Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:23:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu Chiến Hiện Đại - nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 363721 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #430 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2010, 01:40:37 am »

14. “Flyvefisken”

“Standardfleks 300” – một lớp tàu rất thú vị. Có lượng choán nước không lớn và thiết bị năng lượng mạnh cộng với khả năng có thể lắp đặt các thiết bị mô đun khác nhau với các hệ thống vũ trang và trang thiết bị điện tử cho phép sử dụng các tàu này với nhiều mục đích khác nhau. Các mô đun được thiết kế cùng một kích thước và có thể thay thế lẫn nhau một cách hoàn toàn trong thời gian vài giờ, điều này đem lại khả năng tăng cường một cách nhanh chóng khả năng tác chiến của tàu trong khi vẫn giữ nguyên giá thành thấp, điều kiện đặc biệt quan trong dành cho Hải quân các nước nhỏ.

Các mô đun được lắp trong 4 buồng khác nhau, một nằm ở mũi tàu, các buồng còn lại – trên phần được kéo dài sau thượng tầng và ống khói.Trong phần lớn các tàu trong lớp, trên hầm mũi tàu có lắp thiết bị pháo 76mm “Oto Melara”. Còn các mô đun khác duy trì cho thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”, 2 thiết bị ngư lôi, trang thiết bị dành cho nhiệm vụ quét mìn, đài thủy âm với khả năng thay đổi độ lặn sâu, thuyền bơm hơi, màn che và trang thiết bị kiếm tra mức độ từ của môi trường.Mỗi mo đun có một kích thước cơ sở tiêu chuẩn với sự tiếp xúc chung dành cho sự liên kết giữa tàu và sự cấp năng lượng, sự cấp nước và hệ thống điện. Trên các tàu, toàn bộ những hệ thống này được hiện đại hóa một cách tối đa, để có thế giảm đến mức thấp nhất số thành viên trong thủy thủ đoàn, thành phần có thể thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ dự kiến của tàu.

Các tàu tuần tra lớp “Standarfleks” có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ, gồm có phòng không, rà, phá các loại mìn (thủy lôi), bảo vệ bờ biển, rải mìn, cứu nạn và thăm dò đại dương. Để thực hiện toàn bộ những nhiệm vụ này, giữa những năm từ 1989 đến 1993 đã có 14 tàu lớp “Flyvefisken” được đóng và thay thế cho hạm đội không dưới 22 tàu trong 3 lớp khác nhau trong Hải quân Đan Mạch.

Trong vai trò quét mìn, “Standartfleks 300” có thể hoạt động như tàu điều khiển 2 ca nô nổi không người lái – những thiết bị quét mìn. Lượng choán nước của chúng là 32 tấn, trên đó bố trí đàu thủy âm dành cho việc dò mìn trong khu vực bị rải mìn. Có 6 tàu như vậy được đóng, sau đó còn bổ sung thêm 16 ca nô hỗ trợ với lượng choán nước lớn hơn (125 tấn). Những thiết bị sau này có thể do người điều khiển dành cho việc thực hiện những nhiệm vụ khác.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu tuần tra/ rà – phá mìn

Lớp tàu: “Flyvefisken”

Lượng choán nước: 480 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 29,5m

Chiều rộng: 9m

Độ mớn nước: 2,5m

Thiết bị năng lượng: hỗn hợp diezen – tuabin khí; 1 thiết bị tuabin khí LM2500 5450 sức ngựa (trục trung tâm); 2 thiết bị diezen MTU 16V 396 TB94 5800 sức ngựa (trục bên)

Tốc độ và tầm hoạt động: 30 hải lý; 2400 dặm (18 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 29 người (tối đa)

Trang bị: 2x4 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu Boeing “Harpoon”; 3x2 thiết bị phóng Mk.48 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”; 1 thiết bị pháo 76mm “Oto Melara”; 2 súng máy 12,7mm; 1x2 thiết bị ngư lôi 533mm; các ngư lôi FFV Mẫu 613 được điều khiển bằng cáp; 60 thủy lôi

Trang thiết bị điện tử: AWS 6 hoặc TRS-3D – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; “Terma scanta mil” – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; “Furuno” – ra đa hàng hải; Selcius Tec 9LV200 – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Selcius Tec CTS 36/39 – đài thủy âm tích cực, thăm dò; TSM 2640 “Salmon” VDS – đài thủy âm có khả năng thay đổi độ lặn sâu.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #431 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2010, 01:43:38 am »

Các tàu trong lớp "Flyvefisken":

P550 "Flyvefisken":



P551 "Hajen":



P552 "Havkatten":



P553 "Laxen":



P554 "Makrelen":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #432 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2010, 01:46:12 am »

P555 "Støren":



P556 "Sværdfisken":



P557 "Glenten":



P558 "Gribben":



P559 "Lommen":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #433 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2010, 01:47:54 am »

P560 "Ravnen":



P561 "Skaden":



P562 "Viben":



P563 "Søløven":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #434 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2010, 06:50:37 pm »

15. “Sandown”

Các tàu quét mìn lớp “Sandown” không có tổ hợp trang thiết bị dành cho việc rà, quét mìn theo truyền thống. Chúng chỉ được trang bị đài thủy âm hiện đại, cho phép phát hiện các mẫu mìn khác nhau, sau đó sẽ phá hủy bằng hệ thống kích nổ điều khiển từ xa, được lắp trên các thiết bị dò mìn PAP (RAR) 104 Mk.5, đồng thời cũng được điều khiển từ xa.

Tàu đầu tiên trong lớp “Sandown” được đặt hàng năm 1985, và hoàn thành năm 1989. Sau đó là 4 tàu khác trong lớp (“Iverness”, “Cromer”, “Walney”, và “Bridport”) gia nhập biên chế Hải quân giữa tháng 1 năm 1991 và tháng 11 năm 1993. Các đơn đặt hàng vì lý do tài chính và chính trị đã không được thực hiện cho đến tận năm 1994, khí tiếp nhận quyết định đóng thêm 5 tàu nữa: “Penzance” và “Pembroke” gia nhập biên chế năm 1998; "Gimsby" - 1999; “Bangor” và “Ramsey” – năm 2000. Hai tàu sau đó “Blyth” và “Shoreham” – năm 2001.

Các tàu sau cùng có một số trang thiết bị và máy móc hiện đại. Chúng trang bị chân vịt lái với sự thay đổi véc tơ lực, các thiết bị hiện đại hóa dành cho các hoạt động ngầm và màn che mới để thả các thiểt bị dò mìn điều khiển từ xa. Giống như các tàu hiện đại khác cùng dòng, các tàu quét mìn lớp “Sandown” có thân tàu làm từ chất dẻo thủy tinh, còn chân vịt và bộ phận lái ở mũi tàu cho phép chúng đánh dấu rõ ràng vị trí trên vùng biển đã được lựa chọn. Toàn bộ 12 tàu được đóng tại xưởng Vulston thuộc hang “Vosper Tornicfort” và là nơi đóng đội tàu quét mìn thứ 3 cho Hải quân Anh. Hãng này cũng đóng thêm 3 tàu cùng loại cho Arap Saudi, những tàu gia nhập biên chế vào năm 1991, 1993 và 1997. Chúng hầu như giống các tàu của Anh nhưng ở thượng tầng trước có 2 thiết bị pháo 30mm.

Trong năm 1999-2000 cũng có 4 tàu được đóng cho Hải quân Tây Ban Nha bởi hang “Bazan”. Chúng lớn hơn so với các tàu của Anh (lượng choán nước 350 tấn). Dự kiến rằng hợp đồng mới đóng thêm 4 tàu nữa sẽ nhanh chóng được ký kết.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu rà – quét mìn

Lớp tàu: “Sandown”

Lượng choán nước: 450 tấn (tiêu chuẩn); 484 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 52,5m

Chiều rộng: 10,5m

Độ mớn nước: 2,3m

Thiết bị năng lượng: 2 máy diezen Pikeman Valenta 6PR200E 1523 sức ngựa; thiết bị lực “Vois Shneider”; thiết bị lái ở mũi

Tốc độ và tầm hoạt động: 13 hải lý; 3000 dặm (12 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 34 người

Trang bị: 1 thiết bị pháo 30mm DS30B

Trang thiết bị điện tử: Mẫu 1007 – ra đa hàng hải; Marconi Mẫu 2093 – đài thủy âm đa chức năng với khả năng thay đổi độ lặn sâu.

« Sửa lần cuối: 12 Tháng Năm, 2010, 06:57:33 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #435 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2010, 06:53:04 pm »

Các tàu quét mìn trong lớp "Sandown":

"Sandown":



"Inverness":



"Walney":


Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #436 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2010, 06:54:26 pm »

"Penzance":



"Pembroke":



"Grimsby":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #437 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2010, 06:56:45 pm »

"Bangor":



"Ramsey":



"Blyth":



"Shoreham":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #438 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2010, 07:03:27 pm »

16. “Barzan” (“Vita”)

Đây là các tàu tuần duyên tốc độ cao được chế tạo dựa trên cơ sở thiết kế tàu chiến “Vita” do hang “Vosper Tornicfort” đóng. Khi lượng choán nước tiêu chuẩn tổng cộng 350 tấn, chúng không hề thua kém các tàu chiến lớn hơn về trong bị tên lửa và pháo. Hệ thống chống tác chiến điện tử phức tạp gồm có đài ra đa định vị Tomson CSF DR 3000S, thiết bị dành cho việc bắn bẫy hồng ngoại và thiết bị phản xạ ngẫu cực cùng hệ thống thả tạp âm Dasso “Salamandra” ARBB 33. Mặc dù hang “Vosper” có kinh nghiệm về thiết kế thân tàu từ chất dẻo thủy tinh, các tàu lớp “Vita” có thân tàu bằng thép và thượng tầng bằng nhôm. Thiết bị năng lượng bốn trục có thể không phù hợp với các tàu chiến hiện đại, nhưng với các tàu cỡ nhỏ điều này cho phép tránh khỏi sự cần thiết lắp thêm các cơ chế truyền động nặng nề và phức tạp. Trên các tàu lớp “Vita” có hai buồng máy hoạt động độc lập không phụ thuộc lẫn nhau, và thiết bị năng lượng duy nhất gồm có máy phát điện và hệ thống hỗ trợ, được điều khiển từ đài chỉ huy chỉ với một người. Bốn tàu của Quatar (“Barzan”, “Huvar”, “Al-Udei” và “Al-Debeel” được đặt hàng vào năm 1993. Sự khởi công của chúng kéo dài trong khoảng thời gian sáu tháng bắt đầu từ tháng 2 năm 1994. Ba tàu tuần duyên đầu tiên biên chế vào Hải quân Quatar năm 1996, còn tàu cuối cùng – tháng 7 năm 1997.

Thiết kế của tàu tuần duyên “Vita” được đóng trên cơ sở tàu tốc độ cao, được đóng cho Kenia (hai tàu đã được chuyển giao vào năm 1987) và Oman (bốn tàu lớp “Dhofar” được đóng trong những năm 1981 – 1982). Giống nhau về trang bị vũ khí, được lắp bốn động cơ diezen “Pikeman Valenta” và đạt tốc độ 38 – 40 hải lý. Trên các tàu lớp “Vita”, thân tàu được kéo dài sau kết quả tăng cường phần thân nổi giữa tàu, và điều này, cùng với sự tăng cường chiều rộn thân tàu, cho phép trang bị thêm trên tàu tiện nghi cho thủy thủ đoàn.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu tuần duyên

Lớp tàu: “Barzan” (“Vita”)

Lượng choán nước: 450 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 56m

Chiều rộng: 9m

Độ mớn nước: 2,5m

Thiết bị năng lượng: diezen, 4 trục, 4 động cơ diezen MTU 20V 538 TB93, 18740 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 35 hải lý; 1800 dặm (12 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 36 người

Trang bị: 2x4 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Excocet” MM40; 1x6 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không “Mistral”; 1 thiết bị pháo 76mm “Oto Melara”; 1x7 thiết bị pháo 30mm “Goalkeeper”; 2 súng máy 12,7mm

Trang thiết bị điện tử: Tomson CSF MRR – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; Mẫu 1007 – ra đa hàng hải; Signal STING – đài ra đa định vị điều khiển hệ thống vũ khí.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #439 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2010, 07:07:33 pm »

Tàu tuần duyên lớp "Barzan" ("Vita"):

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM