Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #550 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2013, 10:13:44 am » |
|
CHIẾC HUY HIỆU VÀ NGÀY 29 THÁNG 3 LỊCH SỬ
Một người Mỹ cao lớn chạy đến trước mặt một sĩ quan thuộc Đoàn A. Ông tự giới thiệu là kỹ sư xây dựng, làm việc cho một hãng thầu Mỹ ở Ba Ngòi (Khánh Hoà). Hôm nay, ông ta cũng về Mỹ.
- Ông cho tôi hỏi... (ngưòi kỹ sư Mỹ nói bằng tiếng Việt, thứ tiếng ông vừa mới học, phát âm chậm, vừa nói vừa nghĩ). Ồng biết ông Nguyễn Ái Quốc chứ?
- Biết chứ, ông Nguyễn Ái Quổc là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam mà.
Vừa nói, người sĩ quan ta vừa đưa tay lên ngực áo, gỡ tấm Huy hiệu Bác Hồ.
- Tôi tặng ông chiếc huy hiệu có chân dung ông Nguyễn Ai Quốc.
- Ôi... Tôi cảm ơn ông nhiều lắm - Người kỹ sư Mỹ nói và đưa cả hai bàn tay đỡ chiếc huy hiệu. Chắc không nói nổi cảm xúc, ông ta nói như nói với chính mình - Nguyễn Ái Quốc chiến đấu để cho nước Việt Nam không phải là của người Pháp, không phải của người Nhật, không phải của người Mỹ...
Thấy ông ta ngừng, chắc vì không tìm nổi từ tiếng Việt, người sĩ quan ta nói:
- Để cho nước Việt Nam là của người Việt Nam.
- Phải đấy... phải đấy - Người kỹ sư Mỹ vừa nói vừa gật đầu.
- Chắc ông biết ông Nguyễn Ái Quổc đã qua đời? Người sĩ quan ta hỏi.
- Biết... tôi biết - Người kỹ sư Mỹ nói: Hôm đó, tôi khóc dữ lắm. Những người Việt Nam làm việc cho Mỹ ở Ba Ngòi cũng khóc, cũng không đi làm.
Các nhà báo quốc tế không để lỡ dịp. Họ bỏ lễ đài, nơi tướng ngụy Cao Văn Viên đang uống rượu sâm banh để chia tay tướng Mỹ Uây-en, chạy sang tìm "Việt cộng". Một sĩ quan cấp trung tá bị quây kín, không kịp gọi sĩ quan phiên dịch tiếng Anh, liền nói to bằng tiếng Pháp.
"Thế là tôi bị vây. Nhưng không sao, đây là vòng vây hoà bình. Xin cảm ơn các bạn".
Vẫn bằng tiếng Pháp, ông nói về ngày 29 tháng 3 năm 1973, ngày tên lính xâm lược cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Như vậy là đã 115 năm nay, trên đất nước Việt Nam thân yêu sạch bóng quân xâm lược.
Một nhà báo Pháp chen được vào gần, đặt câu hỏi: "Thưa ông, ở nước tôi, người ta thường so sánh Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Hoàng đế Na-pô-lê-ông, ông nghĩ sao ạ?".
- Đại tướng của chúng tôi rất khiêm tôn - người sĩ quan ta trả lời. Ông không muốn so sánh như vậy - Theo ý riêng của tôi, Hoàng đế Na-pô-lê-ông là một nhà quân sự lỗi lạc. Nhưng cuối cùng ông bị bại trận, bị bắt và bị đày tới một hòn đảo xa xôi cho tới khi chết tại đó. Còn Đại tướng của chúng tôi, như ông biết đấy, từ lúc ra đời đến nay, chỉ có chiến thắng.
Đúng 16 giờ, phía Mỹ thông báo, chiếc máy bay C147 chở toán lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam sắp- cất cánh. Các sĩ quan ta được lệnh tập hợp, xếp hàng hai bên cửa máy bay làm nhiệm vụ theo dõi và kiểm tra việc rút quân. Ngưòi lính Mỹ lên máy bay cuối cùng là viên hạ sĩ Mắc Bi-en-ki. Anh ta được sĩ quan Trưởng đoàn của ta trao quà kỷ niệm: Một tấm mành trúc có hình Chùa Một Cột ở Thủ đô Hà Nội1.
TRƯỚC THỂM CHIẾN THẮNG
Từ tháng 3 năm 1975, sau khi quân đội ta giải phóng Tây Nguyên và một dải miền Trung từ Đà Nẵng đến Nha Trang, hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã nhìn rõ triển vọng giải phóng Sài Gòn. Cấp trên không phổ biến kỹ vì phải giữ bí mật. Nhưng mọi người đều hiểu, đều tin chắc như vậy.
Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Đảng ủy hai Đoàn họp, bàn kỹ khả năng và diễn biến tình hình, tính đến các tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Đảng ủy thấy phải chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu. Cụ thể, chuẩn bị đủ lương thực, thực phẩm, thuốc men, làm kế hoạch chiến đấu, vẽ sơ đồ hệ thống công sự, tổ chức, phân công lực lượng... Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh và Đảng ủy Miền có một kế hoạch bảo vệ hai Đoàn ở Trại Đa-vít. Khi ta bắt đầu Tổng tiến công vào Sài Gòn, sẽ có một cánh đặc công vào, đưa hai Đoàn đến nơi an toàn, chỉ để lại lực lượng vệ binh và một số cán bộ. Cấp trên yêu cầu hai Đoàn phải chuẩn bị sẵn sàng để có thể đi ngay.
Nhận kế hoạch, Đảng ủy lại phải họp để bàn. Đảng ủy thấy rút như thế không lợi, dễ bị động và tổn thất nếu gặp địch, trong lúc ta hoàn toàn có khả năng để chiến đấu tại chỗ. Đồng thời, cũng phải tính đến hai Đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tế... Họ đã hết lòng ủng hộ ta, nay ta không thể lặng lẽ rút đi. Cuộc họp của Đảng ủy đề nghị Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền cho phép hai Đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ.
Ngày 18 tháng 4 năm 1975, hai Đoàn ta bắt tay vào việc đào công sự và chuẩn bị chiến đấu. Có quá ít cuốc, xẻng. Phải dùng lưỡi lê, dao găm, cọc màn, vài thanh sắt được đập dẹt để đào. Phải dùng cả đĩa của nhà bếp để xúc đất. Phải làm ban đêm, tránh tiếng động để không bị lộ bí mật. Toàn doanh trại được chia thành nhiều khu vực, nối liền nhau bằng mạng hào giao thông ngầm hoặc có nắp dày. Có hai căn hầm chỉ huy chính thức và dự bị. Một mạng điện thoại nối sở chỉ huy với các khu vực, có hầm quân y khá rộng, đủ độ sâu, do hai bác sĩ phụ trách. Lương thực, thực phẩm, thuốc men đã dự phòng từ trước, nay còn đủ. Cả các thứ như đèn dầu hoả, nến, nước đun sôi đều được tính đến. Chỉ trong vòng 10 ngày, việc chuẩn bị đã xong xuôi.
Sau này có người nói rằng hai Đoàn ta đã gửi điện ra Quân ủy Trung ương, hứa sẽ "hy sinh vì đại cuộc". Điều đó không đúng. Trong cuộc họp Đảng ủy ngày 8 tháng 4 năm 1975, quả thật đã có vài người nói vậy. Đoàn ta đơn độc, quá ít vũ khí, khả năng chiến đấu không nhiều, nhưng vì thắng lợi cuối cùng ta sẵn sàng hy sinh. Nghĩ vậy không sai, thể hiện tinh thần cách mạng, lòng dũng cảm. Nhưng đó là ý nghĩ thụ động, không phù hợp với tình hình thực tế. Ta đang thắng, địch đang hoang mang, tan rã. Nếu cấp trên của chúng có ra lệnh tấn công Trại Đa-vít, chúng cũng không còn đủ can đảm để chấp hành. Đụng lực lượng ta, dù chỉ một đội quân nhỏ, ít vũ khí, chúng vẫn tan rã.
Mặc dầu đã đồng ý để hai Đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ định một cánh đặc công và một đại đội xe tăng, tìm cách đến Trại Đa-vít sớm nhất. Việc này đã được báo cho Đoàn. Nhưng có lẽ vì cuộc tiến công của quân ta vào Sài Gòn diễn ra quá nhanh và quá thuận lợi, cả đặc công và xe tăng đều không phải đến.
9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chỉ huy Đoàn ra lệnh đưa lá cờ giải phóng to nhất treo lên đỉnh tháp nước của Trại Đa-vít.
Tính ra, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã bám trụ, chiến đấu trong 2 năm, 3 tháng và 3 ngày.
------------------- 1. Thực ra tác giả (ông Nguyễn Sinh) nhầm và bộ phận tặng quà cũng nhầm! Phía Mỹ cũng biết vai trò của người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi VN nên cứ rền dứ mãi làm cho quân ta đôi lần cũng tưởng thật. Xin xem thêm bài tiếp sau: "Những ngày tháng 3 lịch sử" - Giangtvx
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Một, 2013, 02:03:41 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #551 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 01:30:29 pm » |
|
NHỮNG NGÀY THÁNG BA LỊCH SỬ HOÀNG KHÁNH
Đầu Xuân năm Quý Sửu và sôi động hơn cả là từ tháng 3 năm 1973 ở miền Nam Việt Nam, quân Mỹ và quân chư hầu lũ lượt rút về nước. Họ phải thực hiện Điều 5, Chương II Chấm dứt chiến sự và rút quân do Hiệp định Pa-ri quy định: " Trong vòng 60 ngày từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và các nước ngoài khác đã nói ở Điều 3(a). Cố vấn của các nước nói trên cho tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát củng sẽ rút trong thời hạn đó”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh của dân tộc ta bước sang giai đoạn mới, so sánh lực lượng trên chiến trường đã thay đổi cơ bản, thế và lực của cách mạng lớn mạnh rõ rệt bởi vì "quân Mỹ phái rút ra còn quân ta thì ở lại". Đây chính là điểm mấu chốt của Hiệp định Pa-ri. Kẻ thù biết rất rõ sự thật cay đắng và thất bại nhục nhã này, nhưng chúng không còn sự lựa chọn nào khác. Mọi cố gắng hòng gỡ gạc một phần thể diện cho bộ mặt xâm lược đều đã bất lực. Trước đó 8 năm, cũng vào tháng 3 năm 1965, những tên lính cổ da (lính thủy đánh bộ) Mỹ hùng hổ chui ra từ tàu há mồm, đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng của chúng ta. Chúng nghênh ngang sải những bước chân dài trên bờ cát trắng, giương cặp mắt lơ láo nhìn bầu trời xanh và mảnh đất xa lạ của xứ nhiệt đới này với lời lẽ huênh hoang "đây là cuộc dạo chơi" của lực lượng viễn chinh thiện chiến Mỹ chưa hề nếm mùi bại trận (!)   Tháng 3/1965 Bắt đầu "dạo chơi" từ Đà Nẵng Oái oăm thay, Nhà trắng và Lầu Năm góc đã dồn hàng triệu quân, chưa kể quân chư hầu và bè lũ tay sai, hàng chục nghìn máy bay, xe tăng, thiết giáp, pháo lớn, pháo nhỏ, hàng chục triệu tấn bom đạn, chất độc hoá học và các loại phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc đó hòng đè bẹp dân tộc ta, nhưng mọi mưu toan xảo quyệt, ác hiểm, tàn bạo nhất của chúng đều thất bại thảm hại. Chúng đã phải ký Hiệp định Pa-ri cũng chính là thừa nhận sự thật cay đắng của kẻ bại trận. Lại đúng vào tháng 3, sau 8 năm, những bước chân xâm lược kia đang dồn dịch để được chui vào tàu há mồm, những khuôn cửa máy bay vận tải quân sự khổng lồ hoặc máy bay phản lực dân dụng được huy động cho "chiến dịch" rút quân này. Nhìn những bộ mặt uể oải, xám ngoét, những cặp mắt lờ đờ nhợt nhạt, tóc tai bờm xờm... đang nhích dần, nhích dần về những khuôn cửa của phương tiện vận chuyển như đang chui vào đường hầm tăm tôi!... Tuy vậy, lối đi đó lại đưa họ về với sự sống, với quê hương, với gia đình nên không ai từ chối.   Tháng 3/1973 Đến lủi thủi điểm danh để "gohome" Đâu rồi những sắc lính kiêu hùng thủy quân lục chiến, lính dù với những cái tên rất kêu Kỵ binh bay, Anh cả đỏ, Tia chớp nhiệt đới, Ngựa trắng, Rồng đen... chỉ còn lại những khuôn mặt chán chường, ngán ngẩm đối nghịch với hôm nào chúng hùng hùng hổ hổ xông vào mảnh đất này. Họ là những vị khách không mời mà đến, nên khi ra về khăn gói lủi thủi thảm hại cũng không có gì đáng ngạc nhiên cả. Mảnh đất này, dân tộc này đã bao lần chứng kiến cảnh quân xâm lược phải lui binh nên chẳng ai lạ lẫm khi nhìn những đám quân thất trận đang lầm lũi đi những bước cuối cùng trên mảnh đất thân yêu của mình. Tại các buổi rút quân buồn bã ấy, người ta cũng nhìn thấy vài ba kẻ chóp bu trong đám tay sai ra tận chân cầu thang máy bay hay mép cầu tàu há mồm nói mấy lời tiễn biệt. Tâm trạng người đi và kẻ ở không khác gì nhau, bởi lẽ họ cùng chung số phận của đạo quân thất trận. Đối với phần lớn sĩ quan, binh lính của quân đội Sài Gòn, họ có thái độ khác hắn. Chiến tranh liên miên làm cho đất nước kiệt quệ, bao người thân dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến, cũng đều đổ xương máu cho cuộc chiến. Họ mong muốn có hoà bình thật sự, được trở về với ruộng vườn quê hương, về với mẹ già, vợ dại, con thơ đang ngày đêm trông ngóng, đợi chờ. Có người đã nói thẳng ra không chút ngại ngùng: "Chỉ có ông Thiệu không muốn đất nước hoà bình, thống nhất, ông còn mong quân Mỹ và quân đồng minh ở lại Việt Nam dài dài để giữ cho chiếc ghế tổng thống của ông ta khỏi bị lật đổ...".
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Một, 2013, 02:13:14 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #552 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 01:54:55 am » |
|
Gần lối vào cổng sân bay Tân Sơn Nhất có một vị trí rất đặc biệt, nhiều người gọi đó với cái tên mới nghe đã hiểu ngay công việc của nó là gì: "Lầu Năm góc phương Đông"; cũng có người gọi theo phiên âm Hán - Việt: "Tiểu Ngũ giác đài". Sau hàng chục năm, lá cờ sao và vạch nghễu nghện bay trên cột cờ cao hơn chục mét của bộ chỉ huy quân đội Mỹ (USARV) và bộ tư lệnh yểm trợ quân sự Mỹ (MACV) ở đây. Vậy mà, ngày 29 tháng 3 năm 1973 lá cờ tượng trưng cho bộ máy chiến tranh đồ sộ nhất "thế giới tự do" ấy đã phải kéo xuống. Nắng chiều vẫn còn gay gắt soi rõ những bộ mặt méo mó của các tướng lĩnh Mỹ - ngụy có mặt trong buổi lễ cuốn cờ này. Gió cứ lồng lên như muôn giật tung lá cờ của quân xâm lược. Viên tướng Mỹ vội vã chộp nhanh lấy lá cờ, gấp lại đặt vào chiếc túi da rồi bỏ vào một chiếc thùng.   Lầu Năm góc phương Đông, nơi Mỹ hạ và cuốn cờ về nước ngày 29/3/1973 Tướng bốn sao Uây-en không biết đã học tiếng Việt tự bao giờ mà cũng bập bẹ đọc bài diễn văn bằng thứ ngôn ngữ bản xứ dài đến ba, bốn phút. Có tiếng vỗ tay lẹt đẹt của Cao Văn Viên - đại tướng, tổng tham mưu trương ngụy và mấy quan chức Việt Nam cộng hoà. Các tướng, tá Mỹ biết được rằng bài diễn văn ấy đã kết thúc liền vỗ tay theo, âm thanh rời rạc chẳng ăn nhập vào đâu nên càng làm cho buổi lễ thêm phần tẻ nhạt. Đội kèn của không quân ngụy đến làm thay công việc cho quan thầy, thổi lên một bài nghe thật rầu rĩ. Viên tuyên uý Mỹ trong chiếc áo choàng đen tiến lên làm lễ, một tay làm dấu, một tay cầm cây thánh giá, miệng lầm rầm: "Xin đức Chúa lòng lành hãy tha thứ cho những sai lầm mà chúng con đã phạm phải trong cuộc chiến đầy cam go và đẫm máu này...". Ở các địa điểm rút quân của Mỹ và chư hầu còn có một sự kiện đặc biệt gây chú ý cho các phóng viên trong nước và ngoài nước của gần một trăm hãng thông tấn, truyền hình, báo, tạp chí lớn trên thế giới đang có mặt tại đó. Họ xúm vào phỏng vấn, ghi âm, chụp ảnh, quay phim những sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là thành viên của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Đoàn A) và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B) trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên tới các địa điếm này làm nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra việc rút quân Mỹ và quân chư hầu. Gặp nhau trong điều kiện rất ngặt nghèo về thời gian, lại phải làm việc khẩn trương tại các địa điểm rút quân của đốì phương, nhưng anh em ta đã luôn sẵn sàng, niềm nở trả lời từng câu hỏi của các phóng viên trong nước và ngoài nước. Mọi người đều vui vẻ, thoả mãn với những yêu cầu mà mình đặt ra. Nhiều hôm, dưới cái nóng gay gắt của ánh nắng mặt tròi nhưng ai nấy vẫn say sưa với công việc được giao. Tay cầm bản danh sách những tên xâm lược, miệng đọc to từng tên, cấp bậc, chức vụ, đơn vị... chờ có tiếng đáp lại và sau khi kiếm tra số người đúng với danh sách thì các sĩ quan của chúng ta mới đồng ý cho chuyến bay đó được rời khỏi sân bay. Thật vui và tự hào bởi chúng ta là những người chiến thắng! Mấy ngày đầu, Gin-bớt út-uốt - Thiếu tướng, Trưởng đoàn Mỹ, lẩn tránh không chịu thông báo lịch rút quân. Đồng chí Thiếu tướng Lê Quang Hoà - Trưởng đoàn A, và đồng chí Trung tướng Trần Văn Trà - Trưởng đoàn B, đã cực lực phản đối hành động thiếu thiện chí của Mỹ và tuyên bố phía Mỹ đã vi phạm Hiệp định Pa-ri. Út-uôt phân bua: "Chúng tôi nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định và đã rút ra khỏi miền Nam Việt Nam 8.000 quân Mỹ và đồng minh!". Đồng chí Trần Văn Trà phản bác: "Đến hôm nay, chúng tôi xác định chưa có một quân nhân Mỹ hoặc đồng minh nào rút khỏi miền Nam Việt Nam, vì không có sự theo dõi, kiểm tra của chúng tôi", út-uốt ngồi im, không nói gì. Trung tướng Dư Quốc Đống - Trưởng đoàn ngụy, đỡ đòn cho quan thầy: "Các ngài đâu cần kiểm tra, giám sát gì, chẳng qua chỉ muốn quay phim, chụp hình rồi tuyên bố Mỹ thua, Mỹ phải rút quân thôi!". Ut-uốt nghe Dư Quốc Đống nói vậy mà thêm sạm mặt lại. Thật ra, út-uốt hay Dư Quốc Đống có biện bạch cách này hay cách khác đều không nằm ngoài âm mưu chống phá Hiệp định Pa-ri mà Nhà trắng và Lầu Năm góc đã hoạch định từ trước. Ních-Xơn và Kít-xinh-giơ cùng bè lũ tay sai đều hy vọng vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" qua đó để "thay màu da của xác chết", với mục đích cuối cùng là giành lại những gì chúng không thực hiện được trước lúc ký Hiệp định. Với hàng triệu quân ngụy, hàng tỷ đô-la Mỹ, hàng chục nghìn máy bay, xe tăng, xe bọc thép, pháo binh và các loại vũ khí hiện đại, hàng triệu tấn bom đạn cùng các phương tiện kỹ thuật tôi tân phục vụ chiến tranh vẫn ùn ùn đổ vào miền Nam Việt Nam. Toàn bộ số vũ khí, quân trang, quân dụng sử dụng cho hơn nửa triệu quân Mỹ và chư hầu đều để lại cho quân ngụy vì khi rút quân, chúng ta kiểm tra cả quân Mỹ và chư hầu đều không đem theo vũ khí, quân trang, quân dụng về nước. Chúng đã trí trá trả lời: "Những loại vũ khí và các phương tiện chiến đấu của quân đội quá nặng nên chúng tôi đã chuyến về nước bằng tàu biển trước rồi!". Thực ra, các căn cứ quân sự của Mỹ và chư hầu vẫn để nguyên không phá hủy như Hiệp định Pa-ri đã quy định. Khi chúng ta nêu vấn đề này trong các cuộc họp và yêu cầu họ phá hủy thì được trả lời ngắn gọn: "Quân lực Việt Nam cộng hoà đã tiếp quản từ trước khi ký Hiệp định!". Thật là một trò gian lận trắng trợn! Chỉ mấy dẫn chứng trên đã đủ thấy Mỹ - ngụy có dã tâm phá hoại Hiệp định Pa-ri như thế nào và khi phải ký kết rồi thì chúng chống đổi, vi phạm rất nghiêm trọng. Chúng quyết xé bỏ Hiệp định ngay sau khi đạt được mục đích là lấy hết số tù binh và rút quân an toàn.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Một, 2013, 02:18:34 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #553 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2013, 02:17:22 am » |
|
Ngày 21 tháng 3 năm 1973, ta gửi công hàm cho Đoàn Mỹ thông báo sẽ trao trả tù binh đợt 4 và là đợt trao trả cuối cùng trong vài ngày tới, trước thời gian quy định với điều kiện phía Mỹ cũng rút hết quân trong cùng đợt này. Nửa đêm 21 tháng 3, Gin-bớt út-uôt gửi công hàm trả lòi hoàn toàn nhất trí sẽ tiến hành cùng một lúc vào cuối ngày 25 tháng 3 năm 1973 và rút hết 5.498 lính Mỹ.
Trưa ngày 22 tháng 3 năm 1973, chuẩn tướng Uých-khâm - Phó đoàn Mỹ, cử sĩ quan liên lạc đem bản bị vong lục khẩn đến Trại Đa-vít, với tuyên bố hủy bỏ công hàm trả lời ngày 21 tháng 3 do chính Ut-uốt ký. Họ yêu cầu ta trao trả số tù binh Mỹ bị bắt ở Lào. Đây là một đòi hỏi hết sức vô lý, sống sượng (!)
Lập tức, ta bác bỏ sự lật lọng trắng trợn của phía Mỹ.
Các nhà báo nước ngoài tới tấp gọi điện đến trụ sở Đoàn ta. Mọi người đều lên án trò bỉ ổi này của Mỹ. Phóng viên hãng Reuter (Anh quốc) nói: "Chúng tôi quá hiểu người Mỹ là như vậy đó!".
Ngày 24 tháng 3 năm 1973, ta tổ chức họp báo. Do có sự kiện Mỹ giở trò phá hoại Hiệp định, lật lọng không chịu rút hết quân Mỹ, nên các nhà báo nước ngoài đến Trại Đa-vít rất đông đế dự cuộc họp báo.
Ta tố cáo Mỹ - ngụy đã không thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong Hiệp định, lên án Mỹ tráo trở trong việc trao trả và rút quân. Các nhà báo nêu rất nhiều câu hỏi về việc Mỹ vớt mìn ở các cảng biển miền Bắc, Mỹ có tham gia tái thiết Việt Nam sau chiến tranh, giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam, việc trao trả tù binh của các bên, và nhất là sự thay đổi về lịch rút quân Mỹ...
Đồng chí Trần Văn Trà đã ký một bức công hàm khẩn gửi Ut-uốt, trong đó có viết: "Đoàn đại biêu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam yêu cầu phía Hoa Kỳ phải hoàn thành nghiêm chỉnh việc rút quân đúng thời hạn 60 ngày như Hiệp định và Nghị định thư đã quy định mà không có một ngoại lệ nào. Yêu cầu cụ thê của chúng tôi là:
a) Việc rút quân của Hoa Kỳ và các đồng minh khác của Hoa Kỳ đợt cuối cùng phải bắt đầu từ ngày 26 tháng 3 năm 1973 và hoàn thành vào ngày 28 tháng 3 năm 1973.
b) Số nhân viên quân sự Hoa Kỳ trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên (gồm có 825 người Mỹ không được út-uốt nói trong công hàm ngày 21 tháng 3 năm 1973) phải rút hết trước 8 giờ ngày 29 tháng 3 năm 1973. Sau thời hạn 60 ngày ở miền Nam Việt Nam chỉ còn một tổ Liên hợp quân sự 4 bên làm nhiệm vụ tim kiếm những người chết và mất tích. Chúng tôi không thể chấp nhận việc ,để lại 159 lính thủy đánh bộ canh gác Sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn vì điều đó là trái với Hiệp định Pa-ri và quy chế ngoại giao quốc tế". (Trích công hàm ngày 21 tháng 3 năm 1973 của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam).
Phía Mỹ - ngụy biết rõ không thể lay chuyển được ý chí của chúng ta, lời văn trong công hàm đầy sức mạnh của người chiến thắng đã buộc chúng phải thay đổi thái độ. 2 giò sáng ngày 25 tháng 3 năm 1973, cánh cổng của trụ sở hai Đoàn ta được mở, sĩ quan liên lạc Mỹ đến gõ cửa trao công hàm. Nội dung vẫn lập lờ ngoan cố, giọng điệu quẩn quanh "hoà bình trong danh dự...", nhưng cuối cùng vẫn phải xin rút hết quân (!)
Ngay trong ngày 27 tháng 3 năm 1973, Tổ kiểm tra của chúng ta đã làm việc liên tục suốt cả ngày với 11 chuyến bay của Mỹ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Chuyến thứ 11 còn phải vắt sang 1 giò sáng ngày hôm sau mới xong. Thiếu tá Đoàn Văn Diên, sĩ quan Đoàn B trong Tổ kiểm tra, vỗ vai một đại uý Sài Gòn rồi nói nhỏ nhẹ: "Quá khuya rồi nhưng chịu khó một chút. Nhìn cảnh người Mỹ rút quân thế này người Việt Nam mình ai cũng thấy vui, không ăn mà vẫn no...".
Viên đại uý hình như cũng thấy vui lây. Anh ta không nói gì thêm, ngước mắt nhìn lên bầu tròi đêm đầy sao lấp lánh. Tân Sơn Nhất đêm nay yên bình huyền diệu!
Phiên họp cuối cùng ngày 28 tháng 3 năm 1973 của Ban Liên hợp quân sự 4 bên không có vấn đề gì phải tranh cãi gay gắt. Vào phòng họp, các Đoàn cho phép phóng viên quay phim, chụp hình khoảng mươi phút, sau đó phiên họp mới bắt đầu. Bốn Đoàn thoả thuận về Tổ Liên hợp quân sự 4 bên tiếp tục giải quyết vấn đề mồ mả và người mất tích. Mỗi bên được cử 30 người và có thể làm việc ngay.
Đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn Mỹ thoả thuận sẽ rút hết trong các ngày 30 và 31 tháng 3 năm 1973.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #554 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 03:10:47 am » |
|
Phiên họp bế mạc, trước khi ra về, Ut-uôt chủ động đến gặp riêng đồng chí Lê Quang Hoà, vẻ trịnh trọng và nói: "Có việc đặc biệt cần phải trình bày với ngài. Tôi và vợ tôi xin ở lại đây thêm một đêm vì cả ngày 31 tháng 3 phải thu xếp cho những người Mỹ cuối cùng trở về nước. Sáng 1 tháng 4 năm 1973 chúng tôi sẽ sang Băng Cốc bằng máy bay U21.
Anh Hoà nói chậm rãi và rành rọt để mọi người ở gần đó có thể nghe được: "Tối nay, tôi sẽ báo cáo Hà Nội. Tôi nghĩ đây là việc có thể giải quyết được, ông ở lại một đêm, tôi cho rằng như vậy không có gì vi phạm. Nhưng chỉ được ở lại một đêm thôi nhé!".
Ut-uổt vui ra mặt, luôn mồm nói "Thank you!, Thank you!"...
Mọi ngưồi đứng gần đó nghe hai Trưởng đoàn trao đổi với nhau đều tỏ ra thích thú và nghĩ chuyện phải xin phép này của Út-uốt đâu có đơn giản, biết bao xương máu đồng chí, đồng bào yêu nước của chúng ta đã đổ xuống mới buộc kẻ xâm lược tỏ ra biết điều như vậy.
Ngày 29 tháng 3 năm 1973, hai Đoàn ta ở Trại Đa-vít nhận được thông báo rút quân cuối cùng của Mỹ. Thông báo có đoạn ghi: "Đại tướng F. Uây-en, tổng chỉ huy MACV, củng rút khỏi miền Nam Việt Nam ngày cuối cùng, cùng với 5 sĩ quan cao cấp tuỳ tùng của ông ta". Đúng là một văn kiện lịch sử của quân lực Hoa Kỳ sau mấy trăm năm chinh chiến.
Bỗng nhiên có khoảng năm, sáu chục người ào ào chạy vé hướng Tổ công tác của hai Đoàn ta. Họ mang vác lỉnh kỉnh máy quay phim, máy ảnh, máy ghi âm, trang phục nhiều màu sắc... Họ là những phóng viên mà phần đông là của các hãng thông tấn lớn như AFP, AP, UPI REUTER. SAPISA AGENCY, KYODO NEWS, các hãng vô tuyến truyền hình, các đài phát thanh và báo chí của nhiều nước. Khi họ tới gần, anh em ta mới nhận ra họ là những nhà báo quen biết qua những lần gặp gỡ tại nhiều buổi họp báo do hai Đoàn ta tổ chức hoặc các cuộc chiêu đãi trong trụ sở Trại Đa-vít, chiêu đãi của Uỷ ban Quốc tế ngoài Sài Gòn...
Một phóng viên người Thụy Điển của vô tuyến truyền hình SWEDE TIVI nói to: "Chào các ông! Chúng tôi tìm mọi cách để vào sân bay, thấy các ông là chúng tôi chạy đến đây ngay!".
Phê-lích Bô-lô, phóng viên hãng thông tấn AFP, cũng vừa tới. Anh ta thở hổn hển nhưng không giấu nổi niềm vui: "Nhận được tin có buổi lễ tiễn chân này, chúng tôi bàn nhau phải "lập mẹo du kích" là yêu cầu Hiệp hội ký giả nước ngoài xin Bộ Ngoại giao Sài Gòn cho phép vào dự lễ tiễn chân tướng Uây-en. Ngoài cổng kia kìa! Họ đang làm lễ đó. Nhưng nhìn thấy các ông từ phía xa, chẳng ai bảo ai chúng tôi bỏ dự lễ và chạy cả sang đây". Bô-lô chỉ tay về phía cổng, nơi có đám cò quạt loè loẹt và tỏ vẻ thích thú. Một nữ phóng viên còn nói: "Trên thế giới này không phải ai cũng có niềm tự hào như các ông đâu". Mặc cho quân cảnh, mật vụ hằn học, tức tối ở xung quanh...
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Mười Một, 2013, 03:16:58 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #555 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2013, 02:53:41 am » |
|
Buổi trưa, Tổ kiểm tra của hai Đoàn ta từ trụ sở ra sân bay Tân Sơn Nhất. Trời nắng gắt, gió lộng nên không khí bớt nóng. Trên sân bay, hai chiếc máy bay vận tải C130 nằm phủ phục dưới ánh mặt trời. Toàn thân máy bay sơn loang lố ngụy trang màu cỏ lẫn màu đất. Gần đó có hai chiếc vận tải DC9 của không quân Mỹ. Một chiếc máy bay dân dụng khổng lồ Boeing 747 đậu chắn phía trước mũi những chiếc vận tải quân sự kia. Như thế cũng có thể đoán được chiếc Boeing sẽ được ưu tiên chở số tướng tá Mỹ trong bộ chỉ huy USARV và MACV do Uây-en cầm đầu. Ngoài cổng sân bay, có một đám đông đang đứng lố nhố, cờ quạt loè loẹt. Họ đang làm lễ tiễn chân Uây-en và đám tuỳ tùng. Phía bên ấy chỉ còn đám tướng, tá Mỹ - ngụy, đứng trơ khấc giữa khoảng trông mênh mông của sân bay. Tâm trạng Uây-en và các tướng, tá Mỹ - ngụy chắc chắn không vui. Họ nghĩ gì khi thấy các phóng viên nước ngoài chạy ùa cả về phía Tổ kiểm soát cuộc rút quân cuối cùng này (!?)  Tư lệnh quân đội Mỹ cuối cùng tại Việt Nam đại tướng Frederick Carlton Weyand bay chuyến bay cuối cùng rời khỏi Việt Nam mang theo lá cờ Mỹ đã từng treo ở Lầu năm góc phương đông Có tiếng kèn bu-dích tấu lên một đoạn hành khúc Mỹ, đám người tản ra. Kẻ ở lại là Cao Văn Viên và đám tướng tá ngụy, kẻ ra đi có vóc dáng to lớn của người nước ngoài. Uây-en đi trong số này, vội vã bước về phía máy bay, lên cầu thang mà không hề ngoái đầu lại. Hình như gánh nặng thất bại của cuộc chiến chỉ đè nặng lên vai ông ta? Không, cả Nhà trắng và Lầu Năm góc cũng phải hứng chịu gánh nặng thất bại chứ đâu chỉ một mình viên đại tướng cuối cùng này! Đã có hàng chục viên tướng Mỹ bị ngã ngựa trên mảnh đất xa lạ này, giờ ông ta cũng là ngưòi tham gia vào số các bại tướng đó.  Rà soát, đối chiếu lại bản danh sách cuối cùng Những sĩ quan cách mạng tay cầm bản danh sách quân Mỹ rút chuyến này, đọc tên từng người, trong đó có tên của Uây-en và đám tuỳ tùng đi cùng. Cánh cửa máy bay đã khép lại. Chiếc máy bay từ từ ra đường băng và cất cánh. Bầu tròi bao la nuốt chửng chiếc Boeing 747 đem theo trong đó những tên xâm lược chóp bu với nỗi buồn của kẻ bại trận. Chiếc vận tải quân sự DC9 của bộ chỉ huy quân sự Mỹ số hiệu 40619 là chuyến cuối cùng. Một tốp lính Mỹ đi về phía chân cầu thang máy bay. Tổ sĩ quan kiểm soát của ta đã kiểm tra tên từng người và xác định có đại tá Nơ-doóc, trung uý Xơ-mít, hạ sĩ Ê-le-a-no và người cuối cùng là Mắc Bi-en-ki. Có lẽ Bi-en-ki là tên lính xâm lược cuối cùng phải ròi khỏi miền Nam. Cả tốp lính Mỹ đã vào hẳn trong khoang máy bay. Bỗng nhiên từ khoang cửa, đại tá Ô-đen lại xuất hiện. Ông ta lên máy bay từ trước, giò lại nhảy xuống đất, tay cầm chai rượu vang đã mở nút, ngửa cổ tu một hồi, rượu chảy tràn ra mép và xuống cổ áo. Viên đại tá cảnh sát ngụy tên là Ngưu ra tiễn Ô-đen đón lấy chai rượu và cũng uống ừng ực. Với màn chào tạm biệt độc nhất vô nhị này, đại tá ô-đen "tình cờ" trở thành tên lính Mỹ cuổì cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam theo các điều khoản của Hiệp định Pa-ri!  Những tên xâm lược cuối cùng  Đại tá ô-đen (người đứng giữa, tay cầm chai rượu vang)"tình cờ" trỏ thành người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam  Chụp ảnh lưu niệm với tổ bay cuối cùng Cửa máy bay đã đóng. Chiếc DC9 từ từ lăn bánh ra đường băng chính, tiếng động cơ gầm lên lấy đà và cất cánh. Bầu trời phía Đông đã ngả màu xam xám của buổi chiều. Con chim sắt bao phen gây tội ác cho đất nước Việt Nam đang rúc vào màn đêm đen tối khổng lồ. Đồng hồ của những sĩ quan cách mạng lúc này chỉ vào con số 4 giờ 30 phút chiều ngày 29 tháng 3 năm 1973. Thế là 115 năm, gót giày của các đạo quân xâm lược đã dẫm đạp lên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, giò chính thức cuốn xéo về nơi xuất phát. Những ngày tháng 3 lịch sử năm 1973 sẽ còn đọng lại mãi trong ký ức bao người bởi chiến công vĩ đại của dân tộc ta trước một kẻ thù hung bạo nhất thời đại - Đế quốc Mỹ. Tổ kiểm tra của hai Đoàn đại biểu quân sự ta trở về Trại Đa-vít sau một ngày làm việc căng thẳng, nhưng hết sức vui sướng và tràn đầy tự hào. Từ nay, đất nước ta sạch bóng quân xâm lược!
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười Một, 2013, 08:08:56 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #556 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2013, 12:57:28 pm » |
|
NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ LỊCH SỬ ĐÀO CHÍ CÔNG
Trong suốt 823 ngày đêm thực hiện nhiệm vụ đấu tranh ngoại giaơ quân sự. thi hành Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (Hiệp định Pa-ri). chung tôi có nhiều kỷ niệm không thể nào quên. Nhưng những kỷ niệm sâu sắc nhất là chúng tôi được trực tiếp chứng kiến những tên lính viễn chinh Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29 tháng 3 năm 1973 và sự tan rã hoàn toàn của ngụy quyền Sài Gòn cũng như sự tháo chạy trong hoảng loạn của những người Mỹ cuối cùng ra khỏi miền Nam trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Đặc biệt, chúng tôi được chứng kiến ngày 30 tháng 4, thắng lợi vĩ đại nhất của quân và dân ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là một trong những sự tích vĩ đại của nhân loại tiến bộ trong thế kỷ XX. Mười ngàv cuối tháng 4 năm 1975 là những ngày cực kỳ khó khăn, hoảng loạn đối với Mỹ - ngụy. Trong những ngày đó, phía Mỹ - đặc biệt là đại sứ Gra-ham "giải pháp chính trị" cho miền Nam, mà thực chất là để cứu vãn sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn trong cơn giãy chết, tạo điều kiện cho những người Mỹ cuối cùng tháo chạy khỏi miền Nam "trong trật tự" và bớt mất mặt trước dư luận. Đồng thời, chúng cũng giúp những tên tay sai thân Mỹ có thêm cơ hội để đi di tản và tránh xảy ra xung đột giữa người Mỹ và bọn tay sai của chúng. Kết cục là, chỉ trong mười ngày cuối tháng 4 năm 1975, Mỹ - ngụy đã đưa ra "trình diễn" trên sân khấu chính trị Sài Gòn tới ba chính phủ và ba đời tổng thống ngụy. Nhưng cuối cùng chúng vẫn chịu thất bại hoàn toàn. Ngược lại. trong những ngày này, vị thế của hai Đoàn ta đã trở thành một pháo đài vững chắc và kiên cường. Chúng ta đã thể hiện thế đứng hiên ngang của cách mạng giữa sào huyệt địch, khẳng định vị trí và vai trò của mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự - một sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta. Điểu quan trọng nhất là, chúng ta luôn ở thế thắng và luôn thể hiện được ý chí chiến đấu kiên định, vững vàng và không sợ hy sinh gian khổ, vì sự nghiệp cách mạng toàn thắng. Màn trình diễn trên sân khấu chính trị Sài Gòn bắt đầu từ ngày 21 tháng 4 năm 1975. Trước thất bại đau đớn và toàn diện trên chiến trường, đồng thời dưới sức ép từ phía Mỹ và ngay trong nội bộ ngụy quyền, Nguyễn Văn Thiệu đã buộc phải từ chức, bàn giao chính quyền cho "ông già" Trần Văn Hương. Phía Mỹ đã nhận ra rằng, đòi hỏi đầu tiên và cấp bách nhất của giải pháp chính trị là Thiệu phải từ chức! Chúng hy vọng rằng, chỉ có một chính quyền không có Thiệu mới có cơ may thương lượng trực tiếp với phía cách mạng, hòng cứu vãn tình thế trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Thông qua con đường ngoại giao cũng như các tướng lĩnh thân cận và báo giới, đại sứ Mỹ Mác-tin đã gây sức ép với Nguyễn Văn Thiệu bằng cách bắn tin: "Nếu ông Thiệu không chịu xuống thì các tướng lĩnh dưới quyền ông ta sẽ buộc ông làm điều này. Có một cách rút lui êm đẹp và trang trọng nhất là ông ta tự nguyện từ chức và nói cho đồng bào biết rằng ông ta phải làm như vậy để bảo vệ Hiến pháp và để chính quyền kế vị có thể dễ dàng điều đình với phía bên kia nhằm cứu vãn nước Việt Nam tự do...". Thật là cay đắng cho một tổng thống đồng minh thân cận bậc nhất của Hoa Kỳ trước bước đường cùng!
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười Một, 2013, 01:10:07 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #557 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2013, 08:11:49 am » |
|
Chiều tối ngày 21 tháng 4 năm 1975, với vẻ mặt mệt mỏi và ủ rũ, Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện trên đài truyền hình Sài Gòn, đúng vào lúc ở Sài Gòn đổ mưa to, bầu trời xám xịt. Nhiều cây cối bị gãy đổ, như sự trùng hợp đắng cay cho số phận của một đời tổng thống. Với thái độ hằn học và uất ức, Thiệu nói: ... " Tôi không đồng ý ký Hiệp định Pa-ri, nhưng phía Hoa Kỳ, ông Kít-xinh-giơ, bằng mọi cách đã ép tôi ký và hứa chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho chính phủ Việt Nam cộng hòa. Khi quân Mỹ rút đi, viện trợ lại bị cắt giảm, buộc tôi phải rút khỏi Tây Nguyên để bảo vệ các thành phố lớn và các khu vực trọng yếu khác...”. 21/4/1975: Diễn văn từ chức "... Hoa Kỳ đã yêu cầu chúng tôi thực hiện điều không thể làm được. Vì vậy, tôi đã bảo họ: Các ông đòi hỏi chúng tôi làm điều mà các ông đã thất bại với nửa triệu binh lính tinh nhuệ và sĩ quan có tài, với gần 300 tỷ đô-la chi phí trong 8 năm trời. Nếu tôi không nói rằng các ông đã bị Cộng sản Việt Nam đánh bại thì tôi cũng phải nói một cách khiêm tốn là các ông cũng không thể chiến thắng. Nhưng các ông đã tìm đường rút lui trong danh dự...".
"Hoa Kỳ đã để các chiến sĩ của chúng tôi chết thảm dưới làn mưa đạn của địch. Đó là một hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo...".
"Hoa Kỳ hãnh diện là một quốc gia bảo vệ đến cùng chính nghĩa và lý tưởng tự do trên thế giới và sẽ ăn mừng lễ độc lập thứ 200 vào năm tới. Tôi tự hỏi rằng lời nói của Hoa Kỳ có còn giá trị gì nữa không!? Những cam kết của Hoa Kỳ có còn hiệu lực nữa không?". Thiệu đã trút hết lên đồng minh Hoa Kỳ sự căm giận bị dồn nén bấy nay của một kẻ không còn gì để mất. Tuy nhiên, từ trong tâm địa của một tên Việt gian, chắc hẳn ông ta không thể không lo ngại thảm kịch đã từng diễn ra với anh em Ngô Đình Diệm hồi tháng 11 năm 1963, nếu như phía Mỹ bật đèn xanh.  23/4/1975: Đốỉ với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam coi như đã kết thúc! Sau khi Thiệu từ chức, ngày 23 tháng 4 năm 1975 tổng thống G. Pho đã tuyên bố trong buổi diễn thuyết tại Trưòng đại học Tulance: "Đốỉ với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam coi như đã kết thúc!". Lời tuyên bố đó đã được giới báo chí loan tin và bình luận rộng rãi như một sự kiện trọng đại và đáng nhớ. Mỹ đã quyết định tháo chạy khỏi miền Nam Việt Nam và chấm dứt sự dính líu của Mỹ với chính quyển tay sai Sài Gòn. Thực chất, đấy là một thất bại to lớn, thảm hại, cay đắng và đau đớn nhất trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ. Ngày 25 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải rời Sài Gòn đi Đài Bắc bằng chuyến bay do chính Mỹ tổ chức, để lại phía sau nỗi buồn, sự nuối tiếc và lòng uất ức của một tên tay sai bán nước. Thiệu cũng thừa hiểu rằng chính Trần Văn Hương và Dương Văn Minh đã gây sức ép để buộc Thiệu phải ra đi, vì ông ta là một cản trở lớn trong lúc này. Trần Văn Hương đã gấp rút thành lập chính phủ mới và đã mời tướng Dương Văn Minh làm thủ tướng. Dương Văn Minh đã từ chối "niềm vinh hạnh" này. Ông ta công khai phát biểu trên đài truyền hình Sài Gòn những điều mà chính ông ta đã nói với ông Hương: "Thầy đã có lời mời tôi làm thủ tướng trong chính phủ mới, nhưng trong tình hình hiện nay, mong thầy nhường tôi chức tổng thống để tôi điều hành...". Dương Văn Minh hy vọng rằng, với tiếng tăm là người có nhiều ảnh hưởng đến lực lượng thứ ba ở Sài Gòn lại được phía Mỹ bật đèn xanh, ông ta có thể đứng ra thương lượng với phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hòng cứu vãn tình thế hết sức nguy kịch và cấp bách lúc này của ngụy quyền Sài Gòn. Đối với Mỹ, sự lựa chọn con bài Dương Văn Minh lúc này là phù hợp hơn cả và ông Hương cũng nhận thấy điều đó, vì chính ông từng là phó tổng thống lên thay Nguyễn Văn Thiệu. Người ta cho rằng, ông Hương điều hành một chính phủ Thiệu mà không có Thiệu. Do đó, ông Hương cũng từng chịu nhiều sức ép. Chính điều đó buộc Mỹ phải thay ông Hương bằng một người khác có thể "dễ tiếp xúc" với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Vì vậy, ông Hương buộc phải từ chức và bàn giao chính quyền cho Dương Văn Minh, chỉ sau đúng một tuần lễ ngắn ngủi ngồi trên ghế tổng thống.  Tổng thống 1 tuần
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười Một, 2013, 09:02:10 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #558 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2013, 01:46:46 am » |
|
Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống từ chiều 28 tháng 4 năm 1975. Trong 2 ngày còn lại, ông ta không làm được gì ngoài lời tuyên bố trên đài truyền hình và phát thanh Sài Gòn: " Yêu cầu Hà Nội ngừng chiến và thương thuyết chính trị" và "yêu cầu tất cả người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ". Đồng thời, ông ta khích lệ binh sĩ Sài Gòn " giữ nguyên vi trí, chính phủ sẽ tìm cách thương lượng...". Cần nhắc lại rằng, ngày 26 tháng 4 năm 1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố đòi xoá bỏ hoàn toàn chính quyền và bộ máy chiến tranh kìm kẹp của ngụy quyền Sài Gòn. Đây thực chất là tối hậu thư của cách mạng buộc ngụy quyền Sài Gòn phải đầu hàng. Tuyên bố của Dương Văn Minh về "ngưng bắn" và "thương thuyết" lúc này càng chứng tỏ sự ngoan cố của những kẻ cùng đường, Trước cơn giãy chết, chúng còn cố tìm cách gỡ gạc phần nào sự thất bại thảm hại đang diễn ra quá nhanh chóng. Tình hình càng trở nên cấp bách, chỉ tính từng giờ, thậm chí từng phút, trong khi con bài Dương Văn Minh được đưa ra quá muộn mằn. Ông ta đã gấp rút tìm kiếm những nhân vật có tên tuổi thuộc lực lượng thứ ba ở Sài Gòn, để thành lập chính phủ và tìm mọi cách để tiếp xúc và thương lượng với ta. Lúc này, trụ sở của hai Đoàn đại biểu quân sự ta tại Trại Đa-vít đã trở thành địa chỉ duy nhất mà ông Minh nhắm tới để cầu cạnh, bấu víu. Ông ta hy vọng việc sử dụng những "con bài" thuộc lực lượng thứ ba sẽ được phía ta chấp nhận nói chuyện. Dù được Mỹ bật đèn xanh và thông qua mọi con đường để tác động đốỉ với ta, nhưng ông Minh đều thất bại, bởi lúc này ta chẳng còn gì để mà thương lượng với họ. Con đường duy nhất đối với chính quyền Sàỉ Gòn là hạ vũ khí và đầu hàng vô điều kiện. Sau khi ông Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống, khoảng 17 giò 30 phút, một tốp 5 chiếc máy bay A37 do Mỹ chế tạo bất ngờ ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất, nơi đậu của các máy bay vận tải quân sự C130 và các máy bay chiến đấu, ngay sát hàng rào của trụ sở hai Đoàn ta. Ngụy quyền Sài Gòn bị đòn đánh bất ngờ ngay tại sào huyệt, nơi mà chúng tập trung một lực lượng lớn máy bay quân sự từ các sân bay khác sơ tán về và được phòng thủ bằng lực lượng phòng không khá dày đặc. Chúng cho rằng, sân bay Tân Sơn Nhất là nơi an toàn nhất lúc này, vì ở đó có trụ sở của hai Đoàn ta.  Biên đội A37 đánh Tân Sơn Nhất (nhìn từ chiếc thứ 5) Cuộc ném bom bất ngờ của không quân ta đạt hiệu quả lớn về mặt phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh và tiêu hao sinh lực địch, với 24 máy bay bị phá hủy tại chỗ và hàng trăm sĩ quan, binh lính địch bị thương vong. Nhưng hiệu quả về tâm lý và chính trị còn lớn hơn rất nhiều. Các hãng thông tấn, báo chí ở Sài Gòn đồng loạt đưa tin và bình luận về trận đánh có một không hai này. Nó đã góp phần đẩy nhanh quá trình tan rã của ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn.  Tân Sơn Nhất sau trận bom
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Mười Một, 2013, 08:17:51 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #559 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2013, 05:42:20 am » |
|
*
* * Đêm 28 tháng 4 năm 1975, tất cả chúng tôi được lệnh xuống hầm, trừ các đồng chí cảnh vệ và các đồng chí khác có nhiệm vụ đặc biệt thì ở trên công sự nổi. Tất cả chúng tôi đã sẵn sàng tại vị trí chiến đấu của mình. Khoảng 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, pháo binh ta bắt đầu bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và các mục tiêu khác đã định ở Sài Gòn. Lúc đầu pháo ta bắn còn thưa, sau đó bắn cấp tập thành từng đợt. Nằm dưới hầm, chúng tôi nghe tiếng pháo nổ đinh tai ở sân bay, cũng như tiếng rít của các quả đạn pháo bay ngang qua khu vực Trại Đa-vít, có một số quả rơi sát và rơi cả vào trong khu vực của hai Đoàn ta. Điều này thật dễ hiểu, vì Trại Đa-vít nằm ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất, một trong 5 mục tiêu quan trọng nhất của chiến dịch Hồ Chí Minh; đó là, dinh tổng thống ngụy quyền, bộ tổng tham mưu ngụy, biệt khu thủ đô, tổng nha cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất. Trước đó, khi xây dựng hệ thống hầm hào chiến đấu trong Trại Đa-vít, chúng tôi đã được cấp trên quán triệt rằng, hầm của chúng tối phải kiên cố để có thể tránh được đạn pháo khoan sâu l,2m. Sau đợt pháo kích đầu tiên, Mỹ - ngụy hết sức hoang mang. Chúng biết rằng "giờ G" đã đến và tình hình không thể cứu vãn được nữa. Một số sĩ quan và nhân viên quân sự của Mỹ trong Tổ Liên hợp quân sự 4 bên chưa kịp di tản khỏi Sài Gòn. Chúng hốt hoảng gọi điện đến Văn phòng của Đoàn ta để cầu cạnh, đề phòng khi Quân giải phóng đánh vào Sài Gòn, chúng sẽ nhờ Đoàn ta chứng nhận họ là nhân viên của Tổ Liên hợp quân sự 4 bên để tránh bị liên lụy... Sáng 29 tháng 4, đại sứ Mỹ G. Mác-tin mấy lần thông qua Đoàn Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tế xin gặp Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nhưng phía ta không trả lời vì lúc này còn gì nữa để mà gặp (?!). Trưa 29 tháng 4, một đoàn bốn người của phía Sài Gòn đến Trại Đa-vít xin gặp Trưởng đoàn ta. Họ tự giới thiệu là " phái viên của phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền đến bàn việc bàn giao chính quyền". Đoàn này gồm các ông: - Nguyễn Văn Điệp, tổng trưởng tiếp thương - Trưởng đoàn. - Nguyễn Đình Đầu, phụ tá phó tổng thống đặc trách hoà đàm. - Tô Văn Cang, Chuyên viên văn phòng phó tổng thống. - Nguyễn Văn Hạnh, Chuyên viên văn phòng phó tổng thống.  Ông Nguyễn Đình Đầu (2005) - Cựu Phụ tá phó tổng thống phụ trách hòa đàm, 1 trong 4 người đến Đa-vit trưa 29-4 Xét thấy tình huống lúc này không nên tiếp bốn "vị khách", lãnh đạo Đoàn ta cử Đại uý Nguyễn Hữu Tài, Chính trị viên đơn vị vệ binh, ra gặp họ và chuyển lời của Thiếu tướng, Trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn rằng, Đoàn ta không được ủy quyền bàn bạc bất kỳ vấn đề nào liên quan đến đề nghị của họ. Mọi vấn đề đã được nói rõ trong tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Khoảng 14 giò 30 phút ngày 29 tháng 4, đoàn thứ hai gồm hai người là Giáp sư Châu Tam Luận và Linh mục Chân Tín đến Trại Đa-vít xin gặp Đoàn ta. Lãnh đạo đơn vị đã cử Trung tá Bùi Thiệp ra gặp hai người và trao cho họ bản tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và cũng trả lời như đã trả lời với đoạn buổi trưa. Hai ông đành nhận bản tuyên bố và ra về. Đến khoảng 17 giò 30 phút ngày 29 tháng 4, lại có đoàn thứ ba đến Trại Đa-vít, gồm ba người là Giáo sư Châu Tam Luân và Linh mục Chân Tín cùng Luật sư Trần Ngọc Liễng. Ba "vị khách" này tự giới thiệu họ thuộc thành phần thứ ba, được tổng thống Dương Văn Minh cử đến xin gặp Trưởng đoàn ta. Ba vị khẩn khoản mong được ta tiếp.  Ông Trần Ngọc Liễng
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Một, 2013, 09:56:20 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
|