và Nhà nước ta mãi mãi ghi công những người con ưu tú của Tổ quốc những đồng chí công tác tại hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên.

        Các đồng chí đã sống, chiến đấu và cống hiến hết mình cho ngày toàn thắng của dân tộc, xứng đáng được mọi thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ và biết ơn.

        Các đồng chí là tấm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng quả cảm và tính kiên định về đấu tranh cách mạng và là sự kết hợp rất đẹp giữa Nhân - Trí - Dũng...".

« Sửa lần cuối: 12 Tháng Chín, 2013, 01:59:13 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM