Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:07:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315555 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #520 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2013, 03:35:16 am »

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân tháng 1 năm 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Kít-xinh-giơ kết luận "sự nỗ lực chiến tranh của Mỹ đã đến mức giới hạn". Từ đó mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm", buộc địch xuống thang chiến tranh. Đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Mỹ bắt đầu ngày 13 tháng 5 năm 1968, ta tập trung đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn, không điều kiện ném bom miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tham gia đàm phán về giải pháp toàn bộ cho cuộc chiến tranh. Ngày 31 tháng 10 năm 1968, Giôn-xơn buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc, chấp nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tham gia đàm phán 4 bên. Ngày 25 tháng 1 năm 1969, khai mạc Hội nghị Pa-ri 4 bên tại Kleber, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đưa ra lập trường 5 điểm, là tuyên bố chính trị đầu tiên mở đường cho một giải pháp đúng đắn.

        Cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 với quy mô rộng lớn, cường độ ác liệt, khiến Mỹ - ngụy một lần nữa bị bất ngờ, sụp đố từng mảng, lần đầu tiên ta giải phóng một tỉnh - Quảng Trị, đập tan ảo tưởng "Việt Nam hoá chiến tranh", tạo ra khả năng tiến tới một giải pháp thương lượng vào cuối năm 1972 để kết thúc chiến tranh. Ngày 8 tháng 10 năm 1972, ta đưa ra "Dự thảo Hiệp định vê chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam". Mỹ thừa nhận đây là văn kiện rất cơ bẳn, một sự đột phá khai thông bế tắc, mở bước ngoặt trong đàm phán. Trên cơ sở đó, hai bên bắt đầu thương lượng những nội dung thực chất, đến ngày 20 tháng 10 năm 1972 thì Hiệp định hoàn thành, dự định ký kết ngày 31 tháng 10 năm 1972. Ních-Xơn gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng "văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành".

        Vượt qua cuộc bầu cử tổng thống, Ních-Xơn giở trò lật lọng, Mỹ không ký Hiệp định. Ta công bố văn bản Hiệp định, lên án sự tráo trở của Mỹ. Mỹ tung chủ bài cuối cùng với cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng trong suốt 12 ngày đêm (18 - 29-12-1972). Quân dân ta đã chiến thắng oai hùng với trận "Điện Biên Phủ trên không", bắn rơi 81 máy bay các loại (trong đó có 34 chiếc B52), bắt sông gần 100 giặc lái, buộc Ních-xơn phải ra lệnh ngừng tấn công, Kít-xinh-giơ đề nghị nối lại đàm phán bí mật. Ngày 8 tháng 1 năm 1973, hai bên họp lại và ngày 13 tháng 1 năm 1973. Mỹ phải giữ nguyên văn bản đã thoả thuận ngày 20 tháng 10 năm 1972. Đến đây thì Hiệp định Pa-ri coi như thực sự hoàn thành, được ký tắt ngày 23 tháng 1 năm 1973 và ký chính thức ngày 27 tháng 1 năm 1973.

        Cục diện chiến trường đã quyết định cục diện đàm phán. Cục diện đàm phán đưa đến việc ký Hiệp định Pa-ri, tạo ra bước ngoặt rất quan trọng để tiếp tục tiến lên giành toàn thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        *   Hai là, Độc lập - Tự chủ trong đàm phán.

        Trước đây, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương là diễn đàn đa phương. Các nước lớn vì lợi ích chiến lược của mình đã thoả hiệp về một giải pháp bất lợi cho nước nhỏ. Hiệp định Giơ-ne-vơ không phản ánh đúng thắng lợi của ta trên chiến trường.

        Trong quá trình đàm phán Hiệp định Pa-ri, ta mở ra đốĩ thoại tay đôi với Mỹ, đó là một quyết sách chiến lược đúng đắn, thực hiện phương châm độc lập và tự chủ định đoạt mọi vấn đề về: khuôn khổ đàm phán chính trị và quân sự cũng như chủ trương, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, sách lược, bước đi, phương thức tiến hành, v.v... vì lợi ích của chính dân tộc mình, đất nước mình. Trên cơ sở đó, ta tranh thủ sự đồng tình của đồng minh, bạn bè. Ta không để cho nước thứ ba chi phối, can thiệp vào, bác bỏ trung gian, gạt các yếu tố tiêu cực áp đặt từ bên ngoài. Ta đứng vững ngay cả khi tình hình quốc tế xuất hiện diễn biến bất lợi.

        Năm 1972, Ních-Xơn đã cho Kít-xinh-giơ làm "ngoại giao con thoi" giữa Liên Xô và Trung Quốc để ép ta đi đến một giải pháp theo kiểu Mỹ nhưng thất bại. Khi Mỹ lật lọng không ký Hiệp định vào ngày 20 tháng 10 năm 1972, ta quyết định công bố văn bản Hiệp định Pa-ri vào ngày 26 tháng 10 năm 1972 thì ngày 27 tháng 10 năm 1972 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Cô-sư-ghin phát biểu: "Đêm 26 tháng 10 năm 1972, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô đã họp, nghiên cứu tuyên bố của Chính phủ Việt Nam và ủng hộ một trăm phần trăm". Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc phát biểu: "Việt Nam công bố văn bản Hiệp định Pa-ri là cần thiết, đòi Ních-xơn ký Hiệp định vào ngày 31 tháng 10 năm 1972 là đúng. Mỹ không thể trốn tránh trách nhiệm của mình".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #521 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2013, 02:33:52 am »


        * Ba là, "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" và giành thắng lợi từng bước, đánh đổ từng bộ phận.

        Ta kiên định về nguyên tắc, linh hoạt vê sách lược và đi từng bước vững chắc. Trong các nguyên tắc lớn về chính trị và quân sự, ta tập trung vào các vấn đề cốt lõi, then chốt, nhất là "Mỹ phải đơn phương rút hết quân khỏi miền Nam", "quân miền Bắc phải ở lại". Bác Hồ từng dạy: "Trong cuộc chiến tranh này, ta không phải tiêu diệt hết quân Mỹ để thắng mà phải đuổi hết quân Mỹ để thắng", "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Tống Bí thư Lê Duẩn chỉ đạo: "Điểm mấu chốt là quân Mỹ phải rút ra, còn quân ta ở lại". Trên nguyên tắc nền tảng đó, ta kiên quyết bác bỏ đòi hỏi của Mỹ về "rút quân tương hỗ", "hai bên cùng rút quân", "quân miền Bắc rút", "không ghi chính thức quân miền Bắc rút trong Hiệp định mà thoả thuận riêng", "thực tế đại bộ phận quân miền Bắc ở lại, một bộ phận rút"... Ta nhất quvết đạt cho bằng được mục tiêu "quân Mỹ rút hết, quân ta ở lại", một tấc không đi, một ly không rời, coi đâv là yếu tố sống còn quyết định chiến tranh hay hoà bình, ký hay không ký Hiệp định. Ta đã đạt được trọn vẹn mục tiêu này.

        Tuy nhiên, ta đã linh hoạt về sách lược, mềm dẻo xử lý những vấn đề cụ thế bằng nhiều phương án. Để mở rộng đường, ta tỏ thiện chí "không đánh vào quân Mỹ rút", "Mỹ bắt đầu và kết thúc rút quân cùng lúc với việc ta bắt đầu và kết thúc trả tù binh Mỹ"; từng bước nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam: từ bỏ chính quyền Sài Gòn - "lập chính phủ liên hợp ba thành phần", giảm dần thành "chính quyền Sài Gòn không có Thiệu - Kỳ - Khiêm", "Thiệu phải từ chức", rồi "lập cơ cấu chính quyền hội đồng quốc gia hoà hợp, hoà giải dân tộc", cuối cùng hạ xuống phương án thấp nhất có thể chấp nhận được là "cơ cấu hành chính hội đồng hoà hợp, hoà giải ba thành phần", với chức năng hạn chế là đôn đổc việc thi hành Hiệp định Pa-ri và tổ chức tổng tuyển cử.

        Về sự khôn khéo vận dụng sách lược này, đồng chí Lê Đức Thọ đã nói với Kít-xinh-giơ ngày 8 tháng 10 năm 1972: "Không thể để cho vấn đề chính trị miền Nam trở thành vấn đề khó khăn nhất kéo dài đàm phán, mà muốn nhanh chóng chấm dứt chiến tranh". Kít-xinh-giơ đã nói: "Các nhà đàm phán Việt Nam, khi họ đã úp thì úp rất chặt, khi họ muốn mở thì cũng mở rất khéo để giải quyết sớm".

        Đây là thắng lợi nổi bật nhất trong nội dung của Hiệp định Pa-ri, thực hiện lời dạy của Bác Hồ ngày 26 tháng 4 năm 1969: "Ta sẵn sàng cho Mỹ rút quân có thể diện, sẵn sàng rải thảm đỏ cho quân Mỹ rút về nước, hoan tống chúng một cách lịch sự".

        *   Bốn là, vận động đoàn kết quốc tế.

        Cuộc đàm phán Pa-ri đã gắn rất chặt sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và thời đại. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh làm mất lòng dân nhất trong lịch sử nước Mỹ. Tính chất chính nghĩa sáng ngời của cuộc kháng chiến của Việt Nam chống xâm lược Mỹ là nguồn gốc lay động tình cảm, lương tri loài người. Đi đôi với việc trực diện đấu tranh với Mỹ, các đoàn đàm phán ta tích cực hoạt động tuyên truyền báo chí và ngoại giao nhân dân, tranh thủ dư luận và quần chúng các nước, nhất là nhân dân Mỹ, góp phần hình thành một Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống Mỹ rộng lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc trên toàn cầu. Đã xuất hiện một "thế hệ Việt Nam" trên thế giới ủng hộ Việt Nam thời kỳ đó mà ngày nay nhiều người đang giữ cương vị lãnh đạo quốc gia, họ vẫn tự hào về điều ấy. Ngay trên đất Mỹ cũng có hàng ngàn cuộc biểu tình thu hút hàng vạn đến hàng triệu người dân Mỹ tham gia, đặc biệt là sinh viên và cựu chiến binh, tham gia chống chiến tranh, thậm chí có người đã tự thiêu. Trong cuộc tuần hành hơn 200.000 người cuối tháng 4 năm 1971 hướng về thủ đô Oa-sinh-tơn, diễn giả hùng hồn nhất là Giôn Ke-ri tuyên bố rằng: "Các cựu chiến binh Mỹ quyết tâm phá hủy vết tích cuối cùng của cuộc chiến tranh dã man này". Tháng 6 năm 1971, lãnh đạo Đảng Dân chủ lập nhóm ở Thượng viện và Hạ viện Mỹ đòi thông qua Nghị quyết rút hết quân trước CUỐI năm 1971; đầu năm 1973, họ lại biểu quyết cắt toàn bộ chi phí quân sự cho chiến tranh ở Việt Nam.

        Rõ ràng, Hiệp định Pa-ri đã một thời là trung tâm chú ý của bạn bè, dư luận. Sự lan toả tiếng nói từ đây đã làm sống động bản anh hùng ca về đạo lý, thế đứng và thắng lợi của đất nước Việt Nam chúng ta.

        *   Ngoài ra, còn những mặt khác của nghệ thuật ngoại giao chưa thể nói hết ở một bài viết ngắn, như: quan hệ giữa đàm phán công khai và đàm phán bí mật, giữa hai Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (một mà hai, hai mà một), việc đề cao vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, việc đàm và đánh thời kỳ thi hành Hiệp định.

        Thứ năm, đấu tranh thực hiện Hiệp định Pa-ri đạt hiệu quả cao nhất từ trước đến nay. So với các Hiệp định trước, Hiệp định Pa-ri quy định những điều khoản chính trị, pháp lý hoàn thiện hơn cả về mặt tổ chức thi hành Hiệp định. Trên cơ sở đó, ta đã đấu tranh giành được kết quả thực tiễn tốt nhất, đưa Hiệp định đi vào cuộc sống hiện thực trên chiến trường, có lợi cho sự đi lên của cách mạng miền Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #522 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2013, 01:57:21 am »

        Ngay từ khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực ngày 28 tháng 1 năm 1973, mặt trận ngoại giao chuyển từ Pa-ri về Sài Gòn với thành phần đàm phán mới là 4 đoàn: Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà; diễn đàn mới là các Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên; nhiệm vụ mới là "bảo đảm phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản của Hiệp định"; và địa bàn hoạt động mới là trên toàn miền Nam Việt Nam.

        Cuộc chiến đấu mới, đấu tranh chính trị và pháp lý công khai giữa sào huyệt kẻ thù, trong khi Mỹ vẫn còn 7 vạn quân chiếm đóng, ngụy vẫn còn hơn 1 triệu quân với lực lượng không quân đứng hàng thứ tư trên thê giới và có ý đồ chiến lược xé bỏ Hiệp định Pa-ri, quyết đánh bại Cộng sản bằng quân sự, là cả một câu chuyện dài "vào hang bắt cọp" ly kỳ, độc đáo, huyền thoạị về ngoại giao quân sự Việt Nam.
Điểm nổi bật là, đứng vững tại Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất, nơi là Tổng hành dinh của hai Đoàn đại biểu quân sự ta, trong tình thế "bốn mặt bao vây, trên không bịt kín" theo kiểu chiến thuật "bủa lưới phóng lao", án ngữ chặt các hướng, triệt để cô lập. Nhưng các sĩ quan, chiến sĩ ta vẫn kiên cường bám trụ suốt hơn 2 năm 3 tháng, tích cực tiến công địch trên tất cả các trận địa và đã giành thắng lợi to lớn trên 3 nhiệm vụ cơ bản nhất là:

        -   Kiên quyết đấu tranh thực hiện bằng được điều khoản cốt lõi của Hiệp định Pa-ri về chấm dứt sự dính líu quân sự của Mỹ; rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày. Lúc 10 giò sáng ngày 29 tháng 3 năm 1973, tại trụ sở bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ (MACV) - thường được gọi là Lầu Năm góc phương Đông mà thực chất là bộ chỉ huy tối cao của Mỹ ỗ miền Nam - Mỹ làm lễ cuốn cờ dưới sự chủ tọa của đại sứ Mỹ Mác-tin và tổng tư lệnh cuối cùng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, đại tướng Phơ-rê-đơ-rích Uây-en. Quốc kỳ Mỹ kéo lên tại đây từ tháng 2 năm 1962, sau 11 năm phải hạ xuống. Lúc 16 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 năm 1973, toán quân Mỹ cuôl cùng gồm toàn sĩ quan cao cấp, khoá đuôi là đại tá không quân Đa-vít Ô-đen, lên máy bay rời Tân Sơn Nhất trước sự kiểm soát của đại biểu hai Đoàn ta và Uỷ ban Quốc tế, đánh dấu ngày lịch sử trọng đại đất nước ta từ nay sạch bóng quân xâm lược. Hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ lúc này trên đường băng sân bay Tân Sơn Nhất hiện lên "dáng đứng tự hào, dáng đứng Việt Nam".

        -   Buộc địch phải trao trả hơn 31.500 nhân viên quân sự và dân sự của ta bị địch bắt, trong đó có nhiều chiến sĩ cách mạng cốt cán kiên cường sau này trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta, mà đặc biệt nhất là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Biết bao nhiêu cảnh cảm động khi đón các cán bộ, chiến sĩ ta bị tù đày trở về với hàng ngũ cách mạng!

        -   Đã góp phần đấu tranh trên mặt trận dư luận, vạch mặt Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định Pa-ri, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ ta, đặc biệt là khi ta phải sử dụng biện pháp quân sự để đánh trả, trừng trị những hành động vi phạm của địch và nổi dậy mùa Xuân 1975. Kết hợp với sức mạnh trên chiến trường, sức mạnh dư luận đã có sức thuyết phục to lớn. Sáng mùng 1 tháng 5 năm 1975. một phóng viên nước ngoài đã có sáng kiến trương lên xe một lá cờ lớn của Chính phủ Cách mạng lâm thòi Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với một tấm biển "Nhà báo" để xin vào Trại Đa-vít cho kỳ được, vừa để chúc mừng chúng ta thắng lợi, vừa đế nhờ ta phát đi bằng tê-lếch và vô tuyến điện tin sốt dẻo giải phóng Sài Gòn - một số nhà báo khác đã làm theo. Cảnh tượng nhộn nhịp tưng bừng thật khó quên!

        -   Điều huyền thoại là, khi địch gây lại chiến tranh, từ ngày 8 tháng 10 năm 1974, ta tuyên bố ngừng vô thời hạn các cuộc họp Liên hợp quân sự, nhưng vẫn tận dụng được lợi thế về chính trị, pháp lý, ngoại giao do Hiệp định Pa-ri đem lại để trụ lại vững vàng và hợp pháp tại Tân Sơn Nhất, tiếp tục đấu tranh pháp lý, chính trị, dư luận phối hợp chặt chẽ với chiến trường cho đến ngày toàn thắng. Một trong những lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng được treo lên đầu tiên ở Sài Gòn trên đỉnh cao tháp nước của Trại Đa-vít lúc 9 giờ 30 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Thậm chí, vào bước đường cùng và vực thẳm thất bại, ngày 19 tháng 4 năm 1975, Mỹ - ngụy còn tìm cách bấu víu lãnh đạo hai Đoàn ta để "xin ra Hà Nội tìm giải pháp qua thương lượng", ngày 29 tháng 4 năm 1975, phái đoàn của phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền xin gặp phía ta để "bàn việc bàn giao chính quyền", chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975 đoàn đại diện của tổng thống Dương Văn Minh xin gặp Trưởng đoàn ta để "hạn chế đổ máu, tổn hại vật chất khi ta đánh chiếm Sài Gòn!". Những hành động vô vọng này chỉ chứng tỏ một điều là hai Đoàn đại biểu quân sự ta vẫn giữ thế thắng cho đến phút cuối cùng thi hành Hiệp định Pa-ri.

        -   Với thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, ngày 20 tháng 4 năm 2012, hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thay mặt Đảng, Nhà nước công bố Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Trước đó, Bộ Ngoại giao đã tặng Kỷ niệm chương vì những đóng góp xuất sắc cho việc thi hành Hiệp định Pa-ri cho tất cả các thành viên của hai Đoàn. Đó thật là những phần thưởng cao quý và xứng đáng.

        Trên đây chỉ là tổng hợp một số yếu tố dẫn chứng cho sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại tạo ra thế "một cân nâng một tạ", làm cơ sở đưa nền ngoại giao Việt Nam trưởng thành vượt bậc, làm nên Hiệp định Pa-ri 1973 có ý nghĩa chính trị và ngoại giao to lớn mà lịch sử ngàn năm còn ghi nhớ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #523 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2013, 04:55:37 am »


*

*        *

        40 năm đã trôi qua, Hiệp định Pa-ri đã lùi sâu vào quá khứ, nhưng vẫn còn để lại những giá trị lịch sử và bài học vô giá cho các thế hệ hiện tại và tương lai, đặc biệt rất cần cho đấu tranh ngoại giao bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo của ta hiện nay.

        Kỷ niệm sự kiện lịch sử vẻ vang này, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ; đốì với công lao vĩ đại của đồng bào miền Nam, quân dân cả nước, kể cả kiều bào ta ở nước ngoài, nhất là kiều bào ta ở Pháp; đối với sự giúp đỡ, ủng hộ của bạn bè và dư luận quốc tế rộng rãi, nhất là với Đảng Cộng sản Pháp và hai Đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tế. Chúng ta tri ân và tôn vinh sự đóng góp của tất cả các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, thành viên hai Đoàn miền Bắc và miền Nam đã trực tiếp hay gián tiếp tham gia cuộc chiến đấu đặc biệt này, quyết liệt đấu trí, đấu lý, đấu pháp ngày đêm trong suốt gần 5 năm ở Pa-ri và hơn 2 năm 3 tháng ở Sài Gòn, mà tiêu biểu nhất là các đồng chí Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thuỷ, Nguyễn Cơ Thạch, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thượng tướng Lê Quang Hoà, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn. Chúng ta đặc biệt thương tiếc 9 liệt sĩ và vinh danh 25 đồng chí ta bị thương trong khi làm nhiệm vụ tại Ban Liên hợp quân sự.

        Với tư cách là một nhân chứng nhỏ của một sự kiện lớn, tôi rất vinh dự và tự hào được ghi danh trong đại gia đình thành viên Hiệp định Pa-ri, hoan nghênh việc tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định để phát huy truyền thông tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam, đem bản lĩnh chính trị, ý chí kiên cưòng, trí tuệ Việt Nam và tinh thần cách mạng tiến công vào thực hiện sự nghiệp ngoại giao ngày nay.
Tuy nhiên, trong lòng tôi vẫn còn một nỗi băn khoăn, day dứt là đối với một sự kiện trọng đại như vậy mà 4 thập kỷ qua ở ngay trên đất nước ta, không có dấu ấn vật thể nào lưu lại cho hậu thế. Trong khi đó ở Pa-ri, nhờ sự giúp đỡ của nước sở tại, đã có những tấm biển lưu niệm ở một số nơi mà hai Đoàn ta đã hoạt động như Kleber, Choisy-le-Roi, Gif sur Yvette, Verrierre de Buisson... Do vậy, tôi xin đề xuất sáng kiến là hãy lấy Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất - Sài Gòn làm nơi lưu niệm về Hiệp định Pa-ri ỏ Việt Nam. Lý do không chỉ là vì nơi đó là Tổng hành dinh của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ đạo hoạt động ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri trên toàn miền Nam, mà chính nơi đây là sản phẩm thiêng liêng của Hiệp định Pa-ri - mảnh đất được giải phóng đầu tiên ở Sài Gòn do có Hiệp định, cũng là nơi kết thúc Hiệp định Pa-ri trong ngày toàn thắng, nơi duy nhất ở Việt Nam mang đậm di tích vật thể gắn kết Hiệp định Pa-ri với cách mạng Việt Nam.

        Nếu có một khu di tích như vậy thì mọi tư liệu, hiện vật, kỷ vật quý báu về Hiệp định Pa-ri sẽ được tập trung trưng bày tại đây, thu hút các nhà nghiên cứu, khách du lịch và mọi thế hệ người dân trong nước, quốc tê đến thăm, suy ngẫm về một thời chiến tranh và hoà bình đã đi vào lịch sử nước ta và nhân loại.

        Mong rằng, ước vọng này sẽ được Đảng, Nhà nước xem xét, quyết định và Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, và Viện Sử học sẽ đi đầu trong việc đề xuất, biến ý tưởng này thành hiện thực để chúng ta có thêm một địa chỉ đỏ cho thế hệ trẻ học tập, noi theo như: Tượng đài Mẹ Suốt, Anh hùng Nguyễn Viết Xuân, Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy và nữ Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #524 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2013, 08:04:53 am »



NHỚ LẠI VÀ SUY NGẪM VỀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO QUÂN SỰ THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PA-RI VỀ VIỆT NAM
     
NGUYỄN VĂN KHẢ        

        Tại buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà (Đoàn A) và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (Đoàn B) ngày 20 tháng 4 năm 2012, đồng chí Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong bài phát biểu của mình đánh giá rằng: "Tuy thời gian hoạt động của hai Đoàn đại biểu quân sự không dài, nhưng đã khẳng định là một sự kiện có ý nghĩa chiến lược, là sách lược sáng suốt của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trên mặt trận ngoại giao quân sự".

        Là một nhân chứng lịch sử, tôi thấy rất vinh dự, tự hào và thật sự xúc động, như một cuốn phim được quay lại trong đầu óc làm cho tôi nhớ lại những gì đã diễn ra trong suốt 823 ngày đêm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch.

        Tôi suy nghĩ rất nhiều về thắng lợi trên mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Xin được chia sẻ những suy ngẫm của một người trong cuộc về những điều gây ấn tượng sâu sắc rút ra từ 823 ngày đêm của cuộc đấu tranh trực tiếp, công khai, hợp pháp giữa trung tâm đầu não của đối phương để buộc chúng phải thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        1. Suy ngẫm về quyết định chỉ đạo chiến lược sáng suốt của Đảng, mở ra mặt trận tiến công ngoại giao, kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, dẫn đến cục diện "vừa đánh, vừa đàm"; từ Hiệp định Pa-ri được ký kết mở ra mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự để thi hành những điều khoản về quân sự của Hiệp định.

        Khi chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ bị phá sản, Mỹ phải đưa quân đội viễn chinh Mỹ đông tới 50 vạn tên để tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ". Tập trung một lực lượng lớn quân Mỹ cùng quân chư hầu và quân ngụy Sài Gòn tiến hành hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967. Chúng kỳ vọng rất lớn và rất huênh hoang về hai cuộc phản công chiến lược này. Nhưng cả hai cuộc phản công chiến lược đó đã bị quân dân miền Nam làm cho phá sản thảm hại. Chiến tranh phá hoại ở miền Bắc cũng bị quân dân ta đánh bại một bước nghiêm trọng.

        Như vậy. giai đoạn đầu của chiến lược "chiến tranh cục bộ" đã bị thất bại rất nghiêm trọng.

        Trong giới cầm quyền Mỹ đã xuất hiện sự dao động. Đã có dấu hiệu của sự "tiến thoái lưỡng nan", cũng đã có biểu hiện của sự suy tính lại về chiến lược của cuộc chiến tranh Việt Nam. Và, cũng thời gian này, phong trào của nhân dân tiến bộ Mỹ chống chiến tranh xâm lược ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong toàn nước Mỹ. Xu hướng ôn hoà, mà ngưòi Mỹ gọi là "phái bồ câu", đang mở rộng hàng ngũ.

        Giữa lúc đó, tháng 1 năm 1967, Hội nghị Trung ương 3, khoá III, ra Nghị quyết mở mặt trận tấn công ngoại giao. Nghị quyết nêu rõ: "Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tổ quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay đối với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, cuộc đấu tranh ngoại giao giữ vai trò quan trọng, tích cực và chủ động của nó".

        Cũng cần phải nói rõ rằng, chúng ta đã có một thời gian khá dài trực tiếp đọ sức với Mỹ. Chúng ta hiểu rằng, đế quốc Mỹ - tên đế quốc đầu sỏ, luôn ỷ vào sức mạnh quân sự, rất tinh ranh và xảo quyệt trong đấu tranh ngoại giao, thì việc kéo Mỹ vào đàm phán với ta là điều không dễ dàng.

        Ta phải tính toán kỹ lưỡng, chọn đúng thời cơ mở đòn tấn công ngoại giao để kéo Mỹ, buộc Mỹ phải vào đàm phán với ta.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười, 2013, 04:10:07 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #525 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2013, 05:46:28 am »

        Sau khi có Nghị quyết của Trung ương, ngày 28 tháng 1 năm 1967, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: "Chỉ sau khi Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thì Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ mới có thể nói chuyện".

        Tuyên bố này có tác động rộng rãi, anh em bạn bè ủng hộ ta, dư luận đồng tình, đặc biệt là dư luận Mỹ đòi chính phủ Mỹ chấm dứt đánh phá miền Bắc để đi vào đàm phán.

        Tiếp theo đòn tấn công ngoại giao, ta mở cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Đây thực sự là một đòn sét đánh đốì với giới cầm quyền Mỹ. Cả nước Mỹ rung chuyển, choáng váng và dư luận thế giới chấn động. Nó làm cho toàn bộ tính toán chiến lược của giới cầm quyên Mỹ bị đảo lộn, ý chí xâm lược của chúng bị lung lay nghiêm trọng.

        Kết cục là, tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn phải tuyên bố ": Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ cộng hòa; và không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2.

        Từ đây mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm".

        Cuộc đàm phán Pa-ri kéo dài 4 năm, 8 tháng và 16 ngày, một cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử các cuộc đàm phán ở nước ta cũng như trên thế giới.

        Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, đến đàm phán với ta để tìm một lối thoát trong danh dự. Nhưng do bản chất ngoan cố của nó, nên tuy đến bàn đàm phán nhưng Mỹ vẫn đẩy chiến tranh lên cường độ rất cao ở cả hai miền Nam - Bắc và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia. Mỹ vẫn mưu toan thương lượng trên thế mạnh. Mỹ muốn cứu vãn thất bại nhưng lại ép ta phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ. Chúng đòi miền Bắc phải "giảm hoạt động quân sự ở miền Nam", "giảm thâm nhập vào miền Nam", tức là đòi ta không được chi viện cho quân dân miền Nam chống Mỹ - ngụy.

        Chúng ta rất vững vàng, rất mưu trí trong đấu tranh đàm phán với Mỹ. Chính đây là cuộc đọ sức ở đỉnh cao giữa trí tuệ Việt Nam và bộ óc của chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ.
Ta vừa chủ động tấn công giữ vững nguyên tắc bất di bất dịch là quân Mỹ đến xâm lược Việt Nam thì quân Mỹ phải rút khỏi Việt Nam. Nhưng ta vừa có sách lược mềm dẻo, biết giành thắng lợi từng bước vững chắc.

        Đến thời điểm mà Mỹ không thể không ký Hiệp định Pa-ri được nữa.

        Đúng với bản chất sen đầm quốc tế, chính quyền Mỹ vẫn còn đặt ra điều kiện là ta phải nhượng bộ theo yêu cầu của Mỹ, đồng thời vẫn đe dọa rằng nếu ta không chấp nhận điều kiện của Mỹ thì phải đương đầu với một chiến dịch ném bom ác liệt.

        Con bài B52 được đưa ra đánh Hà Nội và Hải Phòng cuối năm 1972. Mỹ hy vọng sẽ khuất phục được ta bằng cuộc tập kích chiến lược B52 này đây.

        Nhưng con bài B52 bị quân và dân ta làm cho thất bại thảm hại. Thê là đàm phán trên thê mạnh bị phá sản. Ý chí xâm lược bị sụp đổ.

        Mỹ không còn con bài nào nữa nhưng không thể không chấp nhận những yêu cầu hợp lý, mềm dẻo của ta. Đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #526 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2013, 02:26:55 am »

        Với Hiệp định Pa-ri, Mỹ phải cam kết chấm dứt chiến tranh xâm lược, Mỹ phải rút hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ phải cam kết không dính líu về quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

        Hiệp định Pa-ri có 9 chương, 23 điều khoản. Nội dung của Hiệp định nêu lên các loại điều khoản, như các điều khoản chung về chính trị, các điều khoản về công việc nội bộ miền Nam, các điều khoản về Cam-pu-chia và Lào, về quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ...

        Nhưng nội dung tập trung nhất là ở các điều khoản về quân sự: ngừng bắn, rút quân, tháo gỡ bom mìn, trao trả người bị bắt của các bên. Nội dung này được sắp đặt hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của ta, nó được nêu ra rất cụ thể, lại có 4 Nghị định thư với những quy định chi tiết để thi hành những điều khoản đó.

        Những nội dung về quân sự này là tập trung vào việc "đánh cho Mỹ cút" như Bác Hồ đã dạy.

        Còn vấn đề "đánh cho ngụy nhào" là bước sau nên trong Hiệp định này chỉ ghi khái quát nguyên tắc bảo đảm tự do, dân chủ, hoà hợp dân tộc, tố chức tống tuyển cử tự do. thành lập hội đồng hoà giải dân tộc gồm 3 thành phần. v.v...

        Vì vậy. các bên ký kết Hiệp định Pa-ri thống nhất cử đại diện của mình thành lập Ban Liên hợp quân sự 4 bên. Ban Liên hợp quân sự 2 bên để đảm bảo sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện những điều khoản về quân sự của Hiệp định.

        Đến đây, mặt trận dấu tranh ngỏại giao quân sự được hình thành để thực hiện các điều khoản quân sự, cũng là những điều khoản đầu tiên và quan trọng nhất của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Hai Đoàn đại biểu quân sự của ta được khẩn trương thành lập và được giao nhiệm vụ đi vào cuộc đấu tranh ngoại giao quân sự và được xác định đây là một lực lượng, một mũi nhọn đấu tranh trực tiếp, công khai và hợp pháp, góp phần quan trọng buộc đối phương phải thi hành những điều khoản quân sự của Hiệp định Pa-ri.

        2. Suy ngẫm về hai Đoàn đại biểu quân sự cách mạng đứng vững trên tư thế đội quăn chiến thắng, nắm vững pháp lý của Hiệp định Pa-ri, luôn giữ vững quyền chủ động tiến công, liên tục tiến công, đấu tranh thực hiện nhiệm vụ quan trọng nhất là thúc đẩy quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam đúng thời hạn 60 ngày.

        Nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong Thư gửi vào Nam cho đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam. đã khẳng định: "Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Pa-ri không phải ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ỏ lại...''.

        Điều này đã được ghi rõ ở những điều khoản quân sự là "trong thời hạn 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự... vũ khí, đạn được, công cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác nói ở Điều 3(a). "Việc hủy bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các nước ngoài khác sẽ hoàn thành trong thời hạn 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định này".

        Vậy, Mỹ có thi hành đúng Hiệp định Pa-ri về vấn đề rút quân này hay không? Đây là vấn đề lớn nhất, quan trọng nhất đặt ra cho hai Đoàn đại biểu quân sự ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #527 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2013, 02:12:20 am »

        Tại Hội nghị Pa-ri, đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận rút hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam là vấn đề rất gay go, quyết liệt và rất phức tạp. Mỹ đòi quân miền Bắc ở miền Nam cũng phải rút thì quân Mỹ mới rút. Phải có đi có lại.

        Kít-xinh-giơ đưa ra nhiều loại phương án về việc rút quân miền Bắc. Giới cầm quyền Mỹ đưa ra các thủ đoạn để buộc quân miền Bắc phải rút. Nhưng tất cả những thủ đoạn đó, tất cả các loại phương án đó đều bị thất bại.

        Cuối cùng, Mỹ mới chịu phải rút hoàn toàn quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày. Nguyễn Văn Thiệu thì hoàn toàn thất vọng về việc Mỹ phải rút quân còn quân miền Bắc vẫn ở lại miền Nam Việt Nam. Thiệu coi đây là bản án tử hình đối với chế độ Sài Gòn.

        Đảng ta đã chỉ rất rõ cho chúng tôi là hai Đoàn ta phải rất cảnh giác, phải rất tinh tường phát hiện những dấu hiệu dây dưa rút quân. Phải đấu tranh thật quyết liệt, thật mạnh mẽ khi phát hiện Mỹ có những hiện tượng vi phạm trong điều khoản rút quân. Đề phòng Mỹ có thế kiếm cớ hoặc tạo cớ để kéo dài việc rút quân hoặc để lại một bộ phận quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

        Về mặt pháp lý, còn phải nắm một điểm rất quan trọng khác là Điều 8(a): "Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong Điều 5". Đây là cái khoá khiến Mỹ khó có thể phá việc rút quân được.

        Nắm con bài tù binh Mỹ vừa là cái đòn xeo bụộc quân Mỹ phải rút, vừa là điều buộc Mỹ - ngụy phải trao trả cán bộ, chiến sĩ ta bị địch bắt trong chiến tranh.

        Là một nhiệm vụ quan trọng nhất nên hai Đoàn ta còn xác định đây là cuộc đấu trí, đấu lý, đấu pháp đòi hỏi phải rất chủ động đấu tranh, mưu trí và sáng tạo để buộc Mỹ phải thực hiện đúng quy định của Hiệp định Pa-ri.

        Ngay trong từng đợt trao trả, ta thông báo rõ số lượng, có danh sách đầy đủ, thời gian và địa điểm rõ ràng và yêu cầu đổi phương cũng phải thông báo rõ ràng rút bao nhiêu quân, trao trả bao nhiêu ngưòi, địa điểm và thòi gian cụ thế.

        Đợt trao trả và rút quân đầu tiên. Mỹ không thông báo về số lượng quân sẽ rút, ngày giờ và địa điểm rút quân. Bị các Trưởng đoàn ta lên án quyết liệt là Mỹ vi phạm Hiệp định Pa-ri về điểm không thông báo rút quân. Ta tuyên bố không công nhận việc rút quân mà không có sự theo dõi, kiểm tra của Ban Liên hợp quân sự và không có sự kiểm soát, giám sát của Uỷ ban Quốc tế.

        Hai ngày sau đó, Mỹ phải báo cáo rõ việc rút quân và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của sĩ quan hai Đoàn ta và Uỷ ban Quốc tế.

        Hai Đoàn ta rất tỉnh táo phát hiện những vi phạm xung quanh việc rút quân. Chúng ta truy hỏi Trưởng đoàn Mỹ về việc tại sao rút quân mà không mang theo vũ khí và đạn dược, truy hỏi vê việc Mỹ không phá hủy các căn cứ quân sự và về việc rút cố vấn quân sự, v.v...

        Trưỏng đoàn Mỹ thực sự lúng túng. Chúng ta yêu cầu phải trả lời rõ thì Trưởng đoàn Mỹ trả lời ngụy biện và tìm cách né tránh nên càng phơi bày sự cố ý vi phạm Hiệp định của phía Mỹ.

        Về phía ta, chúng ta đảm bảo cho quân Mỹ rút an toàn, trao trả tù binh Mỹ theo đúng kế hoạch đã định. Đặc biệt chúng ta thể hiện rõ chính sách nhân đạo, khoan hồng của dân tộc Việt Nam đối với tù binh Mỹ.

« Sửa lần cuối: 10 Tháng Mười, 2013, 10:07:52 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #528 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2013, 03:55:49 am »

        Trong vấn đề trao trả người của ta bị bắt, phía ngụy Sài Gòn giở nhiều thủ đoạn phá hoại rất thô bỉ, lố hịch. Ta đấu tranh buộc phía Mỹ phải can thiệp nên cuối cùng đối phương phải trao trả cho ta số đông cán bộ. chiến sĩ ta bị địch bắt và một số nhân viên dân sự là cán bộ chính trị và cơ sở cách mạng của ta.

        Ta sớm phát hiện Mỹ cỏ dấu hiệu cố ý dây dưa việc rút quân và có mưu đồ để lại một bộ phận quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta tính toán kỹ càng, đưa công hàm nói rõ sẽ trao trả những tù binh Mỹ đợt cuối cùng sớm hơn dự định.

        Đúng như dự kiến của ta, Mỹ thể hiện rõ ý đồ trì hoãn đợt rút quân cuối cùng với cái cớ là ta phải trao trả tù binh Mỹ bị bắt ở Lào. Phó Trưởng đoàn Mỹ Uých-khâm còn nói đây là chủ trương phát ra từ tổng thống Hoa Kỳ.

        Thấy đây là vấn đề nghiêm trọng, là sự phản trắc, lật lọng của phía Mỹ, chúng ta đã mở đợt tấn công dồn dập, mạnh mẽ và rất kiên quyết.

        Từ Trại Đa-vít, hai Đoàn ta đã vạch rõ đòi hỏi vô lý của Mỹ. Tại sao phía Mỹ lại đòi giải quyết một vấn đề không được quy định trong Hiệp định Pa-ri? Tại sao phía Mỹ lại đòi ta trao trả tù binh Mỹ do nước khác bắt và giam giữ? Và, tại sao phía Mỹ lại nêu một vấn đề không phải là nhiệm vụ của Ban Liên hợp quân sự 4 bên?

        Ta vận dụng tất cả các diễn đàn để đấu tranh với địch. Ta đưa tin ngav cho các nhà báo ở Sài Gòn, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng của Nhà nước ta để dư luận rộng rãi trên thế giới biết phía Mỹ phản trắc, lật lọng, phá hoại Hiệp định Pa-ri.

        Đặc biệt là ta đã kêu gọi và thông báo cho nhân dân Mỹ, cho những gia đình Mỹ có con em trong quân đội Mỹ sang chiến đấu ở Việt Nam và bị bắt làm tù binh nhưng chưa được trỏ về trong đợt trao trả cuối cùng này rằng, nguyên nhân của sự chậm trễ đó là do chính phủ Mỹ lật lọng trong vấn đề rút quân và trao trả. Các gia đình đó cứ điện thẳng đến Nhà trắng và Lầu Năm góc mà đòi con em họ về. Trách nhiệm hoàn toàn thuộc về hai nơi ấy.

        Đồng thời với việc đấu tranh quyết liệt đó, ta đã khôn khéo, mềm dẻo mở đường cho Mỹ và tạo điều kiện cho Mỹ để nhận được tù binh Mỹ bị bắt ở Lào.

        Không còn lấy cớ gì để dây dưa rút quân Mỹ nữa, phía Mỹ phải chấp nhận thực hiện theo kế hoạch của ta về rút quân Mỹ đợt cuối cùng, song song với đợt trao trả cuổi cùng vào ngày 27, 28 và 29 tháng 3 năm 1973. Trong bài phát biểu tại Lễ đón danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của hai Đoàn đại biểu quân sự ta, đồng chí Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định:

        "Quán triệt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh "dĩ bất biến, ứng vạn biến", trong suốt 823 ngày đêm hoạt động, hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tranh thủ dư luận và dựa vào pháp lý của Hiệp định Pa-ri để đấu tranh vạch trần âm mưu và lên án hành động phá hoại Hiệp định của Mỹ - ngụy trước cộng đồng quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh buộc những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 năm 1973, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm (từ năm 1858) trên đất nước thân yêu của chúng ta sạch bóng quân xâm lược.

        Đây là yếu tố quan trọng nhất làm chuyến biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, đề tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975".

        3. Suy ngẫm về hai Đoàn đại biểu quân sự ta nắm vững ưu thế về chính trị là chính nghĩa dân tộc, nắm vững ngọn cờ hoà bình, đề cao thiện chí thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, gắn bó chặt chẽ đấu tranh ngoại giao quân sự với cuộc chiến đấu trên chiến trường, lên án vạch mặt Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định Pa-ri, tiếp tục "Việt Nam hoá chiến tranh".

        Hiệp định Pa-ri xác định việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự là vững chắc và không thời hạn. Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc.
Đảng ta đánh giá rằng, ký Hiệp định Pa-ri là Mỹ phải chịu một bước lùi về chiến lược, còn ý định sâu xa và không thay đổi của Mỹ vẫn là tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh".

        Hai Đoàn đại biểu quân sự chúng tôi hiểu rõ rằng, đấu tranh buộc kẻ thù phải ngừng bắn khi mà mưu đồ của chúng vẫn là "Việt Nam hoá chiến tranh" thì chấm dứt chiến tranh và ngừng bắn là điều không thể thực hiện được. Đây sẽ là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và căng thắng nhất.

        Đúng như vậy!

        Ngay những ngày, những giờ đầu tiên sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực thì kẻ thù đã vi phạm ngừng bắn một cách trắng trợn và liên tiếp. Chúng mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta: Cửa Việt (Quảng Trị), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Tân Châu. Hồng Ngự, Tây Ninh... với quy mô cấp sư đoàn, trung đoàn. Chúng liên tiếp tổ chức các cuộc hành quân cảnh sát, đánh phá các cơ sở cách mạng của ta, đàn áp quần chúng nhân dân.

        Chúng lại lớn tiếng vu cáo ta đánh chúng ở Cửa Việt. Trưởng đoàn ta đã phản bác lại và nói rõ Cửa Việt là vùng giải phóng của cách mạng từ tháng 5 năm 1972 và chính đây là một vụ lấn chiếm trắng trợn của quân ngụy Sài Gòn. Chúng đã cho trên 200 xe tăng, xe bọc thép cùng cả lữ đoàn thủy quân lục chiến số 147 từ Mỹ Thuỷ, Gia Đẳng đánh phá cảng cửa Việt.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #529 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2013, 02:46:03 am »

        Trưởng đoàn ta đã làm cho đối phương thực sự choáng váng khi thông báo cho phía Mỹ - ngụy rằng, đội quân lấn chiếm đã bị tiêu diệt, để lại trên trận địa hơn 100 xe các loại và nhiều xác chết.

        Ngô Du, Trưởng đoàn ngụy Sài Gòn, cúi mặt xuống, cay đắng. Sau 4 ngày, Uỷ ban Quốc tế ra điều tra vụ Cửa Việt và kết luận là quân đội Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Đấu tranh về vấn đề vi phạm ngừng bắn của phía đối phương diễn ra rất quyết liệt, căng thẳng trên bàn hội nghị ở cả cấp Trưởng đoàn và cấp Tiểu ban.

        Chúng ta nêu ra hàng loạt vụ vi phạm của đối phương với chứng cứ cụ thể, rõ ràng về địa điểm, ngày giờ, lực lượng lấn chiếm, khiến Mỹ - ngụy phải bị động chống đỡ.

        Ngô Du chỉ trả lời theo một công thức là đã nhận bản phản kháng của quý vị, xin đệ trình lên chính phủ chúng tôi. út-uôt. Trưởng đoàn Mỹ, im lặng mãi không được đành phải chống đỡ, giả vờ làm ra vẻ khách quan "Nhiều vi phạm quá rồi! Chúng ta phải hợp tác để chấm dứt vi phạm! Phải tiên hành điều tra có kết quả, có hiệu lực!".

        Ngô Du có lần chối cãi rằng: các ngài bảo chúng tôi hành quân lấn chiếm, hành quân cảnh sát, thì đó là những cuộc hành quân thông thường, là quyền hợp pháp của quân đội chúng tôi. Đây là sự cãi chày, cãi cối đê lấp liếm hành động vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Đồng chí Phó Trưởng đoàn ta đọc cho Ngô Du nghe về những điều trong chương ngừng bắn quy định: "Bắt đầu từ khi ngừng bắn có hiệu lực, tất cả các lực lượng chiến đấu ở miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí của mình...

        •   Cấm các cuộc tuần tra vũ trang...;
        •   Cấm các cuộc hành quân chiến đấu...;
        •   Cấm tấn công vũ trang...;
        •   Cấm các hành động đối địch, khủng bố, trả thù...".

        Ngô Du nghe xong tỏ ra ngạc nhiên và lẩm bẩm: "Ủa! Tại sao lại có những điều như vậy. Thế thì khoá chân khoá tay và hoạt động thế nào được. Sao chính phủ chúng tôi lại có thể chấp nhận ký vào một bản Hiệp định thiệt thòi cho chúng tôi đến như vậy?".

        Còn Dư Quốc Đông thay Ngô Du làm Trưởng đoàn ngụy Sài Gòn có lần đã bộc lộ là: "Tôi không tán thành Hiệp định Pa-ri vì nó chỉ có lợi cho quý vị". Bị phía ta đập lại thẳng thừng, Đông hoảng hốt nói là: "Cá nhân tôi không tán thành, nhưng đã có Hiệp định rồi thì chúng tôi đâu có phá mà phải chấp hành".

        Dẫn giải những con số ra đây của Uỷ ban Điều tra tội ác chiến tranh của ta thì, từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến 28 tháng 3 năm 1973, Mỹ - ngụy đã vi phạm trên 7 vạn lần, trong đó có 19.770 cuộc hành quân lấn chiếm, 3.373 vụ ném bom, bắn phá bàng máy bay, 21.075 vụ hành quân cảnh sát bình định.

        Sau 60 ngày thi hành Hiệp định Pa-ri, Đảng và Nhà nước ta nhận định, đánh giá và càng thấy rõ kẻ thù hết sức phản động và ngoan cố. Chúng vi phạm ngừng bắn một cách nghiêm trọng, lấn chiếm một số vùng giải phóng của ta, đàn áp nhân dân ta rất tàn bạo. Quân Mỹ đã rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng lực lượng quân sự Mỹ vẫn còn có mặt trong khu vực Đông Bắc Thái Lan, đảo Gu-am, Phi-líp-pin và trên Hạm đội 7 gồm 56 tàu chiến, 1.020 máy bay và 15.200 quân Mỹ.

        Mỹ vẫn tiếp tục chi viện cho quân ngụy, xây dựng quân ngụy mạnh lên. Chúng ra sức thực hiện mục tiêu là loại Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra khỏi đời sống chính trị ở miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

        Đảng ta nhận định rằng, cuộc đấu tranh đề thực hiện Hiệp định Pa-ri là tiếp tục cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta nhằm đánh bại cuộc "chiến tranh Việt Nam hoá", đánh đổ chính quyền tay sai, giải phóng miền Nam, đi đến thống nhất đất nước.

        Khả năng địch thực hiện Hiệp định Pa-ri là rất ít. Mỹ - ngụy ngoan cố phá hoại Hiệp định, xung đột quân sự sẽ tăng cường độ, chiến tranh sẽ diễn ra trên quy mô ngày càng lớn.

        Chúng ta luôn giương cao ngọn cờ hoà bình, chính nghĩa, đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định để thắng địch. Nhưng nếu địch ngoan cố tiếp tục chiến tranh thì ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tố quốc.

        Đứng trước kẻ địch phá hoại ngừng bắn, ta phải chủ động tiến công tiêu diệt địch ở những vùng chúng lấn chiếm và giành quyền trừng trị chúng tại những nơi xuất phát.
Hiệp định Pa-ri là thắng lợi của ta. Kẻ thù phá hoại Hiệp định thì ta phải trừng trị chúng đế bảo vệ thắng lợi của Hiệp định.

        Trên chiến trường, quân ta đã chủ động phản công, tiến công đánh địch. Các cuộc lấn chiếm của địch bị chặn đứng, các cuộc hành quân bình định của địch bị thất bại. Chúng ta còn mở thêm được những địa bàn quan trọng. Toàn dân, toàn quân ta ở tiền tuyến, ở hậu phương đang rất khẩn trương tạo thế, tạo lực mạnh mẽ để chủ động đánh bại địch trong mọi tình huống.

        Tại cơ quan Liên hợp quân sự, hai Đoàn ta tổ chức nắm kịp thời những hành động phá hoại của địch trên ba vấn đề cấp bách là thực hiện ngừng bẳn, thả hết tù chính tri và thưc hiện tự do dân chủ. Đây là ba điểm mà kẻ thù đang phá hoại nghiêm trụng nhất và cùng là ba điểm yếu của địch mà chúng ta tập trung đấu tranh quyết liệt, vạch trần tội ác của chúng.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Mười, 2013, 02:57:41 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM