Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:00:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu Chiến Hiện Đại - nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 364036 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #400 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:30:04 am »

5. “Eilat” (“Saar 5”)

Trong thiết kế tàu tuần duyên Mỹ - Israel lớp “Eilat” có thể thẩy rõ ràng đây là những tàu chiến được trang bị các loại vũ khí mới nhất. Sau quá trình chuẩn bị lâu dài và phức tạp, các tàu tuần duyên lớp “Eilat” theo đơn đặt hàng của Hải quân Israel, hãng “John MakMallen Assoshiets Ink” tại xưởng “Inglos Shipbuilding”, gồm cả nghiệp đoàn “Litton” đã bắt đầu thực hiện việc đóng tàu. Sauk hi hạ thủy, các tàu tuần duyên đã về Israel, nơi trên các xưởng đóng tàu, chúng được trang bị vũ khí và các hệ thống tác chiến khác nhau.

Đường viền bên ngoài của các tàu tuần duyên này được biết đến như sự tiếp nhận cao nhất công nghệ “stels” – bề mặt của thượng tầng bằng phẳng và đều với những góc được  che phủ bởi chất liệu phản xạ, có thể sử dụng trong kết cấu của ống khói và cột buồm. Thiết bị pháo trên tàu gồm pháo 76mm “Oto Melara”, tuy nhiên  khi cần thiết hệ thống lắp ghép mô-đun cho phép thay thế một cách nhanh chóng bằng thiết bị pháo 20mm “Vulcan/Falanks” dành cho cận chiến hoặc pháo 57mm “Bofors”. Trên mũi tàu bố trí thiết bị phóng đứng gồm 32 công-te-nơ cho tổ hợp tên lửa phòng không “Barack” (ngay sau thiết bị pháo). Thiết bị phóng tương tự nằm ngay sau ống khói trên thượng tầng. Bãi đáp trực thăng và hang ga cho phép tiếp nhận trực thăng Eurocooper SA 366G “Dolphin” hoặc AS 565SA “Sea Panther”. Bốn trực thăng “Sea Panther” được bán cho Israel cách đây không lâu.’

Hiện nay, ba tàu tuần duyên lớp “Eilat” (hai tàu còn lại – “Lahav” và “Hanit”) là những tàu nổi lớn nhất trong Hải quân Israel. Chúng được khởi công vào năm 1992 – 1993. Việc đóng tàu hoàn thành vào năm 1994 – 1995, còn khả năng đóng 4 tàu cho Israel đã không được bàn tới.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu tuần duyên

Lớp tàu: “Eilat” (“Saar 5”)

Lượng choán nước: 1075 tấn (tiêu chuẩn), 1227 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 86,4m

Chiều rộng: 11,9m

Độ mớn nước: 3,2m

Thiết bị năng lượng: diezen – tuabin khí, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 1 thiết bị tuabin khí LM2500 30 000 sức ngựa; 2 máy diezen MTU 12V 1163 TB82 6600 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 33 hải lý; 3500 dặm (17 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 74 thành viên

Trang bị: 2x4 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Harpoon”; 2x32 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không “Barack”; 1 thiết bị pháo 76mm “Oto Melara” hoặc 1 thiết bị pháo 57mm “Bofors” hoặc 1 thiết bị pháo 20mm 6 nòng “Vulcan/Falancs”; 2 thiết bị pháo 25mm “Sea Vulcan”; 2x3 thiết bị ngư lôi 324mm; các ngư lôi Mk.46; bẫy ngư lôi Rafael ATS-1

Trang thiết bị điện tử: EL/M-2218S – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không; SPS-55 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; EL/M-2221 – đài ra đa định vị điều khiển bắn; ra đa hàng hải; EDO Mẫu 796 – đài thủy âm tích chủ động tìm kiếm và điều khiển vũ khí; thiết bị dành cho ăng ten lai của đài thủy âm

Thiết bị bay: 1 trực thăng.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #401 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:31:11 am »

Các tàu tuần duyên lớp "Eilat":

"Eilat":



"Hanit":



"Lahav":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #402 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 05:53:18 pm »

6. “Kingston”

Năm 1992, hãng “Halifax Shipyards” nhận đơn đặt hàng đóng tàu dành cho việc bảo vệ bờ biển và vào năm 1994 – 1999, dòng tầu tuần tiễu lớp “Kingston” gồm 12 chiếc đã được đóng. Các tàu “Kingston” và “Glace Bay” được đóng nốt vào năm 1996, “Nanaimo”, “Edmonton” và “Shawinigan” – vào năm 1997; “Whitehorse”, “Yellowkinght”, “Goose Bay”, “Saskatoon” – 1998; “Brandown” và “Summerside” – vào năm 1999.

Điểm đặc biệt của hình dáng bên ngoài các tàu trong lớp này là boong lái trên (thượng tầng) tiêu chuẩn và khoảng không còn trống giữa các ống khói, nơi có thể bố trí trang bị chống thủy lôi. Các tàu có thể được trang bị 3 công te nơ với tổ hợp các trang thiết bị chống thủy lôi dành cho việc thực hiện những nhiệm vụ khác nhau phụ thuộc vào yêu cầu và một trong số đó sẽ được lắp ở khoảng không gian giữa các ống khói. Trong các thiết bị này có tổ hợp lưới quét mìn SLQ-38, bao gồm lưới đơn hoặc lưới kép “Oropeza” để quét các loại mìn neo thông thường, hệ thống quan sát 360 độ với thiết bị thủy âm định vị cao tần để kiểm tra mặt biển và máy dò mìn điều khiển từ xa. Ngoài nhiệm vụ tác chiến trên biển đơn thuần, các tàu lớp “Kingston” được sử dụng để bảo vệ ngành ngư nghiệp hoặc tuần tra. Theo những nguyên nhân này mà chúng được xếp vào dòng tàu tuần tra – bảo vệ bờ biển. Hai ống khói bằng phẳng được lắp rất gần phía cuối tàu, đảm bảo sự nhận biết dễ dàng các tàu này. Động cơ điện – diezen đảm bảo hoạt động của tàu với sự hỗ trợ của hai bộ phận truyền động dạng chữ Z và chân vịt có khả năng quay 360 độ. Thiết bị này tăng cường rất nhiều sự điều khiển và cơ động của tàu trong thời gian quét mìn hoặc khi tuần tra gần bờ.

Mười hai tàu tuần tra lớp “Kingston” sau khi đóng nốt đã được phân bố đồng đều giữa bờ biển Thái Bình Dương và Đại Tây Dương của Canada. Trong trường hợp bình thường, thủy thủ đoàn của chúng được lấy từ lực lượng dự bị.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu tuần tra

Lớp tàu: “Kingston”

Lượng choán nước: 962 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 55,3m

Chiều rộng: 11,3m

Độ mớn nước: 3,4m

Thiết bị năng lượng: điện – diezen; 4 thiết bị diezen Biarsilia UD 23V12; 4 máy phát điện Zhemont ANR-53-50; 2 động cơ điện Zhemont CI 560L 3000 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 15 hải lý; 5000 dặm (8 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 31 thành viên

Trang bị: 1 thiết bị pháo 40mm “Bofors”; 2 súng máy 12,7mm

Trang thiết bị điện tử
: Kelvin Hughes 6000 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; ra đa hàng hải; đài thủy âm dò mìn; máy đo sâu.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #403 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 05:58:14 pm »

Các tàu trong lớp "Kingston":

"Kingston" (MM 700):



"Glace Bay" (MM 701):



"Nanaimo" (MM 702):



"Edmonton" (MM 703):

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #404 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:00:18 pm »

"Shawinigan" (MM 704):



"Whitehorse" (MM 705):



"Yellowknife" (MM 706):



"Goose Bay" (MM 707):

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #405 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:02:10 pm »

"Moncton" (MM 708):



"Saskatoon" (MM 709):



"Brandon" (MM 710):



"Summerside" (MM 711):

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #406 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:14:31 am »

7. “Osprey”

Những nhược điểm trong vấn đề chống thủy lôi trở nên rất rõ ràng với giới chỉ huy Mỹ vào năm 1991 trong thời gian chiến tranh với Iraq, khi mà Hải quân Mỹ bắt buộc phải nhờ đến sự hỗ trợ của các đồng minh châu Âu. Sau đó, người Mỹ đã tái trang bị các tàu quét mìn lớp “Lerichi” của Italia theo những yêu cầu của mình. Những tàu này nhận tên gọi “Osprey”, còn các tàu khác cũng đồng thời được gọi theo tên các loài chim ăn thịt. Tổng cộng 12 tàu trong lớp được đống tại xưởng “Intermarin USA” (xưởng con của các hãng “Intermarin SpA” và “Avondeil Indactriz”) từ năm 1993 đến 1999.

Điểm khác biệt chính của các tàu Mỹ là chúng được trang bị 2 động cơ diezen Izotta Fraskini ID36 trong thiết bị năng lượng thay thế cho động cơ diezen duy nhất “Fincanteri” GMT BL230, được tiếp nhận trên các tàu quét mìn của Italia. Thiết bị tương tự này chỉ ra rằng sức mạnh hơn không nhiều, nhưng nó thuận lợi cho việc thống nhất hóa thiết bị động cơ của hai lớp tàu. Thực tế là việc này cho phép tăng chiều dài và lượng choán nước của các tàu tương tự nhau giữa Mỹ và Italia trong cùng một mục đích chế tạo. Trên các tàu quét mìn lớp “Osprey” lắp các trang thiết bị điện tử của Mỹ gồm có đài thủy âm dò mìn Reifen/Tomson “Sintra” SQQ-32, có thể hạ xuống từ hầm trước đài chỉ huy. Để chống lại các loại mìn có độ chính xác cao, tàu được trang bị hệ thống SLQ-48 điều khiển từ xa, còn hai chân vịt “Vois Shneider”với bước chân vịt xoay 360 độ bằng cho phép giữ tàu theo hướng cần thiết. Như nguyên mẫu của Italia, khi đóng tàu quét mìn lớp “Osprey” đã tiếp nhận một cách rộng rãi các vật liệu từ chất dẻo thủy tinh, còn động cơ được lắp trong buồng đặc biệt và được đóng bằng nắp, để giảm độ rung và tiếng ồn, cản trở công việc của đài thủy âm.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu dò – quét mìn

Lớp tàu: “Osprey”

Lượng choán nước: 930 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 57,3m

Chiều rộng: 11m

Độ mớn nước: 2,9m

Thiết bị năng lượng: điện – diezen; 2 trục; 2 máy diezen Izotta Fraskini ID36 SS 8V AM 1600 sức ngựa; 3 máy phát điện diezen Izotta Fraskini ID36 984 kW

Tốc độ và tầm hoạt động: 10 hải lý; 1500 dặm (10 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 51 người

Trang bị: 2 súng máy 12,7mm

Trang thiết bị điện tử:SPS 64(V)9 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; R41XX – ra đa hàng hải; SQQ-32 – đài thủy âm dò mìn với khả năng thay đổi độ lặn sâu.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #407 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:17:47 am »

Các tàu quét mìn lớp "Osprey":

"Osprey" MHC-51:



"Heron" MHC-52:



"Pelican" MHC-53:



"Robin" MHC-54:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #408 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:20:27 am »

"Oriole" MHC-55:



"Kingfisher"    MHC-56:



"Cormorant" MHC-57:



"Black Hawk" MHC-58:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #409 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:22:16 am »

"Falcon" MHC-59:



"Cardinal" MHC-60:



"Raven" MHC-61:



"Shrike" MHC-62:

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM