Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:40:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu Chiến Hiện Đại - nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 363344 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #380 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 01:41:14 pm »

F572    "Libeccio":



F574    "Aliseo":



F576    "Espero":



F577    "Zeffiro":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #381 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 05:50:29 pm »

36. “Floreal”

Sáu tàu tuần tra trong lớp này được đặt hàng năm 1989, được đóng trong năm 1992 – 1994. Chúng được đóng để sử dụng trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nơi Pháp còn duy trì một số thuộc địa nhỏ. Trên các tàu chiến lớp “Floreal” trang bị các trực thăng AS 565 MA “Panther”, tuy nhiên, boong trực thăng có thể tiếp nhận những trực thăng lớn hơn AS 332F “Super Puma”, ví dụ như dành cho sự tiếp nhiên liệu. Ngoài thủy thủ đoàn, trên các tàu này còn có các đơn vị lính thủy đánh bộ với số lượng 24 người trong trường hợp nếu cần thiết có thể đổ bộ trong các chiến dịch mang tính đảm bảo trật tự trị an. Bốn máy diezen mạnh mang lại hiệu quả kinh tế cao, cho phép tàu có tầm hoạt động lớn (10 000 dặm) trên tốc độ tuần tiễu – đảm bảo phù hợp với những tình huống qua trọng phát sinh trong điều kiện của Thái Bình Dương. Để giảm chi phí sản xuất, các tàu chiến lớp “Floreal” đã được đóng theo tiêu chuẩn tàu dân sự. Trong thời điểm hiện nay, việc này là thực tế, khi mà nhiệm vụ và chức năng của những tàu này không phải là hoạt động trong thành phần các Hải đoàn hoặc Hạm đội.

Vào năm 1988, hai tàu chiến lớp “Floreal” đã được Maroc đặt hàng. Cả hai tàu được khởi công năm 1999 và việc chuyển giao theo kế hoạch diễn ra vào năm 2002.

Từ điểm quan sát của điều kiện và tầm hoạt động và tính không chìm, các tàu chiến lớp “Floreal” được giới thiệu như một bước tiến dài so với lớp tàu tuần tra “De Estine De Orve” được đóng trước đó với số lượng 20 chiếc trong khoảng thời gian 1976 – 1984. (gồm cả 3 tàu, sau đó bán cho Argentina). Với lượng choán nước đầy đủ trên các tàu lớp “D’ Estene d’ Ovre” được trang bị pháo 100mm, ngư lôi chống ngầm và tổ hợp tên lửa phòng không “Mistral”. Trên một vài tàu được trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu “Excocet”. Nhiều tàu lớp “D’Estine d’ Orve” đã ngừng hoạt động và vào năm 2002, trong biên chế chỉ còn lại 9 tàu.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu chiến mang tên lửa điều khiển

Lớp tàu: “Floreal”

Lượng choán nước: 2600 tấn (tiêu chuẩn); 2950 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 93,5m

Chiều rộng
: 14m

Độ mớn nước: 4,3m

Thiết bị năng lượng: hỗn hợp diezen – tuabin khí, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 4 máy diezen SEMIT – Pilstic PA6 L280 8820 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 20 hải lý; 10 000 dặm (15 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 86 người

Trang bị: 2 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Excocet” MM38 hoặc MM40; 1(2)x6 thiết bị phóng “Simbad” cho tổ hợp tên lửa phòng không “Mistral”; 1 thiết bị pháo 100mm CADAM; 2 thiết bị pháo 20mm

Trang thiết bị điện tử: DRBV 21A – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; DRBN 34A – ra đa hàng hải và điều khiển trực thăng

Thiết bị bay: 1 trực thăng.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #382 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 05:52:10 pm »

Các tàu chiến trong lớp "Floreal":

"Floréal" (F 730):



"Prairial" (F 731):



"Nivôse" (F 732):

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #383 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 05:53:42 pm »

"Ventôse" (F733):



"Vendémiaire" (F734):



"Germinal" (F735):

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #384 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 12:24:46 pm »

37. “Jiangwei” (Mẫu 053 H2G)

Đây là những tàu hiện đại với trang bị mạnh , gồm có tên lửa chống tàu tầm xa C-801/802. Điểm yếu nhất có thể tính cho khả năng chống ngầm, bị hạn chế bởi thiết bị RBU-1200 (5 ống phóng). Đồng ý rằng, hiện nay các tàu chiến lớp “Jiangwei” được đóng trong thời kỳ từ tháng 12 năm 1991 đến tháng 4 năm 1994. Dòng thứ hai được đóng từ năm 1996 đến cuối năm 1999. Trên các tàu sau cùng lắp tổ hợp tên lửa phòng không với thiết bị phóng được rút gọn, còn thiết bị pháo 37mm bố trí trên nóc hang ga trực thăng để tăng độ rộng góc bắn (trên các tàu đầu tiên, pháo được lắp hai bên hang ga). Chắc chắn rằng cá tàu dòng thứ hai được trang bị 4 thiết bị diezen thay cho 2 động cơ, cho phép tăng tốc độ lên 28 hải lý. Trực thăng cơ sở trên các tàu chiến lớp “Jangwei” – Harbin Z9A – chế tạo theo giấy phép sản xuất được cấp cho Trung Quốc dựa trên phiên bản trực thăng “Dolphin”. Dự đoán rằng việc đóng hai tàu chiến lớp này cho Pakistan sẽ bắt đầu một cách nhanh chóng.

Có thêm hai tàu lớp “Jangwei” đang trong quá trình đóng trong thời gian giữa những năm 1994 và 1996, Trung Quốc đã đóng số lượng lớn tàu chiến lớp “Jianghu” có lượng choán nước thấp hơn (1450 tấn). Trang bị của chúng hoàn toàn cổ điển – 2 thiết bị pháo 100mm 1 (hoặc 2) nòng và 2 thiết bị phóng kép cho tên lửa chống tàu C201. Nhưng trang bị chống ngầm của chúng chỉ ở mức độ tối thiểu. Sau đó, thêm 4 tàu chiến lớp “Jianghu” (các lớp II, III, và IV) với lượng choán nước lớn hơn, tăng cường thượng tầng và trang bị tên lửa chống tàu C-801. Trên “Jianghu” II có hang ga trực thăng và bãi đáp phía cuối tàu. Tuy nhiên, thân tàu không lớn để có thể bố trí số lượng trang thiết bị điện tử cần thiết, vì thế việc đóng các tàu này bị đình chỉ và các tàu lớp “Jiangwei” với thân tàu dài hơn 28m được sử dụng.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu chiến mang tên lửa điều khiển

Lớp tàu: “Jiangwei” (Mẫu 053 H2G)

Lượng choán nước: 2250 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 111,7m

Chiều rộng: 12,1m

Độ mớn nước: 4,8m

Thiết bị năng lượng: 2 trục, diezen; 4 máy diezen 12E 390 14 400 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 25 hải lý; 4000 dặm (18 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 170 người

Trang bị: 2x3 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu C-801 hoặc C-802; 1x6 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không CSA-N-2; 1 thiết bị pháo 20mm; 4 thiết bị pháo 37mm 2 nòng; 2x5 thiết bị phóng bom phản lực RBU-1200

Trang thiết bị điện tử: “Nife Rest” – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; “San Vizor”, “Fog Lamp”, “Rais Lamp” – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Racal Decca 1290 hoặc China Type 360 – ra đa hàng hải; Eho Type 05 – đài thủy âm tích cực tìm kiếm và điều khiển vũ khí

Thiết bị bay: 1 trực thăng.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #385 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 12:26:10 pm »

Tàu chiến trong lớp "Jiangwei":

"Huaibei"



"Hoainan":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #386 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 04:59:47 pm »

38. “Lekui”

Tháng 3 năm 1992, Chính phủ Malaysia đã có đơn đặt hàng trị giá 400 triệu Bảng Anh để đóng 2 tàu chiến – “Lekui” và “Jebat”. Năm 1994, tại Glasgow trên xưởng “Iarrow Shipbiulders” đã khởi công hợp đồng này. Ban đầu, việc chuyển giao các tàu dự kiến vào tháng 2 và tháng 5 năm 1996, nhưng sau đó bị hoãn lại xuất hiện vấn đề với hệ thống điều khiển và thông tin tác chiến. Và kết quả là các tàu chiến này được đóng nốt vào tháng 10 và tháng 11 năm 1999.

Các tàu của Malaysia nằm trong lớp tàu chiến hạng nhẹ và được đóng phù hợp với thiết kế “GEC Naval systemz frigate 2000”. Để cho các tàu với kích thước vừa đủ được trang bị mạnh một cách vừa phải. Điểm đặc biệt là tổ hợp tên lửa phòng không “Sivulf” của Anh đã thể hiện rất thành công trong cuộc xung đột tại quần đảo Frankland, nhưng xuất khẩu một cách hạn chế. Việc lắp nó lên các tàu chiến lớp “Lekui” – hầu như là ngoại lệ. Bãi đáp trực thăng và hang ga dành cho trực thăng Uetland “Super Links”, được Hải quân Malaysia đặt hàng 6 chiếc. Tuy nhiên, hiện nay chúng chưa gia nhập biên chế và trực thăng cơ sở trên các tàu “Lekui” là Uetland “Uops”

Tuy nhiên đây là hai tàu chiến mạnh và lớn nhất của Hải quân Malaysia, cấu tạo của chúng được thiết kế dựa trên cơ sở công nghệ “stels”. “Trái tim” của hệ thống điều khiển và kiếm tra hệ thống vũ khí – Máy tính điện tử Alenia Marconi NAUTIS II, được lắp quanh 8 trục đa chức năng trong buồng chỉ huy. Khả năng tự vệ của tàu được thiết kế nghiêm túc và được đảm bảo bằng hệ thống nhiễu âm điện tử, đồng thời thiết bị 12 nòng “Superbarricad” cho việc bắn trả bẫy hồng ngoại được bố trí tại đài chỉ huy.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu chiến mang tên lửa điều khiển

Lớp tàu: “Lekui”

Lượng choán nước: 1845 tấn (tiêu chuẩn), 2390 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 105,5m

Chiều rộng: 12,8m

Độ mớn nước
: 3,6m

Thiết bị năng lượng: hỗn hợp diezen, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 4 máy diezen MTU 20V 1163 TB 93, 33 3000 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động
: 28 hải lý; 5000 dặm (14 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 152 người

Trang bị
: 4x4 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Excocet” MM40; 16 thiết bị phóng đứng cho tổ hợp tên lửa phòng không “Sivulf”; 1 thiết bị pháo 57mm “Bosfors” SAK Mk.2; 2 thiết bị pháo 30mm DSS0B; 2x2 thiết bị ngư lôi 324mm; các ngư lôi; bẫy ngư lôi “Sea siren”

Trang thiết bị điện tử: Signaal DAO8 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không; “Ericson Sea zhiraf” – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; Marcon 1802 – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Racal Decca – ra đa hàng hải

Thiết bị bay: 1 trực thăng.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #387 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 05:00:36 pm »

Các tàu tên lửa của Malaysia:

"Lekui"



"Jebat":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #388 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 06:05:28 pm »

TÀU CHIẾN LOẠI NHỎ

Theo sự phân chia trong quyển sách này, những tàu này có lượng choán nước dưới 2000 tấn. Trong đó bao gồm các tàu tuần tiễu trang bị tên lửa (hải phòng hạm - tàu tuần duyên – theo phân loại của NATO), xuồng máy (ca nô) cao tốc và một số tàu quét mìn, tàu chắn thủy lôi và các tàu phá mìn khác.

Trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai, chống lại các loại thủy lôi là công việc rất nguy hiểm và phức tạp bởi vì trong số lượng lớn các kiểu mìn đã xuất hiện kiểu mìn neo và các loại mìn được thả từ máy bay. Với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, các loại thủy lôi trở nên phức tạp và có chọn lọc hơn, và vì thế phương pháp chống  phá thủy lôi cũng dần được hoàn thiện. Tuy nhiên, Mỹ với lực lượng Hải quân mạnh nhất thế giới, đến gần đây mới dành ít sự chú ý cho phương pháp chống thủy lôi (xuất hiện lần đầu trong những năm “Chiến tranh lạnh”), dẫn tới những kết quả đáng buồn trong thời gian chiến tranh vùng Vịnh, khi mà một số tàu của Mỹ phải nhận những thương tích nghiêm trọng do thủy lôi gây ra. Tuy nhiên, các đồng minh của Mỹ trong khối NATO tại châu Âu đã quen với việc sử dụng các tàu nhỏ, hoạt động giữa các quần đảo, có thể hỗ trợ và đảm bảo sự phòng vệ cho các tàu được tiếp nhận tham gia trong các chiến dịch. Một vài tàu quét mình được sử dụng một cách đặc biệt để quét các loại thủy lôi neo thông thường, tuy nhiên phần lớn hiện nay được trang bị các thiết bị thủy âm định vị có thể phát hiện các loại mìn đáy và mìn neo không tiếp xúc. Sau đó là các thiết bị phá mìn dưới nước được điều khiển từ xa hoặc các loại vũ khí phá mìn chuyên dụng.

Bất kỳ con tàu nào có chức năng chống mìn đề có giá thành rất đắt và kích thước lớn. Vì thế hiện nay các tàu quét mìn được chuyển thành các tàu nhỏ, có khả năng thực hiện những nhiệm vụ khác nhau, thậm chí chỉ trang bị duy nhất tổ hợp thiết bị quét thủy lôi. Trong một số hạm đội, nhiệm vụ chống mìn được gia cho một số phân đội tàu nổi có kích thươc không lớn, được điều khiển từ xa từ phía tàu mẹ. Ví dụ như tàu “Standarfkeks” của Hà Lan và các phân hạm đội tàu nổi hỗ trợ.

« Sửa lần cuối: 27 Tháng Tư, 2010, 06:42:20 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #389 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 07:10:40 pm »

1. “Quahir”

Năm 1992, Oman đã đặt hàng với hãng đóng tàu “Vosper Tornicroft” 2 tàu tuần duyên – “Quahir al Amwaij” và “Al – Muatzzar”.

Việc khởi công bắt đầu vào năm 1993 – 1994, còn vào tháng 9 năm 1996 và tháng 4 năm 1997, hai tàu tuần duyên được đóng nốt. Chúng có đường viền thân tàu rõ và trang bị mạnh, bao gồm pháo, tổ hợp tên lửa chống tàu bố trí trên mũi tàu và tổ hợp tên lửa phòng không “Krotal” bố trí phía cuối tàu, ngay sau ống khói. Trực thăng cơ sở có thể hạ cánh một cách trực tiếp trên tàu không được tính đến, nhưng bãi đáp phía cuối tàu cho phép tiếp nhận trực thăng “Super Puma” để tiếp liệu và tiếp đạn. Chức năng chống ngầm của tàu tuần duyên bị hạn chế, nhưng có thể lắp trên tàu thiết bị ngư lôi 3 ống phóng 324mm và thiết bị cho ăng ten lai của đài thủy âm.

Tàu chiến lớp “Quahir” có vài điểm thay đổi so với phiên bản tàu lớp “Vidzelens” cũng đo hãng “Vosper Tornikoft” sản xuất. Chúng được đóng với sự tiếp nhận công nghệ “stels” gồm các góc của thượng tầng được đơn giản hóa, bao phủ bằng các vật liệu có khả năng hấp thu sự bức xạ và khó bị phát hiện. Các thiết bị đặc biệt kiếm soát một cách chặt chẽ sự thải khí của thiết bị năng lượng, cho phép giảm sự bức xạ nhiệt. Tuy các tàu lớp “Quahir” được đóng tại Anh nhưng sử dụng tổ hợp các trang bị của nhiều nước khác nhau – pháo 76mm của Italia, tổ hợp tên lửa của Pháp, đài ra đa định vị do Hà Lan sản xuất…

Trong trang bị của Hải quân Oman còn có 4 xuồng máy tên lửa lớp “Dhofar” cũng do hãng đóng tàu lớp “Quahir” sản xuất vào những năm 80. Với trang bị tên lửa “Excocet” và pháo 76mm, các xuồng máy này có lượng choán nước 300 tấn, khả năng đạt tốc độ tối đa 38 hải lý nhờ sự hỗ trợ của 4 thiết bị diezen “Pikeman Valenta” 15 000 sức ngựa.

Các thông số kỹ thuật:

Phân loại: tàu tuần duyên

Lớp tàu: “Quahir”

Lượng choán nước: 1450 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 83,7m

Chiều rộng: 11,5m

Độ mớn nước: 3,6m

Thiết bị năng lượng: hỗn hợp diezen, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 4 thiết bị diezen CEMT – Pilstic 16 PA6V 280 STC 28 160 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 28 hải lý; 4000 dặm (10 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 76 người

Trang bị: 2x4 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Excocet” MM40; 1x8 thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không “Krotal”; 1 thiết bị pháo 76mm “Oto Melara”; 2 thiết bị pháo 20mm GAM-B01; có thể lắp thiết bị ngư lôi 324mm

Trang thiết bị điện tử: Signaal MWO8 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; Signaal STING và Tomson-CSF DRBV 51C – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Mẫu 1007 – ra đa hàng hải; có thể lắp đài thủy âm “Atlas” với ăng ten lai

Thiết bị bay: bãi đáp trực thăng.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM