Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:30:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chuyên đề về máy bay tiêm kích thế hệ 5 của Nga - ПАК ФА  (Đọc 360237 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #20 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2010, 10:24:30 am »

Với các tính năng AFAR N050 như đồng chí huyphongssi dẫn và PFAR Irbis E như các nguồn hiện hữu thì N050 của T-50 tiên tiến hơn, nhỏ gọn hơn, tiết kiệm hơn Irbis E của Su-35BM. Hơn nữa, T-50 còn có thêm ra-đa băng sóng đề xi mét bố trí ở cánh tà trước cho phép nó bắt bám bắn tốt các mục tiêu có RCS nhỏ ở ngoài tầm công bố của N050. Như thế chứng tỏ T-50 hơn Mig-31 ở khả năng săn bắn tàng hình trong vai trò tiêm kích đánh chặn đa nhiệm và hơn Su-27 ở khả năng trinh sát, dẫn bắn chủ động ở mọi hướng trong vai trò tiêm kích tiền tuyến.
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #21 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2010, 09:02:11 pm »

bác huyphong , Cái radar này tương tự radar của Mig-35, thảo nào cái mũi của Pak FA nó có vẻ nhỏ . Trong khi Mig-35 là máy bay tiêm kích đa năng hạng trung, còn Pak FA là máy bay tiêm kích đa năng hạng nặng( thay thế su-27). Thông số đưa ra cho thấy nó thậm chí không mạnh bằng radar Irbis-E của Su-35 . Như vậy làm sao đảm bảo cho việc chiếm ưu thế trên không trong tương lai. Như vậy làm sao thay thế được chức năng của Mig-31 và Su-27 . Hay ý đồ thiết kế của nó khác

Thủ trưởng Trâu đã giải thích rồi nên em chỉ làm rõ thêm một chút.

Các radar đối không mảng pha quét điện tử thường là loại thực hiện đồng thời nhiều chức năng từ quét, bắt bám, nhận diện và dẫn bắn (nhiều) mục tiêu nên mặt ăng ten gồm 2 loại mảng pha: 1 - các mảng pha chứa phần lớn các phần tử thu phát hoạt động trên băng sóng cm dùng vào chức năng quét, bắt bám và dẫn bắn mục tiêu; 2 - phần mảng pha chứa phần tử thu phát thiểu số hoạt động trên băng sóng dm dùng vào chức năng nhận diện mục tiêu và định vị (telemetry) hay cập nhật phần tử (data uplink) cho đạn tên lửa đối không đang trên đường tới mục tiêu. Việc bố trí 2 nhóm phần tử thu phát hoạt động tại hai băng sóng khác nhau trên cùng mặt ăng ten khiến diện tích hay đường kính ăng ten lớn hơn.

Từ radar Zaslon của Mig-31 tới Irbis của Su-35 hay Zhuk AE của Mig-35, các loại radar kiểu PFAR (ăng ten mảng pha quét điện tử thụ động) hay AFAR (ăng ten mảng pha quét điện tử chủ động) đều có thiết kế kiểu này. Tới T-50, do có thêm 2 ăng ten AFAR băng sóng dm ở cánh tà trước nên toàn bộ mặt ăng ten chính của radar N050 chỉ dùng để bố trí 1526 phần tử thu phát chủ động hoạt động trên băng sóng cm. Từ đó có thể thấy 2 vấn đề: (1) đường kính hay diện tích mặt ăng ten PFAR Irbis-E có lớn hơn, nhưng không đồng nghĩa với khẩu độ hiệu dụng của ăng ten lớn hơn so với radar N050, do đó tầm quét của N050 không hề nhỏ hơn cho dù đường kính ăng ten có nhỏ hơn so với Irbis-E; (2) Cùng đường kính ăng ten nhưng radar Zhuk AE của Mig-35 có khẩu độ hiệu dụng của ăng ten nhỏ hơn so với radar N050 do Zhuk AE có thiết kế 2 nhóm phần tử trên cùng mặt ăng ten.
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #22 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2010, 09:20:26 pm »

Nhân tiện các thủ trưởng hay anh nào biết tiếng Pháp dịch giúp huyphongssi bài báo do bạn kien2476 sưu tầm đăng bên ttvnol. Huyphongssi xin cảm ơn!

Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
nguyen
Thành viên
*
Bài viết: 61


« Trả lời #23 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2010, 11:29:35 pm »

Nhân tiện các thủ trưởng hay anh nào biết tiếng Pháp dịch giúp huyphongssi bài báo do bạn kien2476 sưu tầm đăng bên ttvnol. Huyphongssi xin cảm ơn!

Mình thử dịch thô, có thể chưa khớp lắm về thuật ngữ quân sự.

Kỹ thuật:
T-50 dưới các góc nhìn:
1. Rada Sh121 với một anten mũi quyét điện tử với các phần tử tích cực (AESA) băng sóng X và 4 bộ phận phân tán trên cánh.
2. Bộ phận quang điện tử gắn phía trước.
3. Bộ phận phát hiện sự phát xạ tia hồng ngoại
4. Phần phụ đuôi, giống kiểu Su30, thích hợp để lắp rada sau.
5. Tấm lái cánh đuôi đơn, xoay góc 20°
6. Cánh lái ngang đơn gia cường bởi titan
7. Pháo nòng đơn 30 mm
8. Phần dự trữ cho cần tiếp dầu có thể gập lại được
9. Phần di động ở đỉnh (?)
10. Cánh gập chứa anten bước sóng L của rada.
11. Cánh lái gồm 2 phần
12. Động cơ Saturn AL-41F1 với ống xả di động trong mặt phẳng đứng.
13. Khoang chứa 2 dù hãm.
14. 2 khoang vũ khí với cửa sập "tàng hình"
15. Nắp đậy dài 4.5 m thích hợp cho lưu giữ tên lửa không đối không, rada quyét 2 chiều hoặc hệ thống điện tử khác. Phần trước che giấu hệ thống cửa  sập ở đỉnh.
16. Điểm móc các vũ khí bên ngoài (2 cho mỗi cánh, và 1 cho mỗi động cơ).
17. Dự trữ cho thiết bị phóng các mồi giả quang học, điện từ.
18. Phần bao ngoài dẫn khí (hình chữ S đứng) bao bọc bộ phận phát nhiệt nóng của động cơ.

Một câu chuyện dài
Ngay sau khi đưa ra chương trình sản xuất hàng loạt các máy bay Mig29 và Su 27, người Nga đã nghĩ tới thế hệ tiếp theo của chúng. Bằng chứng là họ đã đưa ra 2 chương trình: máy bay đánh chặn tương lai hạng nặng MFI (MiG 1.42) và máy bay đánh chặn tương lai hạng nhẹ LFI. Cả hai chương trình này đều được đặt tin tưởng vào văn phòng nghiên cứu MiG và sự hoạt động của chúng được dự kiến vào khoảng năm 2000. Bên cạnh đó, Sukhoi kế thừa một công việc nhẹ hơn với chương trình phát triển máy bay thực nghiệm sử dụng cánh ngược được đặt tên là S-32. Nhưng sự sụp đổ của liên bang xô viết đã làm đảo lộn các kế hoạch này. Trên thực tế, chỉ có một mẫu MFI đã được phát triển và hoàn thành năm 1994. Được đặt tên là Mig 1.42, nó bay có 2 lần vào tháng 2 và tháng 4 năm 2000. Nhờ vào sự bán máy bay xuất khẩu và khả năng tài chính ít bị hạn chế, Sukhoi cũng đã thử nghiệm mẫu máy bay cánh ngược, được đổi tên là Su-37 rồi Su-47 Berkut. Chiếc máy bay này đã được tiến hành hàng trăm lần bay thử nghiệm. Cả hai chương trình này đã bị hủy trong khá nhiều năm, nhưng Sukhoi giữ lại Berkut mà họ sử dụng như là bệ thử bay.
Sự đổi mới các máy bay đánh chặn Nga được đưa ra lại vào 26/04/2002 khi mà Sukhoi được lựa chọn dẫn dắt chương trình PKA-FA. Vào tháng 10, 2004 họ đã đệ trình dự án nguyên thủy của T-50, dự án này được chấp thuận 2 tháng sau đó. Alexander Davidenko được chỉ định làm tổng công trình sư của máy bay mới này. Vào những ngày này, chương trình PKA-FA diễn ra theo đúng kế hoạch. Đầu năm 2006, chuyến bay đầu tiên được thông báo sẽ diễn ra vào cuối năm 2009. Theo Sukhoi, chương trình đã nhận được mọi sự đảm bảo tài chính của chính phủ: chương trình được tài trợ từ năm 2006 bởi bộ công nghiệp, bộ quốc phòng và vốn riêng của Sukhoi.

Phần text bên ngoài không có mầu vàng:
Với máy bay thử nghiệm này, có thể cho rằng nó là cái vỏ chứa các thiết bị điện tử, countermeasure, hay rada quyét 2 chiều. Dưới cánh dự trữ 6 móc treo vũ khí bên ngoài, trong đó 2  móc ở 2 cửa hút gió của động cơ.
Về điện tử hàng không: Sự phát triển T-50 tuân thủ kế hoạch dự kiến, chủ yếu là dựa trên các thành tựu điện tử hàng không đạt được với Su-35 (2 mẫu thử bay năm 2008) mà được chia sẻ cùng với chương trình PKA-FA đặc biệt là hệ thống liên lạc - dẫn đường.
Bù lại, T-50 sở hữu hệ thống rada hoàn toàn mới, đa nhiệm. Đặt tên là Sh-121, và được phát triển bởi Tikhomonov NIIP, hệ thống đã được giới thiệu lần đầu tại MAKS 2009. Nó bao gồm 5 anten quyét điện tử chủ động.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Hai, 2010, 12:01:01 am gửi bởi nguyen » Logged
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #24 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2010, 11:40:19 pm »

Vâng cảm ơn anh nguyen. Huyphongssi có thể hiểu các số thứ tự đấy trong tiếng Nga nhưng vẫn muốn biết người Pháp có phát hiện gì mới không thôi ạ.
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #25 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2010, 11:26:26 pm »

TỔNG QUAN TÍNH NĂNG KĨ CHIẾN THUẬT CỦA T-50 PAK FA
Thông số hệ thống khí tài đa nhiệm băng L

Trong đề án PAK FA T-50, PTK Sukhoi ứng dụng thiết kế hệ thống khí tài đa nhiệm kiểu ăng ten mảng pha quét điện tử chủ động băng sóng dm tích hợp trong cánh tà trước (Предкрылок) của máy bay nhằm thực hiện các chức năng sau:

- Máy hỏi-đáp trên máy bay (Самолетный радиолокационный запросчик-ответчик) dùng cho hệ thống nhận diện ta-địch (Система распознавания свой-чужой) kết hợp chức năng hệ thống radar giám sát thứ cấp;

- Hệ thống radar chuyên dùng trinh sát, bắt bám mục tiêu có diện tích phản xạ radar thấp, đồng thời dẫn bắn pha giữa cho đạn tên lửa đối không chống loại mục tiêu này;

- Hệ thống vô tuyến tầm phương thụ động dùng định vị tầm xa theo đài chuẩn vô tuyến dẫn đường mặt đất và đài dẫn đường trên không, nguồn phát chuẩn nhận dạng, dẫn đường và truyền dữ liệu trên không của đối phương;

- Hệ thống gây nhiễu tích cực công suất lớn, tầm xa và tầm phủ rộng nhằm phá nhiễu các hệ thống dẫn đường vệ tinh và trên không, hệ thống truyền dữ liệu nội bộ nhóm máy bay hay giữa hệ thống dẫn bắn trên máy bay và đạn tên lửa của đối phương tại không phận khu chiến.

Mẫu hệ thống khí tài đa nhiệm kiểu ăng ten mảng pha quét điện tử chủ động băng sóng dm tích hợp trong cánh tà trước được trưng bày tại MAKS2009 (ảnh NIIP MAKS2009)

Theo thiết kế mẫu thử nghiệm hiện tại thì T-50 có 2 hệ thống khí tài đa nhiệm kiểu ăng ten mảng pha quét điện tử chủ động băng sóng dm tích hợp trong cánh tà trước của 2 cánh.

Ở chế độ radar chuyên dùng trinh sát, bắt bám và dẫn bắn pha giữa mục tiêu có diện tích phản xạ radar thấp, mỗi hệ thống này có các thông số sau:

Kiểu ăng ten (Тип антенны): ăng ten mảng pha chủ động (АФАР - Активная Фазированная Антенная Решётка)
Băng sóng (Длина волны): 24 cm
Tầm phát hiện mục tiêu bay hướng vào có diện tích phản xạ radar bằng 1 m²  (Дальность обнаружения, ЭПР=1 кв.м, ППС): 110 km
Vùng quét theo góc phương vị (Зона сопровождения, азимут): ±60 độ
Vùng quét theo góc góc tà (Зона сопровождения, угол места): +5 độ / -15 độ
Công suất phát trung bình (Средняя мощность передатчика): 2.400 W
Số lượng phần tử thu phát của ăng ten (Количество приёмо-передающих модулей ППМ): 12 phần tử

Các chế độ hoạt động khác của hệ thống này như máy hỏi nhận diện, radar giám sát thứ cấp, vô tuyến tầm phương và định vị vô tuyến, gây nhiễu cục bộ hiện vẫn chưa có số liệu công bố chính thức.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Hai, 2010, 11:33:05 pm gửi bởi huyphongssi » Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
tankt90s
Thành viên
*
Bài viết: 106



« Trả lời #26 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2010, 05:25:51 pm »

Ghê thật,sài tàng hình plasma luôn đó.không hiểu cái máy ion đó làm tàng hình máy bay được thì chắc cũng làm tàng hình xe tăng,tàu chiến luôn phải không mấy bác.
theo tờ :" khoahoc.com.vn" nói:
Công nghệ tàng hình Plasma mới

Công nghệ tàng hình truyền thống mà nhiều quốc gia đang sử dụng, điển hình nhất là các máy bay chiến đấu thế hệ mới nhất như F-117, B-2, F-22. Đó là sử dụng các kết cấu góc cạnh, dùng các vật liệu hấp thụ sóng radar, giảm bức xạ nhiệt hồng ngoại do động cơ thải ra…

Tuy nhiên, đối với Sukhoi PAK FA T-50, người Nga lại phát triển công nghệ hoàn toàn mới mẻ đó chính là tàng hình Plasma hay còn được biết đến với tên “công nghệ tàng hình chủ động”.

Tàng hình Plasma là đưa ra qui trình sử dụng khí ion hóa để giảm tiết diện phản xạ radar (Radar cross section – RCS). Khí ion hóa sẽ bao toàn bộ máy bay và hấp thụ năng lượng điện từ của sóng radar, qua đó gây khó khăn cho việc phát hiện máy bay từ hệ thống phòng không đối phương.


Tháng 1/1999, cơ quan thông tấn ITAR – TASS của Nga đã công bố cuộc phỏng vấn tiến sĩ Anatoliy Koroteyev (giám đốc trung tâm nghiên cứu Keldysh), tổ chức này đang nghiên cứu thiết bị tàng hình Plasma. Đây cũng là cơ quan nghiên cứu đầu tiên của Nga tiến hành phát triển công nghệ tàng hình này.

Theo đó, cơ quan này đã chế tạo máy phát Plasma nặng khoảng 100kg, do đó nó hoàn toàn có thể mang trên các máy bay chiến thuật chiến đấu. Năm 2002, họ đã tiến hành thử nghiệm thiết bị Plasma này trên một chiếc Su-27, kết quả tiết diện phản xạ radar đã giảm xuống 100 lần. Điều này phù hợp với điều kiện tài chính của nước Nga hiện tại.

Nếu công nghệ này được áp dụng, chắc chắn nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bởi nếu sử dụng vật liệu hấp thụ radar hay một số công nghệ truyền thống khác thì chi phí sẽ rất cao (ví dụ F-22 trị giá 120 triệu USD hay B-2 trị giá hơn 2 tỉ USD).

Khi đi vào hoạt động, Sukhoi PAK FA T-50 sẽ trở thành chiến đấu cơ chủ lực của không quân Nga, đối trọng của “Chim ăn thịt” F-22 của Mỹ.

Dự kiến nếu không có gì thay đổi, Sukhoi PAK FA T-50 sẽ đi vào hoạt động năm 2015.

Nếu đem cái máy đó lắp cho đám su nhà mình thì hay quá Smiley
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Hai, 2010, 10:39:45 am gửi bởi tankt90s » Logged
tankt90s
Thành viên
*
Bài viết: 106



« Trả lời #27 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2010, 10:24:25 am »

Một số tài liệu em tìm được về ứng dụng tàng hình này,


+Được phát ra xung quanh kết cấu của máy bay đang bay, những plasma hình thành nên một lớp vật chất dày từ 2 - 5 cm tách hẳn máy bay ra khỏi không khí. Trong lớp plasma này không khí đậm đặc sẽ bị loãng khiến cho lực cản khí động học bị triệt tiêu dần. Để tạo ra plasma trên một cánh máy bay, người ta sẽ cho quét một chất kim loại đặc biệt dọc theo chiều dài phần trên cánh nối liền với cực âm của một máy phát. Một lớp quét tương tự cũng được thực hiện dọc theo chiều dài phần dưới cánh nối liền với cực dương của máy phát được gắn ở phần sau cánh hoặc trên các tấm cản không khí phía sau cánh. Và

plasma sẽ được tạo ra khi máy phát hoạt động rồi hình thành một lớp không gian trung tính màu xanh tím quanh cánh máy bay. Lúc đó không khí sẽ mất dần lực cản vì không còn tác động trực tiếp lên cánh máy bay nữa khiến máy bay lao về phía trước nhanh hơn. Trong một cuộc thử nghiệm được thực hiện vào tháng 6/2004 tại Trung tâm Langley của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), các nhà khí động học của cơ quan này ghi nhận đã có một sự tiết giảm đáng kể lực cản của không khí khi cho một chiếc xe siêu thanh có mang thiết bị phát plasma hoạt động ở tốc độ Mach 6 (gấp 6 lần tốc độ âm thanh).

Đây chỉ là việc ứng dụng một công trình nghiên cứu của giáo sư người Nga Anatoli Klimov thuộc Viện Kỹ thuật vô tuyến Moskva và của một nhóm nghiên cứu người Nga thuộc Viện Kỹ thuật vô tuyến Saint Petersbourg vào thập niên 80 của thế kỷ trước. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, các nhà khoa học Liên Xô cũ đã tích cực nghiên cứu về ứng dụng của plasma trong công nghệ hàng không nhằm giúp cho cường quốc này có những ưu thế về hàng không đối với các quốc gia phương Tây. Vào năm 1996, đến lượt một nhà khoa học chuyên nghiên cứu về plasma khác của Anh là giáo sư Terry Cain cũng được phái đến Nga làm việc. Tại đây, giáo sư Terry Cain đã có dịp làm việc với nhóm của giáo sư Anatoli Klimov trong thử nghiệm tác dụng của plasma đối với lực phóng của một tên lửa hành trình chiến lược bay với tốc độ siêu thanh. Kết quả được ghi nhận là lực cản khí động học đã giảm đến 12%.

Từ thử nghiệm này mà phương Tây nhận định là người Nga đã biết rất nhiều về plasma. Vì vậy, các công trình nghiên cứu về triệt tiêu lực cản khí động học nhờ vào ứng dụng của plasma của Viện Đại học Warwick ở Anh đã phải nhờ đến sự cộng tác và giúp đỡ của giáo sư Serguei Nazarenko làm việc tại Viện Kỹ thuật vô tuyến Moskva. Nước Pháp cũng vào cuộc cho dù có phần nào trễ hơn Nga, Mỹ và Anh. Tuy nhiên, việc nghiên cứu ứng dụng của plasma trong công nghệ hàng không đang gặp nhiều trở ngại. Một nhà khoa học làm việc tại Tập đoàn Dassault Aviation cho biết: “Chúng tôi biết rất rõ những tác dụng của plasma đối với công nghệ hàng không, nhưng chúng tôi còn chưa nắm rõ cách để chế tạo ra plasma trên vật thể bay”.

Trở ngại nhất hiện nay là thiết kế và lắp đặt các thiết bị sản sinh ra plasma trên máy bay. Bởi vì để tạo ra một lớp plasma dày từ 2 - 5 cm bao bọc xung quanh thân một máy bay chiến đấu cần phải lắp đặt một thiết bị nặng đến trên 100 kg, trong khi vấn đề trọng lượng là rất quan trọng đối với máy bay chiến đấu. Nhiều nhà khoa học cho rằng, phải tiêu tốn rất nhiều điện năng để tạo ra plasma, nhưng một số khác lại có ý kiến ngược lại. Và điều này chỉ được xác định thông qua các công trình nghiên cứu.
                                                                                                     theo:giaothongvantai.com.vn
Logged
Drchicken
Thành viên
*
Bài viết: 14


« Trả lời #28 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2010, 05:38:25 pm »

Nhìn hình T-50 em cứ thấy giống giồng F22 đến lúc đọc bài của Tank90 có thể là đối trọng của F22 thì không thắc mắc gì nữa
Logged
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #29 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2010, 11:23:02 pm »

TỔNG QUAN TÍNH NĂNG KĨ CHIẾN THUẬT CỦA T-50 PAK FA
Thông số hệ thống khí tài trinh sát quang điện tử OLS-50M

Trong đề án PAK FA T-50, PTK Sukhoi sử dụng hệ thống khí tài trinh sát quang điện tử đa nhiệm OLS-50M của Doanh nghiệp nhà nước một thành viên cấp liên bang hoạt động kinh doanh Nhà máy cơ quang vùng Uran mang tên E.S. Yalamov "UOMZ" (ФГУП ПО "УОМЗ" - Федеральное государственное унитарное предприятие, Производственное объединение "Уральский оптико-механический завод имени Э.С.Яламова ").

Hệ thống OLS-50M được UOMZ phát triển trực tiếp cho dự án PAK FA có những tính năng sau:

- Trinh sát phát hiện mục tiêu trên không từ cả phía trước lẫn phía sau mục tiêu.

- Bắt bám sát tự động mục tiêu trên không đang cơ động, đồng thời nhận diện và xác định cự li mục tiêu.

- Cung cấp các tham số tọa độ và cự li mục tiêu cho hệ thống ngắm bắn quang điện tử để đồng bộ phần tử cho đầu tự dẫn quang điện tử của đạn tên lửa đối không hay máy tính bắn đón ngắm không đồng trục của pháo đối không bắn nhanh.

- Trinh sát, phát hiện, nhận diện, bắt bám sát tự động và định tầm mục tiêu mặt đất.

Các khí tài thành phần của OLS-50M gồm:

- Khí tài quét định vị nguồn hồng ngoại.

- Khí tài trinh sát quang truyền hình phát hiện mục tiêu trên không và mặt đất trong điều kiện ban ngày.

- Khí tài định tầm và chỉ thị mục tiêu trên không và mặt đất bằng laser đa kênh.

- Khí tài ổn hướng đa trục.

- Khí tài kiểm báo và chỉnh lỗi tự động.

Bản mẫu khí tài trinh sát quang điện tử OLS tại MAKS 2009 (ảnh sưu tầm)

Thông số kĩ thuật của OLS-50M:
Vùng quét theo góc phương vị (Зона обзора по азимуту): ± 60 º
Vùng quét theo góc tà (Зона обзора по углу места): từ tà dương +55 º tới tà âm -15 º
Thời gian quét bao vùng (длительность одного цикла обзора зоны): 4 giây
Cự li phát hiện mục tiêu từ phía trước mục tiêu (дальность обнаружения в передней полусфере): 40 km
Cự li phát hiện mục tiêu từ phía sau mục tiêu (дальность обнаружения в задней полусфере): 70 km
Khung nhiệt độ vận hành (диапазон рабочих температур): từ -40ºC tới +60ºC
Kích cỡ (габариты): 766mm х 540mm х 763mm
Khối lượng (масса): 71 kg
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM