14. “Flyvefisken”
“Standardfleks 300” – một lớp tàu rất thú vị. Có lượng choán nước không lớn và thiết bị năng lượng mạnh cộng với khả năng có thể lắp đặt các thiết bị mô đun khác nhau với các hệ thống vũ trang và trang thiết bị điện tử cho phép sử dụng các tàu này với nhiều mục đích khác nhau. Các mô đun được thiết kế cùng một kích thước và có thể thay thế lẫn nhau một cách hoàn toàn trong thời gian vài giờ, điều này đem lại khả năng tăng cường một cách nhanh chóng khả năng tác chiến của tàu trong khi vẫn giữ nguyên giá thành thấp, điều kiện đặc biệt quan trong dành cho Hải quân các nước nhỏ.
Các mô đun được lắp trong 4 buồng khác nhau, một nằm ở mũi tàu, các buồng còn lại – trên phần được kéo dài sau thượng tầng và ống khói.Trong phần lớn các tàu trong lớp, trên hầm mũi tàu có lắp thiết bị pháo 76mm “Oto Melara”. Còn các mô đun khác duy trì cho thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”, 2 thiết bị ngư lôi, trang thiết bị dành cho nhiệm vụ quét mìn, đài thủy âm với khả năng thay đổi độ lặn sâu, thuyền bơm hơi, màn che và trang thiết bị kiếm tra mức độ từ của môi trường.Mỗi mo đun có một kích thước cơ sở tiêu chuẩn với sự tiếp xúc chung dành cho sự liên kết giữa tàu và sự cấp năng lượng, sự cấp nước và hệ thống điện. Trên các tàu, toàn bộ những hệ thống này được hiện đại hóa một cách tối đa, để có thế giảm đến mức thấp nhất số thành viên trong thủy thủ đoàn, thành phần có thể thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ dự kiến của tàu.
Các tàu tuần tra lớp “Standarfleks” có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ, gồm có phòng không, rà, phá các loại mìn (thủy lôi), bảo vệ bờ biển, rải mìn, cứu nạn và thăm dò đại dương. Để thực hiện toàn bộ những nhiệm vụ này, giữa những năm từ 1989 đến 1993 đã có 14 tàu lớp “Flyvefisken” được đóng và thay thế cho hạm đội không dưới 22 tàu trong 3 lớp khác nhau trong Hải quân Đan Mạch.
Trong vai trò quét mìn, “Standartfleks 300” có thể hoạt động như tàu điều khiển 2 ca nô nổi không người lái – những thiết bị quét mìn. Lượng choán nước của chúng là 32 tấn, trên đó bố trí đàu thủy âm dành cho việc dò mìn trong khu vực bị rải mìn. Có 6 tàu như vậy được đóng, sau đó còn bổ sung thêm 16 ca nô hỗ trợ với lượng choán nước lớn hơn (125 tấn). Những thiết bị sau này có thể do người điều khiển dành cho việc thực hiện những nhiệm vụ khác.
Các thông số cơ bản:Phân loại: tàu tuần tra/ rà – phá mìn
Lớp tàu: “Flyvefisken”
Lượng choán nước: 480 tấn (đầy đủ)
Chiều dài: 29,5m
Chiều rộng: 9m
Độ mớn nước: 2,5m
Thiết bị năng lượng: hỗn hợp diezen – tuabin khí; 1 thiết bị tuabin khí LM2500 5450 sức ngựa (trục trung tâm); 2 thiết bị diezen MTU 16V 396 TB94 5800 sức ngựa (trục bên)
Tốc độ và tầm hoạt động: 30 hải lý; 2400 dặm (18 hải lý)
Thủy thủ đoàn: 29 người (tối đa)
Trang bị: 2x4 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu Boeing “Harpoon”; 3x2 thiết bị phóng Mk.48 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”; 1 thiết bị pháo 76mm “Oto Melara”; 2 súng máy 12,7mm; 1x2 thiết bị ngư lôi 533mm; các ngư lôi FFV Mẫu 613 được điều khiển bằng cáp; 60 thủy lôi
Trang thiết bị điện tử: AWS 6 hoặc TRS-3D – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; “Terma scanta mil” – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; “Furuno” – ra đa hàng hải; Selcius Tec 9LV200 – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Selcius Tec CTS 36/39 – đài thủy âm tích cực, thăm dò; TSM 2640 “Salmon” VDS – đài thủy âm có khả năng thay đổi độ lặn sâu.
