1. Wasp
Danh tiếng của Quân chủng Thủy quân lục chiến của Mỹ được biết đến trong những chiến dịch đổ bổ lớn trong thời gian chiến tranh Thái Bình Dương vào những năm 1941 -1945. Hiện nay, thành phần quan trọng hơn cả trong những chiến dịch như vậy là các tàu đổ bộ mang trực thăng cỡ lớn, mà lớp tàu cuối cùng và mạnh hơn cả là “Wasp”. Chúng là sự phát triển tiếp sau của lớp tàu “Tarawa”. Hiện nay trong biên chế Hải quân Mỹ có 6 tàu đổ bộ hỗn hợp, tàu thứ 7 (“Iwo Jima”) đã được đóng xong vào năm 2001, còn tàu thứ 8 được khởi công vào năm 2000. Tàu đầu tiên trong lớp “Wasp” được khởi công năm 1985 và hoàn thành năm 1989, các tàu còn lại theo thứ tự: “Essex” (1992), “Kearsarge” (1993), “Boxer” (1995), “Bataan” (1997) và “Bonhome Richard” (1998).
Mỗi tàu có thể tiếp nhận 1800 lính đổ bộ với quân nhu, trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật, bao gồm các loại xe tăng chủ lực. Toàn bộ những đơn vị này có thể được đưa lên bờ trên từ 3 đến 12 xuồng đổ bộ và xà lan, được bố trí trong các hầm chứa tàu (81mx15m). Sự đổ quân được thực hiện phía mạn tàu. Trên các tàu lớp “Wasp” có trang bị không dưới 42 trực thăng CH 46E “Sea Night”. Tuy nhiên, trên các tàu này có thể trang bị bất kỳ loại trược thăng nào trong biên chế quân đội Mỹ hoặc của Quân chủng Thủy quân lục chiến, bao gồm trực thăng hạng nặng CH-53D “Sea Stallion”. Các phi đội từ 6 đến 8 máy bay AV-8B “Harrier” thường xuyên được biên chế trên các tàu này nhằm đảm bảo sự hỗ trợ đổ bộ từ trên không. Các tàu lớp “Wasp” có thể được sử dụng như những tàu chở trực thăng bình thường hoặc tàu sân bay hỗ trợ. Trong trường hợp này, nhóm thiết bị bay sẽ bao gồm 20 “Harrier” và 4 đến 6 trực thăng SH-60B “Sea Hawk”. Điểm bất thường của các tàu quân sự lớn, hiện đại là thiết bị năng lương. Trên “Wasp” và các tàu cùng loại sử dụng những tuabin hơi nước thông thường và nồi hơi hoạt động bằng dầu hỏa. Thế nhưng các tàu đổ bộ con được trang bị “nhân” điện tử hiện đại, trong thành đó bao gồm các hệ thống điện tử thông báp tác chiến, gồm có ITAWDS (hệ thống phối hợp thông báo chiến thuật của lực lượng đổ bộ) và MTACCS (hệ thống điều khiển chiến thuật Hải quân và kiểm soát tác chiến đổ bộ), đồng thời các hệ thống thông tin chiến thuật và vệ tinh khác, cho phép sử dụng các tàu lớp “Wasp” như những đơn vị tham mưu khi thực hiện các chiến dịch đổ bộ.
Các thông số kỹ thuật:
Phân loại: tàu đổ bộ xung kích chở trực thăng
Lớp tàu: “Wasp”
Lượng choán nước: 28 233 tấn (tiêu chuẩn), 40 523 tấn (đầy đủ)
Chiều dài: 257,3m
Chiều rộng: 42,7m (32,3 theo rãnh mớn nước)
Độ mớn nước: 8,1m
Thiết bị năng lượng: tuabin hơi nước, 2 trục, 2 thiết bị tuabin hơi nước “Vestingauz” 70 000 sức ngựa
Tốc độ và tầm hoạt động: 22 hải lý; 9500 dặm (18 hải lý)
Thủy thủ đoàn: 1107 + các đơn vị đổ bộ
Trang bị: 2x8 thiết bị phóng Mk.29 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”; 2 công-te-nơ nhiều ống phóng Mk.49 cho tổ hợp tên lửa phòng không RAM; 2/3x6 thiết bị pháo “Vulcan/Falancs”; bẫy ngư lôi SLQ-25 “Nicsi”
Trang thiết bị điện tử: SPS-48E – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không; SPS-49 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không; Mk.23 – đài ra đa định vị theo dõi mục tiêu; SPS-67 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; SPS-64(V)9 – ra đa hàng hải; SPN-35A, SPN-43B – đài ra đa định vị điều khiển bay; Mk.95 – đài ra đa định vị điều khiển bắn
Thiết bị bay: 6-8 (tối đa 20) máy bay, 42 trực thăng.
