Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:29:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315441 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #510 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 06:50:53 am »



Một phần trại Đa-vít năm 1973

        Trại Đa-vít. một trại của lính Mỹ trước đây. nay đã được sửa sang lại, bao gồm nhiều nhà trệt tạm thòi bằng gỗ và lợp mái tôn. xây dựng thành từng hàng thẳng, giữa có đường đi rộng, thỉnh thoảng mới được một vài cây có bóng mát. Nắng chói chang, nóng dữ dội, đặc biệt là vào buổi trưa. Ban ngày oi bức như vậy, lại thêm tiếng gầm rú của đủ loại máy bay và trực thăng, tiếng ồn ào tạp nham từ mọi hướng làm cho ai nấy đâm ra bực bội, khó chịu, còn đâu trí óc thảnh thơi để suy nghĩ, làm việc và nghỉ ngơi. May mà khí hậu tự nhiên ở đây từ lúc mặt trời lặn về đêm mát dịu trở lại, nhưng vẫn không dứt được tiếng ồn chát chúa liên tục. Thật rõ là một trại lính, phù hợp với người lính đang trong cuộc chiến tranh, nhưng còn xa với các tiêu chuẩn tối thiểu cho những phái đoàn ngoại giao. Đúng là bọn chúng chơi khăm chúng ta đây. Có lẽ chúng cũng mất nhiều công phu để tìm ra một trụ sở khá "thích hợp" cho cả hai Đoàn ta ở chung: Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam của chúng tôi.

        Xe vừa vào khỏi cổng trại thì anh Lê Quang Hoà, anh Lưu Văn Lợi, anh Hồ Quang Hoá và đông quá toàn là người quen biết, hầu như tất cả Đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa ùa ra vây chặt đoàn xe. Chúng tôi vừa xuống xe, anh Hoà tặng tôi một bó hoa lay ơn còn tươi nguyên của thủ đô Hà Nội, rồi mọi ngưòi chạy đến ôm hôn nhau, tiếng cười giòn giã, tiếng vỗ vai đôm đốp. Thật là cảm động, thật là chân tình ruột thịt của những đứa con cùng một mẹ - bà mẹ Tổ quốc đã quằn quại đau thường trong bao năm khói lửa chiến tranh. Thật là gần gũi. thật là vui mừng khi những người bạn chiến đấu cùng sống chết với nhau ở chiến trường trước một kẻ thù tàn ác nay lại gặp nhau ngay trong lòng địch, vì một mục đích cao cả: đấu tranh cho hoà bình, hoà giải, hoà hợp dân tộc.


Hai đoàn đại biểu gặp nhau tại trại Đa-vít

        Tôi quay qua ôm hôn anh Đoàn Huyên, Phó Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã vào Sài Gòn trước để dự các phiên họp cấp Phó Trưởng đoàn, bàn các thủ tục làm việc. Anh Dương Đình Thảo, thành viên của Đoàn chúng tôi, cũng vào kịp Sài Gòn qua đường Pa-ri, đã sốt dẻo chuyển cho tôi lá thơ và những lời thăm hỏi, chúc mừng nồng nhiệt của chị Nguyễn Thị Bình và phái đoàn ta ở Pa-ri.

        Trại Đa-vít chia làm hai: một bên dành cho Đoàn của anh Lê Quang Hoà, một bên dành cho Đoàn của chúng tôi. Nhưng Mỹ - ngụy đã có nhã ý chuẩn bị cho hai Trưởng đoàn một cái nhà tương đối tươm tất, làm theo kiểu nhà sinh đôi, mỗi bên một người ở, có đủ phòng khách, phòng làm việc, phòng ăn, phòng ngủ, có đủ máy điều hoà không khí, đèn sáng, máy điện thoại và các tiện nghi khá tốt. Chúng tôi hiểu rõ "lòng tốt" của họ. Vì vậy, mỗi người chúng tôi đã dọn một căn phòng khác để ở và làm việc trong dãy nhà chung với anh em. Còn ngôi nhà ấy đóng cửa lại và giao cho các chuyên viên kiểm tra. Sau một thời gian lục lọi. tôi không biết mất bao nhiêu ngày, anh em cho chúng tôi xem một số máy nhỏ tìm được, một số micro rất bé gắn giấu trong nẹp bàn của phòng làm việc và phòng khách. Chúng tôi cười với nhau, không hiểu đây là công trình của Mỹ - ngụy hay là trò chơi tinh nghịch của những tay thợ mộc kiêm chuyên viên điện tử.


Trung tướng Trần Văn Trà đứng trước căn phòng nhiều "tiện nghi" mà Mỹ, ngụy dành cho ông
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Chín, 2013, 07:21:45 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #511 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2013, 12:26:35 am »

        Còn nhiều chuvện như thế nàv nữa, nào phá rối các làn sóng điện, thông tin của ta liên lạc với vùng căn cứ và Hà Nội, nào ghi trộm các điện của ta đánh đi... Nhưng thôi, nói làm gì, âu cũng là chuyện thông thường của Mỹ ở thời điện tử này, những chuyện ấy thấm gì với chuyện Oa-tơ-ghết sau này ở Oa-sinh-tơn. Quan trọng là ta đã biết, đã đề phòng từ những chuyện nhỏ nhặt nhất. Đó chẳng qua là sự tiếp nối của một cuộc chiến tranh chưa chấm dứt mà kẻ địch đã dùng mọi thứ có thể dùng, từ những vũ khí hiện đại giết người hàng loạt đến những máy móc điện tử tinh vi nhất, những ra-đa, tia la-de trong các máy nhìn trộm, nghe trộm, từ hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra đến Trại Đa-vít này. Báo "Sao và vạch" của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương ra ngày 15 tháng 3 năm 1973 đã công nhận "Mỹ vừa kết thúc ba cuộc chiến tranh lớn nhất trong thế kỷ này. Đây (chỉ chiến tranh xâm lược Việt Nam) là cuộc chiến tranh lớn nhất về tống số bom đạn sử dụng, lớn nhất về sự tàn phá và cũng lớn nhất về sử dụng khoa học - kỹ thuật trong chiến tranh!".

        Đó là việc lạm dụng kỹ thuật hiện đại của Mỹ vào mục đích xâm lược, giết người, lừa đảo. Còn bọn ngụy thi kỹ thuật không có mà trí thông minh cũng không, nên đã được chủ Mỹ phân công, và chúng cố sáng tạo thêm, chuyên giở những trò hèn mọn nhỏ nhặt hàng ngày, gây khó dễ cho các Đoàn ta, như hạn chế việc cung cấp thức ăn, đồ dùng của chủ thầu vào Trại Đa-vít, cấm các nhà báo, đặc biệt là cấm nhân dân tiếp xúc, chuyện trò với các Đoàn ta, tìm cách cản trở việc đi lại của ta nhất là ngang qua phố xá Sài Gòn, gây chậm trễ, làm hư xe. quân cảnh hộ tống đến chậm..., rồi dùng trực thăng, xe tăng uy hiếp, âm mưu dùng tiền, gái mua chuộc. Đối với các Đoàn đại biểu ta ở các khu vực, các tổ địa phương thì chúng đối xử càng tệ hại hơn nhiều. Chúng bố trí chỗ ở tồi tệ, kém vệ sinh, chật chội, nóng nực, thiếu mọi phương tiện... Ví dụ như Đoàn khu vực Mỹ Tho, chúng bố trí vào một chuồng nhốt gà vừa mới chuyển trong căn cứ Đồng Tâm, mùi hôi thối còn nồng nặc. Chúng cung cấp thực phẩm kém phẩm chất, có trường hợp như ở Huế, những đồ hộp quá hạn lâu đã có dòi. Trên bàn hội nghị 4 bên ở Sài Gòn, chúng tôi luôn kịch liệt phản đối cách đối xử vô lương tâm của chúng, đòi cử tổ điều tra và giải quyết thì phía Mỹ đổ thừa cho phía ngụv. Thiếu tướng út-uôt, Trưởng đoàn Hoa Kỳ, giả bộ: "Thật đáng tiếc, phía Hoa Kỳ không hay biết gì về những sơ suất này. Phía Việt Nam cộng hoà đảm nhận những công việc ấy, họ báo cho chúng tôi rằng mọi việc đã hoàn tất". Những lần như vậy, phía ngụy cúi gằm mặt im thít hoặc đổ cho cấp dưới, cho địa phương, cho bọn thừa hành làm việc không tốt, rồ cũng đồng ý cử tổ đi kiểm tra, họ hứa sẽ sửa sang lại nhà cửa, cấp thêm thiết bị, nhưng rồi đâu vẫn hoàn đó.

        Không những thế, chúng còn tổ chức bọn lưu manh, côn đồ phối hợp với quân cảnh và cảnh sát của chúng, hành hung các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ta trong các Ban, Tổ Liên hợp quân sự đi làm nhiệm vụ, như ném đá, ném đồ bẩn, thậm chí còn dùng gậy sắt, dao, búa đánh anh em ta bị thương như đồng chí Thiếu tá Lê Thành Nhơn và 2 đồng chí Đại uý khác ở Tổ Buôn Ma Thuột, 8 đồng chí ta ở Tổ Huế. Đồng chí Trần Hán Ngọ bị đánh vào đầu bất tỉnh ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, khi đang làm nhiệm vụ cùng tổ điều tra của Ban Liên hợp quân sự. Tất cả các cán bộ, chiến sĩ ta trong các Ban, Tổ Liên hợp quân sự đều là những người đã lập nhiều thành tích trong chiến tranh, trên nhiều chiến trường vừa qua, đã chiến đấu dũng cảm như những mãnh hổ trong các trận đánh, giờ đây trên mặt trận đấu tranh mới này trong vùng địch kiểm soát, luôn tin tưỏng ở chính nghĩa, ở sự tất thắng của cách mạng, đã rất bình tĩnh, kiên nhẫn, vững vàng, không nao núng trước mọi hành vi xấu xa, uy hiếp hay mua chuộc nào. Chúng ta tự hào biết bao về họ, biết ơn biết bao những anh Bộ đội Cụ Hồ rất bình thường nhưng uy vũ không khuất phục, tiền tài không loá mắt.


Một chiến sĩ ta bị chúng đánh trọng thương đang được dìu tới bộ phận quân y trong trại Đa-vít cấp cứu

        Mỹ - ngụy giở những trò đê tiện ấy với mục đích gì? Hẳn không phải để tạo ra một bầu không khí tốt lành để cùng cộng tác thi hành đúng đắn Hiệp định Pa-ri, hẳn không phải để tạo ra một bầu không khí hoà hợp và hòa giải dân tộc sau bao năm hận thù vì chiến tranh tan cửa nát nhà. Làm sao mà con người có lý trí đứng trước những hành vi ấy của Mỹ - ngụy mà vẫn tin rằng chúng thực tình muốn chấm dứt chiến tranh, đem lại hoà hình? Rõ ràng, chúng trắng trợn không che giấu bộ mặt nham hiểm, rắp tâm phá bỏ Hiệp định.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #512 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2013, 08:28:43 am »

        Vấn đề quan trọng nhất của Hiệp định Pa-ri và cũng là vấn đề đầu tiên phải thi hành là ngừng bắn. Điều 2 và Điều 3 của Hiệp định và Nghị định thư về ngừng bắn quy định rất rõ ràng, cụ thể về chấm dứt hoàn toàn chiến sự. các lực lượng ở nguyên vị trí, v.v... Nhưng từ 28 tháng 1 năm 1973 là ngày ngừng bắn có hiệu lực cho đến nay (và mãi đến ngày 30-4-1975), mỉa mai thay, không hề có ngày nào ngừng tiếng súng trên bất cứ chiến trường nào ở toàn miền Nam Việt Nam.

        Ngay đúng giờ ngừng bắn có hiệu lực, ngụy quyền Thiệu đã cho cả chiến đoàn có xe tăng dẫn đầu, hành quân lấn chiếm cửa Việt của ta. Ở đây, ta đã kiên quyết đánh trả, tiêu diệt quân địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. Và, như vậy là ở bàn hội nghị 4 bên ta có thế mạnh tố cáo chúng vi phạm Hiệp định. Trung tướng Ngô Du, Trưởng đoàn ngụy, cãi liều: Chúng tôi hoàn toàn chiếm Cửa Việt hồi 07 giò 58 phút sáng 28 tháng 1 năm 1973 (chẳng là, đúng 8 giò sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973 là lệnh ngừng bắn có hiệu lực). Tôi đập lại: "Cửa Việt đã được chúng tôi giải phóng từ tháng 5 năm 1972 cơ mà. Chúng tôi có mọi chứng cớ hiển nhiên về vụ lấn chiếm trái phép của quân đội các ngài sau giờ ngừng bắn. Nhưng tôi xin thông báo với trung tướng tin sốt dẻo rằng, nhờ cánh giác cao độ. Quân giải phóng chúng tôi đã tiêu diệt quân lấn chiếm và làm thất bại cuộc phiêu lưu này, sau khi cố dùng loa kêu gọi họ hãy lùi lại, chớ có vi phạm Hiệp định, nhưng không có kết quả. Đây là bài học cho những ai không tôn trọng Hiệp định, không tôn trọng chữ ký của chính mình". Chúng sạm mặt lại, cay đắng.

        Để chặn đứng việc máy bay địch bay ngang qua vùng ta kiểm soát, chúng ta đòi bàn ngay Điều 3 Nghị định thư về ngừng bắn: "Các Ban Liên hợp quân sự sẽ thoả thuận về các hành lang, các tuyến đường và các quy định khác cho việc di chuyển của các máy bay vận tải quân sự, các loại xe vận tải quân sự do các bên kiểm soát". Cả phía Mỹ và phía ngụy đều lờ đi như không cần thiết. Nhưng rồi, trong phiên họp ngày 16 tháng 2 năm 1973, Mỹ giở trò báo tin khẩn cấp: một máy bay C47 bị bắn rơi ở phía nam An Lộc, 2 nhân viên phi hành Mỹ bị thương nặng. Trong các phiên họp sau đó, Mỹ đều phản đối ta và đòi cử tổ điều tra. Ta đồng ý điều tra nhưng nhấn mạnh rằng trong khi Ban Liên hợp quân sự 4 bên chưa có thoả thuận về hành lang, cao độ, v.v... của các máy bay khi bay qua vùng giải phóng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thì không ai chịu trách nhiệm về sự an toàn của chúng cả. Rốt cuộc, Mỹ củng phải im đi cho xong chuyện. Rõ ràng, vừa dựa vào tính pháp lý của Hiệp định vừa kiên quyết đối phó với các vụ vi phạm, ta buộc Mỹ - ngụy phải kiêng nể. Nhưng nơi nào ta yếu và sơ suất trên chiến trường thì địch vi phạm mười mươi đấy nhưng chúng vẫn cãi cù nhầv và bất cần sự phản đối của ta. Ví dụ như vụ ngụy Sài Gòn lấn chiếm Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi. Vùng Sa Huỳnh ta đã giải phóng năm 1972 trong đó có một đoạn quốc lộ 1 tương đối dài. Sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, ngụy mở cuộc hành quân hàng sư đoàn lấn chiếm, nối lại giao thông của chúng trên quốc lộ 1. Ta kịch liệt vạch trần sự vi phạm, đòi cử tổ đi điều tra nhưng rồi Mỹ - ngụy ì ra, xem như việc đã rồi. Cả những làng ấp dọc đường số 4 Mỹ Tho trước ngày 28 tháng 1 năm 1973 do ta kiểm soát, nhưng sau ngày 28 tháng 1 địch liên tiếp hành quân và đóng đồn bót sâu vào vùng ta. Ở đây, vì lực lượng ta còn sơ hở ngỡ ngàng, sợ nổ súng đánh trả thì vi phạm Hiệp định, nên địch mới lấn chiếm được và nói ngược nói ngạo trên bàn hội nghị là vùng của chúng. Vấn đề ngừng bắn là vấn đề cốt tử của Hiệp định, thế mà ngụy quyền Thiệu không cần đếm xỉa đến, ngang nhiên phá hoại Hiệp định từ gốc. "Kê hoạch Lý Thường Kiệt" năm 1973 của chúng đề ra 5 biện pháp chiến lược lớn là:

        -   Lấy lấn chiếm và bình định làm biện pháp trung tâm.

        -   Xây dựng quân đội mạnh, chính quyền mạnh làm trụ cột. 5 năm trẻ trung hoá, hữu hiệu hoá và hiện đại hoá quân lực Việt Nam cộng hoà.

        -   Phá Hiệp định Pa-ri về Việt Nam ở những điểm nào không có lợi cho Việt Nam cộng hoà (ngụy).

        -   Phục hồi kinh tế 1973-1974 trong kế hoạch dài hạn 1973-1978, nhất là công nghiệp, đi đôi với bao vây phong toả kinh tế đối phương.

        -   Duy trì lực lượng răn đe bằng không quân và hải quân Mỹ ở Đông Nam Á.

        Chúng còn ra sức thực hiện cái gọi là "chiến dịch tràn ngập lãnh thổ, "chiến dịch cắm cờ", dùng cả bộ binh, cả trực thăng để cắm cờ. Chúng đã chuẩn bị 1,6 triệu lá cờ ba que ngụy cho chiến dịch cắm cờ...

        Theo tài liệu địch thì cho đến tháng 10 năm 1973, chúng đã đóng thêm được 1.800 đồn bót trên toàn miền Nam, kiểm soát thêm được 7.253 ấp so với trước ngày 28 tháng 1 năm 19731.

--------------------
1.  Tài liệu này ta thu được của địch sau ngày giải phóng, hiện lưu giữ tại Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc phòng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #513 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2013, 01:24:44 am »

        Rõ ràng, mặc dù đã ký kết Hiệp định, Mỹ - ngụy vẫn thản nhiên hành động theo kế hoạch từ trước của chúng, ra sức bình định lấn chiếm, xâv dựng quân đội mạnh lên để thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho chúng, hòng độc chiếm miền Nam Việt Nam. Trong một phiên họp 2 Trưởng đoàn miền Nam tháng 3 năm 1973, trung tướng Dư Quốc Đống, Trưởng đoàn ngụy thay thế Ngô Du, khi bị dồn vào thế bí, đã nói toạc chân tướng: "Tôi không tán thành Hiệp định Pa-ri, vì nó chỉ có lợi cho các ngài". Tôi đã nghiêm khắc phê phán: "Như vậy là đã rõ. Trung tướng Dư Quốc Đống, người đại diện của phía Việt Nam cộng hoà để thi hành Hiệp định mà không tán thành, chống lại Hiệp định, thì các ngài vi phạm, phá bỏ Hiệp định là tất nhiên, lả rõ ràng". Hắn hoảng hốt, vội lúng túng bào chữa: "Cá nhân tôi không tán thành... nhưng... vì... đã có Hiệp định nên chúng tôi phải thi hành, không có phá...".

        Ai cũng biết, trước khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Hoa Kỳ đã gấp rút chở vũ khí, phương tiện chiến tranh qua miền Nam Việt Nam để củng cố lại quân ngụy, bù đắp số quân ngụy đã bị tổn thất nặng trong năm 1972 và ra sức lập kho dự trữ đầy đủ để quân ngụy vẫn mạnh khi Mỹ rút đi. Kít-xinh-giơ đã từng tuyên bố trong các cuộc họp báo ở Mỹ rằng: "Mỹ rút, nhưng Việt Nam cộng hoà vẫn phải mạnh". Công việc này vẫn tiếp tục với nhịp độ cao sau khi Hiệp định có hiệu lực. Tất cả những số liệu nàv nhiều tài liệu đã ghi rõ, báo chí thế giới cũng đã nói đến nhiều, thông kê đầy đủ, thiết tưởng tôi không cần phải ghi lại ở đây.

        Không những thế, quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ buộc phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định, thì chúng lại chuyển cho quân đội Thiệu các trang bị tối tân, các kho dự trữ hậu cần, các căn cứ của chúng.

        Điều 5 và Điều 6 của Hiệp định quy định, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Hiệp định được ký kết, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và các nước ngoài khác, cũng như việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và nước ngoài khác. Nghị định thư ngừng bắn cũng nói ở Điều 8 là "Hoa Kỳ và các nước ngoài khác nói trong Điều 5 của Hiệp định sẽ mang đi với họ mọi vũ khí. đạn dược và dụng cụ chiến tranh của họ...".

        Để bảo đảm việc thi hành đúng đắn các điều khoản nói trên, Điều 3 đã nêu rõ là bắt đầu từ khi ngừng bắn, các lực lượng của Hoa Kỳ sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi kế hoạch rút quân và Ban Liên hợp quân sự 4 bên sẽ quy định thể thức.

        Ban Liên hợp quân sự 4 bên có nhiệm vụ phối hợp, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các Điều 3, 5, 6... ấy. Đặc biệt là Uỷ ban Quốc tế phải kiểm soát và giám sát việc thi hành các điều nêu trên.

        Trong các phiên họp Trưởng đoàn 4 bên ở Tân Sơn Nhất, chúng tôi luôn yêu cầu phía Hoa Kỳ cho biết kế hoạch rút quân và phá bỏ các căn cứ quân sự để các Tô Liên hợp quân sự đi theo dõi và kiểm tra. Hôm nào cũng vậy, Trưởng đoàn Hoa Kỳ Út-uốt cũng ầm ừ rồi đưa ra vấn đề khác. Nhưng một hôm ông ta làm ra vẻ trịnh trọng thông báo: "Kết quả việc nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, về phía Hoa Kỳ... đã tháo gỡ thủy lôi. mìn...".

        Y nói vanh vách về số liệu, thòi gian, không gian.... rồi tới việc rút quân, Hoa Kỳ "đã rút khỏi miền Nam Việt Nam 8.000 người, có cả quân đồng minh". Tôi lập tức phản đối: "Chúng tôi không thể chấp nhận sự thông báo hời hợt như vậy của phía Hoa Kỳ. Không ai có thể tin con số 8.000 hay bất kỳ một con số nào khác thiếu tướng Út-uốt đưa ra, mà lại không nghĩ ràng đó có thể là bịa đặt. Tôi cho rằng, bất cứ một cuộc rút quân nào của Hoa Kỳ hay quan mọt nước ngoài khác đều cần phải thông bao trước để có sự theo dõi và kiếm tra tại chỗ của Ban Liên hợp quân sự 4 bên cùng như sự kiểm soát và giám sát cua Ủy ban Quốc tế như đã quy định. Không như vậy thì không con số nào có giá trị. Tôi phải ghi nhận rằng, cho đến ngày hôm nay, chưa có một người lính Hoa Kỳ hay quân một nước nào khác đã rút khỏi miền Nam Việt Nam".

        Sau đó, ngày 16 tháng 2 năm 1973, phía Mỹ gửi công hàm cho ta chính thức chịu để cho Ban Liên hợp quân sự 4 bên đến các địa điểm quan sát việc rút quân Mỹ và Nam Triều Tiên và được chụp ảnh. Thế là họ phải nhượng bộ. Qua các cuộc giám sát đó, rõ ràng quân Mỹ cũng như quân Nam Triều Tiên, khi bước chân vào Việt Nam đã được vũ trang đến tận răng nhưng khi rút ra thì họ không mang theo súng ống gì cả mà toàn những chăn màn, đồ dùng và những vật kỷ niệm như voi sành; voi sứ, đồ đá Ngũ Hành Sơn... Anh em ta chất vấn thì họ trả lời: "Vũ khí, trang bị đã chở bằng tàu thuỷ". Đấy, lý lẽ bịp bợm như vậy đó!

        Việc này đến khi thất bại hoàn toàn năm 1975, Mỹ mới bàng hoàng bực bội là sao đã tìm mọi cách gian lận đế lại nhiều trang bị cho quân ngụy mà thua vẫn hoàn thua, nên trong cơn tức giận mới nói toạc ra sự thật: "Với khối lượng khổng lồ trang thiết bị và vật liệu để lại khi các lực lượng chúng ta rút về nước, cộng với số lượng tiếp tế thêm về sau. nhẽ ra quân lực Việt Nam cộng hoà phải có đủ khả năng đương đầu với đối phương mới phải”1.

        Còn việc phá hủy các căn cứ quân sự thì sao?

        Thiếu tướng út-uổt nghiêm trang bảo: "Chúng tôi được phép trả lời quý vị rằng, ở miền Nam Việt Nam hiện nay không còn một căn cứ quân sự nào của chúng tôi cả. Tất cả đã được chuyển giao cho phía Việt Nam cộng hoà trước khi ký Hiệp định. Hiện nay, quân Mỹ ở trong những căn cứ mượn tạm của Việt Nam cộng hoà".

        Thật là một sự lừa bịp trắng trợn hết chỗ nói!

        Một khi đế quốc Mỹ đã có kế hoạch rồi, có mục đích rồi, thì chúng hành động theo cách của kẻ xâm lược, nói láo trơ trẽn bất kể người nghe là ai.

-----------------------
1.   Weldon A. Brown. Chương 10. "Chiếc trực thăng cuối cùng”
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Chín, 2013, 08:37:32 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #514 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2013, 02:42:25 am »


  *   

*        *

        60 ngày ở Sài Gòn trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên là những ngày nặng nề và căng thẳng. Hai Đoàn đại biểu quân sự chúng ta đã làm hết sức mình để đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri, nhưng kết quả có mức độ. Các đồng chí trong Đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế, với tinh thần quốc tế và lòng nhiệt tình anh em, đã hợp đồng chặt chẽ với chúng tôi để cùng đấu tranh, bảo vệ nhau, giúp đỡ nhau.

        Đồng chí thiếu tướng Xuýt, Phó Trưởng đoàn Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tế, người to lớn, chắc nịch trong bộ quân phục gọn và đẹp, ngay trong ngày đầu gặp gỡ làm việc đã nói với tôi giọng chân thành: "Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Hung-ga-ri cử chúng tôi đến Việt Nam vì hoà bình và hạnh phúc của nhân dân các bạn, vì hoà bình thế giới. Chúng tôi xem thành công của cách mạng Việt Nam là của chính bản thân mình và vì vậy sẵn sàng hy sinh vì nó. Đó là nguyên tác chỉ dẫn mọi hành động của chúng tôi. Chúng tôi không sợ chết và tất nhiên không sợ cực nhọc".

        Cảm ơn biết mấy những lòi nói chí tình của một sứ giả của giai cấp công nhân từ một đất nước xa xôi đến với chúng ta trong những ngày còn gian khổ, trên tinh thần quốc tế vô sản cao cả!

        Qua thời gian 60 ngày ấy, thử kiểm lại những gì đã thực hiện được và không thực hiện được. Do Mỹ - ngụy đã có mục tiêu, có kế hoạch sẵn nên vấn đề chủ chốt nhất là việc ngừng bắn không thực hiện được. Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Hãy nghe Thiệu nói chuyện với sĩ quan ngụy ở Thủ Đức: "Việt Nam cộng hoà sẽ thi hành điều khoản ngừng bắn khi: (1) Quân đội Việt Nam cộng hoà không còn ủng hộ tôi; (2) Khi quân viện Hoa Kỳ chỉ đủ đế lo việc phòng thủ; (3) Khi quân lực Việt Nam cộng hoà không còn đủ sức bảo vệ các khu vực quan trọng tại miền Nam Việt Nam".

        Rõ ràng, tên tay sai trung thành của Mỹ tưởng nó chiến thắng, ngoan cố phá hoại ngừng bắn, tiếp tục chiến tranh, dù có hay không có Hiệp định (!)

        Mỹ và chư hầu đã rút quân. Các quân đội tay sai của Mỹ, bán mình cho đê quốc tham gia giết hại nhân dân ta như quân đội úc, Niu Di-lân, Thái Lan và Nam Triều Tiên, đã cút sạch khỏi đất nước ta. Sáng 15 tháng 3 năm 1973, bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam (USARV) đã tổ chức lễ cuốn cờ. chuồn. Buổi chiều, bộ chi huy yểm trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV), thực tế là bộ chỉ huy tối cao của Mỹ chỉ huy toàn bộ quân Mỹ. quân các nước chư hầu và quân đội Thiệu, bộ máy chiến tranh xâm lược đồ sộ của Mỹ ở Việt Nam, có trụ sở ở Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi là "Lầu Năm góc phương Đông", cũng hạ cờ, cuốn gói.

        Tình cờ hay có sự gợi ý khéo nào đó mà ngày hôm sau, hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chúng ta đã phóng xe thọc thẳng vào sân của "Lầu Năm góc phương Đông" này. Hai Đoàn ta xuống xe tiến thẳng vào phòng khách giữa hai hàng quân cảnh Mỹ đứng nghiêm chào, để dự bữa tiệc của thiếu tướng, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Hoa Kỳ chiêu đãi. Chúng tôi đã cười vui, uống rượu Mỹ, nói chuyện thời tiết thanh bình của Việt Nam ngay ở "Lầu Năm góc phương Đông".

        Thế là quân Mỹ đã cút. Nhưng chúng đã để lại, như nói ở phần trên, đủ thứ vũ khí, căn cứ quân sự và cả sĩ quan đội lốt dân sự, để chống đỡ cho chế độ tay sai Thiệu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #515 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2013, 05:18:24 am »

        Về phần trao trả theo Hiệp định Pa-ri, chúng ta đã đòi lại được những người của ta bị địch bắt giữ trong chiến tranh. Đồng chí Thiếu tá Nguyễn Thị Dung, thành viên Đoàn đại biểu quân sự của ta, đặc biệt phụ trách vấn đề trao trả tù binh. Đồng chí rất tích cực xông xáo, đi khắp các nhà tù của ngụy từ Biên Hoà, Côn Đảo đến Phú Quốc. Là thành viên nữ duy nhất trong cả 4 đoàn đại biểu quân sự, nói thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh lại xinh đẹp và lịch thiệp, đã đấu tranh kiên quyết và làm cho Mỹ - ngụy phải kính nể và chúng tôi cũng hãnh diện. Đồng chí đã tranh thủ phố’ biến các điều khoản của Hiệp định nói về trao trả tù binh cho anh em ta còn bị giam giữ, đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, đòi trả toàn bộ những người còn bị giam giữ... Chúng không trả đủ, không thành thật nhưng ta cũng đã giải thoát được một số không ít những cán bộ, chiến sĩ ta, những người đã chiến đấu anh dũng và sa vào tay chúng, chịu đựng sự hành ha, tra tấn dã man của chúng.


Bà Nguyễn Thị Dung năm 2005

        Chúng ta cũng đã trả cho đối phương tất cả tù binh Mỹ - ngụy mà ta bắt giữ.

        Nhưng điều quan trọng nữa là, qua 60 ngày mặt đối mật với kẻ địch, ta đã hiếu chúng thêm. Mỹ chỉ cốt lấy lại được tù binh để làm quà cho nhân dân Mỹ, đưa quân Mỹ về nước vì nhân dân Mỹ đòi, còn thì vẫn thi hành chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" để Mỹ tiếp tục ở lại miền Nam Việt Nam. Ngụy thì giữ đúng phương châm "4 không" của Thiệu: Không nhượng đất cho Cộng sản, không trung lập, không liên hiệp với Cộng sản, và không nói chuyện với Cộng sản. Tuy ngụy buộc lòng phải ngồi vào bàn với ta trong hội nghị 2 bên ở Pa-ri, trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên rồi 2 bên ở Tân Sơn Nhất, nhưng thực sự chúng vẫn giữ phương châm "4 không" của chúng, không nói chuyện nghiêm túc mà cãi chày cãi cối, nói bừa nói ẩu, đồng ý hôm nay đế xoá sạch ngày mai. Ngay vấn đề nhỏ nhất và đầu tiên là màu cờ và dấu hiệu của Ban Liên hợp quân sự 4 bên mà chúng cũng lật lọng, không thi hành điều đã thỏa thuận trong phiên họp cấp Phó đoàn ngày 31 tháng 1 năm 1973. Đó là quv định về cờ, bảng tay, dâu hiệu trên xe, tàu, máy bay của Ban Liên hợp quân sự đều là màu da cam. Trong một phiên họp cấp Trưởng đoàn, chúng đề nghị bàn lại, lấy màu khác. Ta gạt đi. vì việc gì đã thoả thuận rồi thì làm, không cù nhầy. Giữa chừng phiên họp, vào giờ giải lao, chuẩn tướng Phan Hoà Hiệp, Phó đoàn ngụy, đến ngồi bên tôi tỉ tê: "Trung tướng không biết tôi chứ tôi biết Trung tướng nhiều". Tôi hỏi lại: "Biết lúc nào?" - Hiệp nói: "Tôi là lính của Đệ tam sư đoàn đây1 . Chỉ tiếc là các anh lớn hồi ấy xích mích với nhau, nếu không thì có lẽ bây giò tôi cũng vẫn còn đi kháng chiến, dưới quvền của Trung tướng...". Y cười hề hề để chấm dứt cho câu nói của mình. Thì ra thế! Các "Anh lớn" mà Hiệp nói đây tức gồm có tôi, lúc đầu kháng chiến chống Pháp tôi là chỉ huy đơn vị gọi tên là Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hoà hoạt động quanh Sài Gòn. Phan Hoà Hiệp là lính của Đệ tam sư đoàn, Lý Huê Vinh là Tư lệnh Đệ tứ sư đoàn... Đệ tam và Đệ tứ sư đoàn tan rã và đầu hàng Pháp sau một thời gian. Tôi đã tiến hành tước vũ khí của một số đơn vị cướp bóc phá hoại nhân dân của 2 sư đoàn này tại Nhuận Đức, An Nhơn, Tây Hóc Môn, Gia Định và tại Mỹ Tho, Đức Hoà (Long An). Chúng tôi được biết, Phan Hoà Hiệp thực tế không phải là họ Phan và là phiên âm "Francois" thành "Phan Hoà" vì y tên là Francoís Hiệp, lai Pháp, cha người Pháp, mẹ người Việt. Nói lại câu chuyện này y cốt xuống nước với tôi. tự coi là em út và nhân đó năn nỉ "Anh lớn" đồng ý sửa lại màu cờ:

        -   "Thưa Trung tướng, màu da cam gần với màu đỏ, trông nó dữ quá" - Y đã xuống nước làm em út thì tôi cũng lên giọng "Anh lớn”.

        -   "Sao lại dữ? Màu đỏ là màu huy hoàng, xán lạn của tương lai, có gì phải sợ? Chuẩn tướng nên biết rằng, màu da cam thông dụng trên quốc tế rồi, rất dễ nhìn thấy, dù rất xa. Màu đó thích hợp nhất, mà còn đẹp nữa. Vả lại, cái gì đã nhất trí rồi thì thi hành, đừng trở tới trở lui, mất thì giờ. Ta còn nhiều việc quan trọng phải làm" - Y còn lẽo đẽo theo năn nỉ nhiều lần nhưng tôi kiên quyết gạt đi. Tuy vậy, ngụy vẫn không thi hành. Đấy, còn khối chuyện như chuyện màu da cam vậy.


Màu da cam được sử dụng làm màu cờ và dấu hiệu của Ban Liên hợp quân sự 4 bên. Trong ảnh là 1 chiếc băng tay dùng cho các thành viên trong Ban liên hợp quân sự 4 bên sử dụng khi làm nhiệm vụ (số 4 để chỉ Ban liên hợp quân sự 4 bên).

--------------------
1.  Hồi Cách mạng tháng Tám năm 1945.

« Sửa lần cuối: 28 Tháng Chín, 2013, 06:01:47 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #516 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2013, 01:54:22 am »


*

*     *

        Căn cứ vào Hiệp định Pa-ri, Ban Liên hợp quân sự 4 bên sẽ chấm dứt hoạt động trong thời hạn 60 ngày. Nhưng gần đến những ngày kết thúc thì có dư luận của Mỹ, của báo chí Sài Gòn lúc ấy rằng Ban Liên hợp quân sự 4 bên sẽ kéo dài thêm thời hạn hoạt động. Chưa hiểu đây là âm mưu gì. Phải chăng để kéo dài thêm sự có mặt công khai của phái đoàn Mỹ? Để ngụy cố bám vào chủ Mỹ nhờ sự che chở của Mỹ? Để giữ phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa lại hòng giải quyết thêm một số việc có lợi cho Mỹ như vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích? Hay để hạ thấp vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam? Dù sao chúng ta củng kiên quyết chuẩn bị cho Đoàn đại biểu quân sự Mỹ trở về Hoa Kỳ, Đoàn anh Hoà trở về Hà Nội. Còn Đoàn của tôi, trong khi chuyển thành Ban Liên hợp quân sự 2 bên làm việc thì Trung ương đã quyết định là anh Hoàng Anh Tuấn, Thiếu tướng, sẽ là Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tất nhiên, tôi sẽ rút, nhưng chuyện rút đi của tôi trở thành vấn đề khó. Tôi đi Hà Nội? Không có lý do gì. Tôi đi Lộc Ninh? Mỹ - ngụy sê làm khó dễ, không cung cấp phương tiện hoặc có âm mưu đen tôi nào đó... Ý đồ của Mỹ - ngụy lúc ấy chúng tôi biết rõ là ít nhất chúng cũng giữ tôi lại Tân Sơn Nhất. Để cho một cán bộ có cỡ - theo ý chúng - của Mặt trận Dân tộc giải phóng như tôi trở về chiến trường là "thả hổ về rừng". Giữ một người như thế này trong tay chúng làm con tin ắt sẽ ích đấy.

        Từ lâu chúng ta thừa biết là mọi việc do chủ Mỹ định đoạt, ngụy chỉ là những tên tôi tớ thừa hành. 60 ngày qua càng cho phép tôi khẳng định như vậy. Trong việc này cũng như bao nhiêu việc đã qua, nếu Mỹ ưng thuận thì mọi việc sẽ êm xuôi. Phải làm cho Mỹ ưng thuận đưa tôi đi Hà Nội.

        Tối 29 tháng 3 năm 1973, tôi mời thiếu tướng út-uôt, Trưởng đoàn Hoa Kỳ, đến gặp tôi tại trụ sở phái đoàn ta trong Trại Đa-vít. Đúng giờ, út-uốt và chuẩn tướng, Phó đoàn Uých-khâm cùng đến. Ngoài ra còn có tên thiếu tá mũ nồi xanh phiên dịch Xô-va-dô đã từng là cố vấn cho trường đào tạo cán bộ bình định của ngụy quyền Vùng Tàu.

        Tôi báo cho út-uốt biết rằng do liên lạc của chúng tôi có khó khăn nên tôi vừa nhận được tin chậm là còn một tù binh Mỹ mà lực lượng chúng tôi còn đang giữ ở tỉnh Trà Vinh. Để thế hiện thiện chí của chúng tôi thi hành đúng đắn Hiệp định Pa-ri, chúng tôi xin giao và nhận ngay ngưòi tù binh cuối cùng này. Về phía cá nhân, tôi nghĩ rằng đây sẽ là món quà thân thiện của tôi đối với thiếu tướng để ghi nhớ 60 ngày cùng làm việc với nhau trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên. (Ý tôi muốn nói nhân việc này ứt-uốt thể nào cùng được khen thưởng, thăng cấp).

        Út-uôt mừng rỡ ra mặt, cảm ơn tôi rối rít và để tỏ lòng biết ơn, y tỏ vẻ thân mật hỏi thăm tôi về sức khoẻ, hỏi tôi có dự kiến riêng gì sắp tới hay không? ;

        Thật là một câu hỏi đúng chỗ và đúng lúc, tôi chỉ mong có thế. Tôi liền nói dự kiến riêng của tôi là sẽ đi Hà Nội một chuyến và nhân tiện thăm luôn Lào.

        Hẳn út-uốt và Uých-khâm tưởng tôi có ý định giúp giải quyết vấn đề tù binh của Mỹ và Thiệu ở Lào, nhựng không tiện và không dám hỏi. Út-uốt tỏ vẻ rất sốt sắng hỏi luôn: "Trung tướng định bao giờ thì đi?".

        -   Tôi định sáng mai đi nếu thiếu tướng sẵn lòng lo giúp phương tiện.

        -   Trung tướng sẽ có ngay phương tiện. Tôi sẽ sắp xếp một chuyến C130 đi Hà Nội sáng mai vì Trung tướng.

        Tôi nói lời cảm ơn út-uốt và nhác lại là sáng mai một sĩ quan liên lạc ta sẽ gặp sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ đê sắp xếp việc trả và nhận tù binh Mỹ ở Trà Vinh.

        Y lại cảm ơn và hỏi tôi C130 ngàv mai đi có phải chở tôi trở về không? Nếu không thì tôi sẽ trở về thế nào? (Vì phái đoàn Hoa Kỳ chấm dứt hoạt động và trở về Mỹ ngày 31 tháng 3 năm 1973. Nếu sau ngày đó thì phải nhờ phương tiện của ngụy).

        Tôi mỉm cười lấp lửng: "Có thể tôi vòng qua Pa-ri để trở về Sài Gòn, luôn tiện được biết thêm một số thủ đô nổi tiếng của châu Âu". (Út-uôt lại tưởng tôi cần gặp phái đoàn ta ở Pa-ri đây).

        Út-uôt rất vui, khen là một dự kiến hay của tôi và từ giã ra về. Y không quên khắng định lại là sáng mai sẽ có máy bay để đưa tôi ra Hà Nội.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Chín, 2013, 11:41:15 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #517 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2013, 02:52:37 am »

        Buổi sáng ngày 30 tháng 3 năm 1973, sĩ quan ngụy đã đưa đoàn xe du lịch màu đen sạch bóng đến đón tôi tận nhà và đưa tôi ra tận cầu thang máy bay một cách hết sức cung kính. Đưa tôi ra sân bay đi Hà Nội có Thiếu tướng Lê Quang Hoà, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng một số anh em trong hai phái đoàn ta. Ngoài ra còn có các đồng chí của hai phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến. Tôi bắt tay từ giã mọi người một cách thân mật, những cái xiết tay rung cảm và quyến luyến, hết sức cảm động ngầm biếu dương một thắng lợi và những cái xiết tay thông cảm ngầm biết ơn lẫn nhau. Út-uôt chúc tôi đi bình yên, gặp nhiều may mắn và nói rằng sẽ cho máy bay ra Hà Nội đón tôi trở về, điều mà tôi không yêu cầu. Tôi chúc vợ chồng út-uốt sống hạnh phúc và bước lên máy bay vẫy chào mọi người. Thế là trên chiếc C130 mà Mỹ có nhã ý dành cho tôi ngồi ở buồng lái, tôi cùng đồng chí Trung tá Nguyễn Quang Minh, cán bộ nghiên cứu tổng hợp tình hình của Ban Liên hợp quân sự. bác sĩ Lê Hoài Liễm, Dũng - phiên dịch, Hoà - cán bộ bảo vệ và một số đồng chí khác từ Sài Gòn ra Hà Nội, chấm dứt 60 ngày hoạt động sôi nổi và căng thẳng trong lòng quân thù.

        Ngồi trên máy bay, lần đầu tiên bay dọc theo chiều dài đất nước, nối liền Sài Gòn và Hà Nội, lòng tôi bồi hồi xúc động. Đây rồi, non sông một dải 4.000 năm, được tạo lập bằng xương máu, mồ hôi của bao thế hệ, xưa, nay. Làng mạc xanh tươi, núi rừng trùng điệp, bờ biển dài đẹp với những bãi cát trắng phau, thềm lục địa bao la xanh biếc, thật là muôn hình muôn vẻ... Tôi thầm cảm ơn vô hạn đốì với Tổ tiên Hồng Lạc và bất giác tôi nhớ tới Bác Hồ, nhớ lời Bác nói với bộ đội ta năm nào dưới mái đền Hùng trên sườn núi Nghĩa Lĩnh: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước".

        Lời nói của Bác đã khắc sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Bất cứ kẻ thù nào cũng sẽ bị đánh tan tành, sẽ bị đuối sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Tố quốc ta nhất định sẽ độc lập, tự do và thống nhất bất cứ bằng phương pháp nào.

        Máy bay đã bay vào đồng bằng sông Hồng. Kia rồi! Hà Nội, Thủ đô yêu dấu, trái tim của Tổ quốc. Tôi đã sống nhiều ngày ở Hà Nội, đã làm việc ổ đây, đã đôi ba lần đi xa rồi lại trở về. Nhưng lần trỏ vê này sao khác xa những lần trước, nó hồi hộp, xúc động lạ thường, giống như đứa con lâu ngày đi xa vật lộn với bao khó khăn nguy hiểm của đời, nay bỗng được trở vê gian nhà ấm cúng gặp người mẹ hiền da diết yêu thương. Con đây rồi, con đã về đây với mẹ dịu hiền, để rồi lại chuẩn bị lên đường cho một chuyến đi xa khác, chắc là khác nhiều với chuyến đi vừa qua.

        Sau ba ngày, một máy bay C130 từ Sài Gòn ra hạ cánh ở sân bay Gia Lâm để đón tôi - như út-uôt đã hứa hôm nọ. Tôi phái đồng chí Trung tá Nguyễn Quang Minh ra báo cho viên sĩ quan chỉ huy máy bay biết rằng tôi chưa về được và cho phép máy bay trở lại Tân Sơn Nhất mà cũng không cần trở ra đón. Và, đồng chí Minh cũng không quên thay tôi tỏ lời cảm ơn phía Mỹ.

        Trong niềm vui dạt dào được trở về Thủ đô yêu mến, với không khi tự do thoải mái giữa bạn bè, đồng chí, đồng bào ruột thịt, tôi càng nhớ thương các cán bộ, chiến sĩ của tôi còn ở lại Tân Sơn Nhất. Vì nhiệm vụ không thể thiếu trong giai đoạn đấu tranh hiện nay, các đồng chí buộc phải sống, làm việc căng thẳng giữa vòng vây kẻ thù mà thời gian chưa biết đến bao giờ. Rồi đây, những gì sẽ đến với các đồng chí trong lúc kẻ thù của ta vô cùng ngoan cố và thâm độc? Tôi tự nhủ lòng, anh em vùng giải phóng phải làm hết sức mình, phải phối hợp chặt chẽ với các đồng chí trong ấy để giành thắng lợi cho cách mạng. Nhất định các đồng chí không bị cô lập. đã có chúng tôi. đã có nhân dân ta, ngay tại Sài Gòn. Một ngày nào đó. chúng ta sẽ lại gặp nhau đón mừng chiến tháng.

*

*          *

        Ngay sau khi ra tới Hà Nội, tôi đã được gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao để báo cáo về công việc của Ban Liên hợp quân sự 4 bên, những vấn đề đạt được và những vấn đề chưa đạt được, những gì tôi đã rút ra kết luận sau 60 ngày mặt giáp mặt với Mỹ - ngụy, những nhận định của tôi về tình hình miền Nam, v.v... Tôi đã được nghe các đồng chí nhận xét, đánh giá tốt về công tác của Ban Liên hợp quân sự 4 bên, về âm mưu của địch và những gì ta sẽ làm tiếp. Sau đó tôi tiến hành chuẩn bị và tham gia Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng bàn về tình hình cách mạng miền Nam và nhiệm vụ trong hai năm 1974 - 1975, trước khi trở lại chiến trường B2 theo đường mòn Hồ Chí Minh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #518 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2013, 02:17:36 am »



HIỆP ĐỊNH PA-RI, THIÊN SỬ VÀNG CỦA NGOẠI GIAO VIỆT NAM ĐI VÀO LỊCH SỬ DÂN TỘC VÀ THẾ GIỚI
     
HUỲNH VĂN TRÌNH        

        Nguyên Phó vụ trưởng Vụ I (Bắc Mỹ) Bộ Ngoại giao, thành viên Đoàn đàm phán bí mật Lê Đức Thọ - Kít-xinh-giơ về Hiệp định Pa-ri. Uỷ viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quản sự Chính phủ Việt Nam Dán chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên ở Trại Đa-vít. Vụ trướng - Cố vấn Bộ Ngoại giao.

        Cách đây đúng 40 năm, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973 - 27-1-2013).

        Ngày nay, điều ngày càng sáng tỏ là nói đến Hiệp định Pa-ri bao gồm: Hội nghị Pa-ri với hai diễn đàn công khai và bí mật tiến hành trong gần 5 năm (13-5-1968 - 27-1-1973) dẫn đến việc ký kết Hiệp định; các văn kiện chính thức đã được ký kết; và cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định tại chiến trường với diễn đàn Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên trong hơn 2 năm 3 tháng (28-1-1973 - 30-4-1975).

        Với cách nhìn tổng thể và hoàn chỉnh đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta coi Hiệp định là một thắng lợi lịch sử. một bước ngoặt rất quan trọng đối với hai vấn đề trọng đại là chiến tranh - hoà bình và đấu tranh giải phóng dân tộc: buộc Mỹ rút hết quân xâm lược ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh; hoàn thành nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút", mở ra cục diện chính trị và chiến trường thuận lợi để tiến lên "đánh cho ngụy nhào" trong Đại thắng mùa Xuân 1975; kết thúc hơn một thế kỷ đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta, đem lại độc lập, thống nhất cho Tố quốc. Đồng thời, chúng ta cũng coi cuộc đấu tranh ngoại giao đầy khó khăn, phức tạp, quyết liệt nhưng rất hào hùng kéo dài hơn 7 năm (từ khi bắt đầu Hội nghị Pa-ri đến khi kết thúc cuộc đấu tranh ngoại giao quân sự ở Sài Gòn) là thắng lợi vẻ vang nhất trong lịch sử ngoại giao của dân tộc ta, mốc son sáng chói của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam, biểu hiện rõ nét và thuyết phục nhất về vai trò và tầm quan trọng chiến lược của mặt trận ngoại giao trong việc phối hợp với mặt trận quân sự. chính trị để hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Nhìn từ nước ngoài, dư luận thế giới rộng rãi từ bất cứ nguồn nào cũng đều nhất trí đánh giá rằng, Hiệp định Pa-ri không những là thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, mà còn là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc, của lương tri loài người. khẳng định mạnh mẽ chân lý vĩ đại của thời đại là chính sách chiến tranh, áp bức bóc lột các dân tộc đã qua rồi. tương lai thuộc về các dân tộc. Di sản đó có sức sống bất tử trong trái tim nhân dân thế giới.

        Với vị trí quyết định như vậy trong quá trinh đấu tranh ngoại giao chống ngoại xâm giành độc lập. thống nhất Tổ quốc, với tầm tác động lớn lao đến các dân tộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội trên quốc tế. Hiệp định Pa-ri thực tế đã đi vào lịch sử nước ta và thế giới như một thiên sử vàng của nền ngoại giao Việt Nam thế kỷ XX.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười, 2013, 07:12:10 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #519 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2013, 05:34:32 am »


*

*         *

        Vì sao Hiệp định Pa-ri có vai trò và hiệu quá lớn như vậy? Đó là vì:

        Thứ nhất, trên cơ sở thắng lợi ở chiến trường. Hiệp định Pa-ri là văn bản pháp lý quốc tế lịch sử quyết định sự kết thúc của cuộc chiến tranh không tuyên bố lớn nhất thế giới kể từ sau Đại chiến thế giới thứ II, do một đế quốc hùng mạnh nhất về quân sự và kinh tế tiến hành chống nhân dân Việt Nam.

        Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ kéo dài 20 năm; trải qua 5 đời tổng thống, Ai-xen-hao mở đầu. Ken-nơ-đi, Giôn-xơn và Ních-xơn không ngừng leo thang các hình thái chiến tranh, và Pho kết thúc trong thất bại. Chúng đã đổ vào miền Nam hơn nửa triệu quân Mỹ với 3 triệu quân luân phiên tham chiến, và trả giá bằng 123 tỷ đô-la từ năm 1965 đến năm 1973. bằng máu của hơn 58.000 lính Mỹ chết, mất tích và hàng trăm nghìn binh sĩ khác bị thương tật. Chiến tranh với quy mô lớn và khốc liệt như vậy, tưởng chừng không có hồi kết, càng khó tưởng tượng được khả năng kết thúc bằng giải pháp thương lượng hoà bình bảo đảm thắng lợi thuộc về ta.
Vậy mà, Việt Nam đã tìm ra lòi giải đáp tối ưu cho bài toán hóc búa đó, biết đánh, biết đàm và biết thắng cả trong đánh và đàm bằng Hiệp định Pa-ri là điều kỳ diệu!

        Thứ hai, với Hiệp định Pa-ri, ta đã đạt được một giải pháp toàn bộ, hoàn hảo nhất từ trước đến nay về chính trị. quân sự và pháp lý, ghi nhận và bảo đảm thực hiện trọn vẹn các mục tiêu cao nhất của cách mạng giải phóng dân tộc: Mỹ phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thố của Việt Nam; trong thòi hạn 60 ngày kể từ ngày Hiệp định được ký kết, phải rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam; phải chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, trong khi lực lượng cách mạng Việt Nam ở nguyên trạng. Trên thực tế là Mỹ phải thừa nhận sự tồn tại của hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và công nhận quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và hai miền Nam - Bắc thoả thuận về việc thống nhất Việt Nam.

        Nếu địch chịu thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri thì điều đó sẽ mở ra khả năng đất nước được hoà bình, độc lập, thống nhất trong hoà hợp và hoà giải dân tộc. Nếu địch phá bỏ Hiệp định thì ta có đầy đủ cơ sở chínhtrị, pháp lý và lợi thế so sánh lực lượng để đánh thắng địch trên chiến trường, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

        Điều này hoàn toàn khác với kết thúc chiến tranh Triều Tiên: chỉ đạt được đình chỉ chiến sự, hai bên trở về vĩ tuyến 38 mà không có giải pháp chính trị, mặc dù có sự giúp đỡ to lớn của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc kháng Mỹ, viện Triều.

        Thứ ba, Hiệp định Pa-ri có tầm ý nghĩa quốc tế lớn lao. Lần đầu tiên trong lịch sử hơn 200 năm, nước Mỹ chịu thất bại trong một cuộc chiến tranh. Thất bại đó thấm sâu vào chính sách đối nội, đối ngoại của Mỹ. Hệ thông liên minh quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á (SEATO) tan rã hoàn toàn. Khả năng sen đầm quốc tế của chính nước Mỹ bị hạn chế rất nhiều, nên Mỹ trở nên rất sợ sa lầy vào một cuộc xung đột như ở Việt Nam khi can thiệp vào các cuộc khủng hoảng ở Trung Mỹ, không thể ngăn chặn phong trào cánh tả ở Ê-ti-ô-pi, Ăng-gô-la và sự sụp đổ của vương triều I-ran... Giấc mơ về "một thế kỷ Mỹ" tan thành mây khói.

        Âm mưu của Mỹ đòi giải pháp chung cho toàn Đông Dương thất bại, phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Lào và Căm-pu-chia, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của hai nước giành thắng lợi.

        Hiệp định Pa-ri đã khích lệ các dân tộc đấu tranh chơ độc lập và tự do, cố vũ các phong trào yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới.

        Thứ tư, Hiệp định Pa-ri là đỉnh cao của nghệ thuật vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong chiến lược đàm phán, hiếm thấy trong lịch sử ngoại giao thế giới, thể hiện trên các mặt sau đây:

        *   Một là, Đánh - đàm và thời cơ: Thắng lợi trên chiến trường quyết định thắng lợi trên bàn đàm phán. Thắng lợi trên bàn đàm phán hỗ trợ, cổ vũ, phát huy thắng lợi trên chiến trường. Thời cơ góp phần tăng khả năng thắng lợi của đánh - đàm lên gấp bội. Chúng ta đã triệt để tận dụng hai thời cơ lớn là bầu cử tổng thông Mỹ năm 1968 và 1972 để chủ động tấn công cả đánh và đàm nhằm liên kết chiến trường với hậu phương của Mỹ, gây sức ép tối đa với đối phương.

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM