Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:11:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201693 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #120 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2012, 12:05:35 am »

+ SKR-68 (số hiệu xưởng 167); 1 tháng 3 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 5 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 10 năm 1956; gia nhập biên chế 23 tháng 3 năm 1957; 2 tháng 4 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 30 tháng 11 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu lúc đầu ở Tallin; 18 tháng 6 năm 1968 neo đậu ở Liepai; 1 tháng 10 năm 1972 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 22 tháng 5 năm 1972 ghi tên vào biên chế căn cứ hải quân Leningrad; trong giai đoạn từ 28 tháng 11 năm 1977 đến 1 tháng 2 năm 1980 và từ 30 tháng 1 năm 1985 đến 6 tháng 8 năm 1987 ở Kronshtadt trải qua đại tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Leningrad.

+ SKR-69 (số hiệu xưởng); 25 tháng 4 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 29 tháng 7 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalingrad; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1956; gia nhập biên chế 30 tháng 5 năm 1957; 12 tháng 6 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4-7 tháng 8 năm 1961 tới thăm Helsinki (Phần Lan); 8 tháng 6 năm 1964 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Phần Lan, đổi tên “Hameenmaa”; 1 tháng 8 năm 1964 giải thể; năm 1971 nâng cấp và năm 1979 Phần Lan cải tạo thành tàu quét mìn; cuối những năm 1980 tháo vũ khí và bán cho công ty Phần Lan tháo dỡ.

+ SKR-70 (số hiệu xưởng 126); 9 tháng 6 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 13 tháng 8 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 19 tháng 2 năm 1957; gia nhập biên chế 20 tháng 6 năm 1957; 30 tháng 6 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 29 tháng 10 năm 1963 chuyển tới Hạm đội Baltic; 21 tháng 12 năm 1965 trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 27 tháng 10 năm 1988 đến 27 tháng 1 năm 1989 ở xưởng “lò rèn Đỏ” tại Archangelsk trải qua trung tu; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991.

+ SKR-71 (số hiệu xưởng 127); 18 tháng 7 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 9 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 3 tháng 4 năm 1957; gia nhập biên chế 13 tháng 7 năm 1957; 6 tháng 8 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 29 tháng 10 năm 1963 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; 21 tháng 12 năm 1965 quay trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 19 tháng 11 năm 1969 đến 20 tháng 12 năm 1969 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua trung tu; 20 tháng 12 năm 1969 loại khỏi biên chế chiến đấu, neo đậu lúc đầu ở vịnh Dolgo-Zapad; 4 tháng 3 năm 1970 ở vịnh Said; 1 tháng 5 năm 1987 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại thành tàu tuần tra huấn luyện; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và neo đậu ở vịnh Tyuva, sau đó bị đắm do bộ phận đáy – thân xuống cấp nặng.

+ SKR-72 (số hiệu xưởng 128); từ 20 tháng 4 năm 1992 là OT-28; 30 tháng 7 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 1 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalingrad; hạ thủy 16 tháng 5 năm 1957; gia nhập biên chế 26 tháng 9 năm 1957; 5 tháng 10 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 1 tháng 10 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu và neo đậu ở vịnh Pala; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 17 tháng 10 năm 1966 ghi tên vào biên chế căn cứ Hải quân Leningrad; 23 tháng 11 năm 1967 trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 19 tháng 7 năm 1972 đến 19 tháng 12 năm 1974 ở “lò rèn Đỏ” tại Archangelsk trải qua đại tu; 24 tháng 6 năm 1991 lần thứ 2 bị loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu, neo đậu ở vịnh Gremmikha; 1 tháng 9 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân và tháo dỡ, nhưng nhanh chóng bị đắm ở bến đỗ tàu Iokangsk do các bộ phận đáy – thành bị xuống cấp nặng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #121 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2012, 12:05:54 am »

+ SKR-73 (số hiệu xuowngr129); 12 tháng 11 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 24 tháng 12 năm 1956 khởi công ở xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 21 tháng 6 năm 1957; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1957; 18 tháng 10 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 1 tháng 10 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Saida trong dạng neo đậu; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 17 tháng 10 năm 1966 đến 18 tháng 1 năm 1968; từ 11 tháng 6 năm 1971 đến 24 tháng 4 năm 1973 ở xưởng số 7 ở Tallin và từ 26 tháng 12 năm 1977 đến 13 tháng 10 năm 1978 ở xưởng “lò rèn Đỏ” tại Archangelsk trải qua đại tu và trung tu; mùa hè năm 1984 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Trắng đến biển Caspi; 15 tháng 11 năm 1984 chuyển sang phân hạm đội Caspi; 11 tháng 2 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo phế liệu; 1 tháng 6 năm 1991 giải thể.

+ SKR-74 (số hiệu xưởng 130); 4 tháng 2 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 7 tháng 2 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1957; gia nhập biên chế 26 tháng 11 năm 1957; 7 tháng 12 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 12 tháng 2 năm 1958 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 9 năm 1959 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1959 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông chuyển sang biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 8 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Bắc; 31 tháng 8 năm 1966 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 25 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.

+ SKR-75 (số hiệu xưởng 132); 7 tháng 2 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 14 tháng 3 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 3 tháng 9 năm 1957; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1957; 6 tháng 1 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 12 tháng 2 năm 1958 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên Hạm đội quanh Scanidnavia từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 9 năm 1959 sau cuộc hành quân liên Hạm đội hè thu năm 1959 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông, chuyển biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 12 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở vịnh Vladimir; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 25 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1988 giải thể.

+ SKR-76 (số hiệu xưởng 123); từ 25 tháng 10 năm 1968 là “đoàn viên thanh niên cộng sản Archangelsk”; 12 tháng 4 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 29 tháng 4 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 16 tháng 12 năm 1957; gia nhập biên chế 15 tháng 6 năm 1958; 28 tháng 6 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 25 tháng 12 năm 1965 ghi tên vào Hạm đội Baltic; 24 tháng 6 năm 1967 trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 18 tháng 10 năm 1973 đến 14 tháng 10 năm 1974 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua trung tu và nâng cấp, tháo thiết bị ngư lôi; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 31 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Archangelsk.

+ SKR-77 (số hiệu xưởng 134); từ 19 tháng 4 năm 1979 là “Soviet Dagestan”; 12 tháng 4 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 6 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 20 tháng 1 năm 1958; gia nhập biên chế 29 tháng 6 năm 1958; 9 tháng 7 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 1 tháng 10 năm 1959 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Pala (thành phố Polyarnưi); 14 tháng 7 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 5 năm 1965 đến 5 tháng 10 năm 1968 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua đại tu; 28 tháng 2 năm 1969 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ vịnh Kolsk tới Sevastopol; 7 tháng 8 năm 1979 sau khi di chuyển theo kênh Volga-Don từ biển Azov tới Caspi và chuyển vào biên chế phân hạm đội Caspi; 5-24 tháng 10 năm 1973 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ ủng hộ quân đội Ai Cập và Siry; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân; 12 tháng 7 năm 1989 bán cho câu lạc bộ Hải quân “Arga” ở Makhachkala để sử dụng làm tàu huấn luyện; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #122 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2012, 12:26:09 am »

+ SKR-80 (số hiệu xưởng 136); 31 tháng 7 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 9 năm 1957 khởi công ở xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 13 tháng 3 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1958; 12 tháng 8 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 1 tháng 10 năm 1959 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; tháng 2 năm 1959 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 9 tháng 3 năm 1978 đến 9 tháng 1 năm 1980 ở xưởng “lò rèn Đỏ” trải qua đại tu ở Archangelsk; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo dỡ kim loại ở Murmansk.

+ SKR-81 (số hiệu xưởng 138); 9 tháng 8 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 10 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1958; 19 tháng 9 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic đến biển Bắc; từ 4 tháng 1 năm 1966 đến 6 tháng 7 năm 1967 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua trung tu; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1988 giải thể.

+ SKR-4 (số hiệu xưởng 140); 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 22 tháng 1 năm 1958 khởi công ở ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 7 năm 1958; gia nhập biên chế 13 tháng 12 năm 1958; 23 tháng 12 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 3 năm 1959 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic đến biển Bắc; 14 tháng 9 năm 1959 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1959 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông, ghi tên vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 15 tháng 12 năm 1965 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Bắc; 31 tháng 8 năm 1966 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.

+ SKR-5 (số hiệu xưởng 141); 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 3 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalinigrad; hạ thủy 1 tháng 9 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1958; 17 tháng 1 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 30 tháng 6 năm 1953; loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic; 14 tháng 6 năm 1968 ở Liepai; 1 tháng 7 năm 1981 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #123 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2012, 02:16:59 am »

+ SKR-8 (số hiệu xưởng 142); 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 24 tháng 4 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 18 tháng 10 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1958; 17 tháng 1 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 31 tháng 3 năm 1963 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic; 18 tháng 6 năm 1968 ở Liepai; 1 tháng 6 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; 1 tháng 6 năm 1994 khi quân Nga rời khỏi Latvia, bị để lại trong tình trạng nửa đắm ở gần cảng quân sự Liepai; sau đó được Hải quân Nga trục vớt và bán cho công ty Latvi để tháo kim loại.

+ SKR-10 (số hiệu xưởng 139); 26 tháng 1 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 11 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 5 năm 1958; gia nhập biên chế 21 tháng 10 năm 1958; 31 tháng 10 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 3 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 9 năm 1959 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông, chuyển biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 1 năm 1964 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Bắc trong tình trạng neo đậu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; sau đó tháo kim loại ở cảng Soviet.

+SKR-14 (số hiệu xưởng 143); 29 tháng 5 nă 1958 khởi công trên ụ xướng ố 820 tại Kaliningrad; 3 tháng 7 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 9 tháng 1 năm 1959; gia nhập biên chế đầu tháng 9 năm 1959; 19 tháng 9 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 31 tháng 8 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở Tallin trong dạng neo đậu; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; từ 27 tháng 7 năm 1977 đến 31 tháng 7 năm 1978 và từ 6 tháng 12 năm 1984 đến 28 tháng 2 năm 1986 ở xưởng số 7 trải qua trung tu và đại tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Tallin.

+ SKR-15 (số hiệu xưởng 144); 3 tháng 7 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 7 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 2 năm 1959; gia nhập biên chế 1 tháng 10 năm 1959; 13 tháng 10 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 31 tháng 9 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Tallin; 18 tháng 6 năm 1968 ở Liepai; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí và tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và 1 tháng 6 năm 1994 khi quân Nga rút khỏi Latvia bị để lại trong tình trạng nửa đắm gần cảng quân sự Liepai; sau đó được Hải quân Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #124 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2012, 02:21:27 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, mét

+ tiêu chuẩn: 1054

+ hoàn toàn: 1186

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 96,6 (86)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 10,2 (9,6)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 2,9 (2,8)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 2 nồi hơi nước KVG-57/28, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-9, tổng công suất, sức ngựa (kW): 20 030 (14 720)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện diesel, công suất (kW): 1x-

2 trục; 2 chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 29,5

+ tiết kiệm năng lượng: 15,1

Tầm bơi xa, đặm (tốc độ, hải lý): 1950 (15,1) hoặc 2200 (14,5)

Thời gian hoạt động, ngày: 5

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 168 (11).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #125 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2012, 02:27:40 am »

Vũ khí

+ thiết bị pháo 100mm B-34USMA: 3x1

+ thiết bị pháo 37mm V-11 hoặc V-11M: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53-50 hoặc TTA-53-50: 1x2 hoặc 1x3

Chống ngầm

+ MBU-200: 1x24

+ BMB-2: 4x1

+ bom chìm RBM/BPS: -

+ máy rải bom: 2

Mìn

+ mìn neo trên boong: 26

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-50”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Gyuis-1M4” hoặc

+ 1x”Fut-N”

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Lin” hoặc

+ 1x”Neptun-M”

Đài thủy âm: “Pegas-2” hoặc “Pegas-3M”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Bizan-4”

+ các máy bảo vệ thủy âm BOKA-DU

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Yakor” hoặc

+ 1x”Yakor-M2” cho pháo chính (trong thành phần trạm quan sát ổn định)

Các trạm chỉ huy – đo xa: 1xSVP-42-50

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: -.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #126 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 12:01:21 am »

Tàu tuần tra kiểu SKR-1 – Đề án 159 – Lớp Petya


Tổng số tàu đã đóng: 19

Các biến thể

+ 159 (lớp Petya-I) – đề án tàu chống ngầm cơ sở sản xuất hàng loạt với thiết bị tuabin khí – diesel (1961)

+ 159-A (lớp Petya-II) – các tàu loạt thứ hai với các thiết bị ngư lôi bổ sung và các thiết bị phóng bom phản lực mới (1966)

+ 159-M (biến thể lớp Petya-I) – tàu tuần tra nâng cấp với đài thủy âm lai “Vega” (1973)

+ 159-AE (lớp Petya-III) – biến thể tàu tuần tra xuất khẩu với thiết bị ngư lôi 533mm (những năm 1970).

Trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai, ở các vùng nước gần bờ, để dẫn các đoàn tàu hộ tống trong nước đã sử dụng rộng rãi các tàu săn ngầm các đề án khác nhau. Việc đóng tàu ăn ngầm lớn theo đề án 122-bis được bắt đầu từ trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, được tiếp tục và trong chương trình đóng tàu chiến 10 năm đầu tiên sau chiến tranh 1945-1955. Đề án thành công hạn chế này có hàng loạt các nhược điểm: tốc độ tối đa thấp, khả năng phòng không thấp trong những năm 1950. Vì thế, tới cùng giai đoạn này đã thực hiện một cách thường xuyên việc nghiên cứu theo thiết kế tàu săn ngầm mới hơn, nhận số hiệu đề án 159.. Tuy nhiên, sự phát triển liên tục các yêu cầu khả năng chiến đấu dẫn tới sự tăng đáng kể lượng choán nước và tìm thiết bị năng lượng chính nhẹ, mạnh để nhận được tốc độ cao, cần thiết để đối phó các tàu ngầm nguyên tử. Cuối cùng, thiết bị năng lượng chính đã được nghiên cứu trong dạng thiết bị tuabin khí – diesel.

Nhiệm vũ kỹ chiến thuật trong thiết kế tàu đề án 159 đã kết thúc bằng thiết kế trong 1955. Việc thiết kế được giao cho Phòng thiết kế Zelzenodlsk, tổng công trình sư của tàu là  A.V.Kunakhovich, còn giám sát viên chính – thuyền trưởng cấp 2 N.D.Kondratenko. Nhiệm vụ chính của tàu – chống các tàu ngầm. Các công việc kết thúc đã kết thúc năm 1956.

Tới thời điểm kết thúc thiết kế, lượng choán nước của tàu tăng lên 900 tấn, mang tới cơ sở phân loại nó không phải tàu săn ngầm lớn, mà như tàu tuần tra. Trong quá trình thiết kế, lần đầu tiên trên thế giới và trong Hải quân Liên xô đã thiết kế ở xưởng tuabin phương Nam động cơ tuabin khí tăng lực M-2 công suất 15 000 sức ngựa. Thiết bị năng lượng chính của tàu tuần tra được tiếp nhận hoàn toàn ở dạng 3 trục. Trục giữa với động cơ diesel và chân vịt bước điều chỉnh, và các trục bên với các động cơ tuabin khí và chân vịt bước cố định. Ở tốc độ tối đa, toàn bộ các trục hoạt động, còn ở tốc độ tiết kiệm năng lượng chỉ có trục giữa hoạt động khi các trục bên quay tự do. Do thiết bị hành trình là 1 trục, để tăng cường khả năng cơ động trong hạm vi hẹp và khi cập bến đã tiếp nhận giải pháp về lắp thiết bị lái. Trên các tàu đầu tiên đã lắp các khí tài lái của công ty Đức “Pleiger”. Sau đó chỉ lắp các thiết bị do nội địa sản xuất. Đáng chú ý rằng việc chế tạo chân vịt bước điều chỉnh cho các tàu này lớp VR-159 có công suất 6000 sức ngựa dưới sự chỉ đạo của A.L.Luchanski cũng đã là thành công lớn trong ngành chế tạo máy nội địa.

Trong vai trò vũ khí chống ngầm chính trên tàu tuần tra đề án 159 đã quyết định sử dụng 2 pháo tự động 2 nòng 76,2mm AK-726 với đài ra đa định vị điều khiển “Fut-B”. Cơ sở vũ khí chống ngầm trên tàu mới, lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã lắp các ngư lôi chống ngầm loại nhỏ (1 thiết bị ngư lôi 5 ống 400mm, lắp trên bề mặt phẳng) và RBU-2500 ( theo 2 thiết bị ở mũi và mạn tàu). Trang bị kỹ thuật vô tuyến chính trên tàu là đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung “Fut-N” và 2 đài thủy âm – “Titan” và “Vưchegda”. Ăng ten của đài thủy âm được bố trí trong mũ chụp cố định “dạng ngư lôi” bố trí dưới sống tàu. Nắp chụp được chế tạo từ titan. Đây là kinh nghiệm đầu tiên tiếp nhận titan trong ngành đóng tàu.

Bố cục chung của tàu có đặc điểm rất hợp lý và được cân nhắc rất kỹ. Như ví dụ, buồng cho người ở có đặc điểm tiện nghi theo so sánh với các buồng tương tự trên các tàu khác. Các chuyên gia phương Tây đã xếp các tàu đề án 159 (ban đầu gọi là tàu chống ngầm trong Hải quân Liên Xô) vào lớp tàu chiến và gọi tên chúng là lớp Petya.

Mặc dù kích thước khiêm tốn, các tàu tuần tra đề án 159 có khả năng cơ động tốt (có thể sử dụng vũ khí khi sóng biển cấp 4). Để giảm các biên độ lắc trên tàu đã bố trí bộ giảm lắc. Tuy nhiên, thành công chính – tầm bơi xa lớn ở tốc độ tiết kiệm năng lượng (hơn 2200 dặm). Tàu dễ dàng đạt tốc độ tối đa trong các thí nghiệm khi sử dụng động cơ tuabin tăng lực hơn 33 hải lý. Thí nghiệm khai thác sử dụng đầu tiên của tàu tuần tra đã chỉ ra sự không thuận lợi được xác định trong việc sử dụng thiết bị năng lượng chính ba trục, đặc biệt trong chế độ tiết kiệm năng lượng hoặc khi dò tìm tàu ngầm, khi chân vịt lớn của trục bên tạo ra sức cản đáng kể và giảm mạnh tính tiết kiệm của toàn bộ thiết bị.

Với mũ chụp đài thủy âm của các tàu đề án 159 đã gây ra những sự khó chịu khác. Một số tàu đã bị hỏng (bị thương) các mũ chụp khi đỗ trên các bãi cạn. Trong thời gian xung đột Liên Xô – Trung Quốc những năm 1960, để bảo vệ khu vực sông Amur, Tư lệnh Hải quân đã ra lệnh nhanh chóng đưa đến sống một số tàu tuầ tra đề án 159. Tuy nhiên, đây là mệnh lệnh không được thực hiện, bởi vì lượng mớn nước tối đa của tàu với mũ chụp là lớn hơn so với tàu khu trục đề án 56. Như việc bơi của tàu này trên các bãi nông và cửa sông là không thể. Cùng với đó, các tàu đề án 159 (như ddeefans 35 tương tự nó) không có tàu tương tự của nước ngoài so sánh bằng, bởi vì tới thời điểm đó, chúng vượt trội bất kỳ tàu tuần tra lượng choán nước từ 1000 đến 2000 tấn trong Hải quân nước ngoài.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #127 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 12:01:59 am »

Các biến thể


Trong bộ phận các tàu đề án 159, trong quá trình sửa chữa và nâng cấp, thay cho các đài cũ “Fut-B” đã lắp đài ra đa định vị điều khiển “Turel”. Tàu đầu tiên SKR-1 – trong những năm 1977-79 đã trang bị lại thành tàu thí nghiệm (OS) để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống ngầm đầu tiên “Vikhr” (RPK-1). Toàn bộ vũ khí bố trí ở mũi tàu được tháo, thay vào đó lắp thiết bị phóng dẫn bắn 2 bệ MS-18 và hệ thống nạp đạn 8 tên lửa. Sự điều khiển tổ hợp chống ngầm được thực hiện bằng hệ thống đặc biệt “Sprut”, nhận sự chỉ thị mục tiêu từ đài thủy âm trên tàu hoặc từ các nguồn ngoài. Tên lửa chống ngầm 82-R khối lượng 1800kg trang bị đầu đạn đặc biện có tầm bắn xa 10 đến 24km trong bán kính tiêu diệt mục tiêu 1,5km (độ sâu 500 mét). Sau đó, tổ hợp này được lắp trên tàu chở máy bay đề án 1123 và đề án 1134.

Cũng trong quá trình đóng tàu tuần tra đề án 159 đã tiếp nhận quyết định đóng các tàu loạt thứ 2, nhưng với thành phần vũ khí như trên đề án 35. Các tàu này nhận số hiệu đề án 159-A, được đóng từ năm 1966 đến 1972 trong số lượng 23 tàu. Ở phương Tây, chúng nhận tên gọi lớp Petya-II. Tàu tuần tra đề án 159-A đã được xuất khẩu sang các nước khác (7 tàu), ngoài ra còn có đề án dành cho xuất khẩu 159-AE (lớp Petya-III) được xuất khẩu tới Ấn Độ, Siry và Việt Nam.

Trong mục đích tăng cường các khả năng tàu tuần tra đề án 159 theo phát hiện các mục tiêu nổi đã quyết định nâng cấp chúng. Đề án nâng cấp 159-M – được chế tạo ở Phòng thiết kế Zelenodolsk năm 1969-71. Chúng dự kiến trang bị đài thủy âm lai “Vega” thay cho tổ hợp vũ khí ở mạn tàu. Tổng cộng trong giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1980 đã nâng cấp 9 tàu  biến thể lớp Petya-I).

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên đề án 159 nhận số SKR-1 được đóng năm 1961 ở xưởng đóng tàu “Yantar” (số 820) tại Kaliningrad. Năm 1965 đã đóng loạt tàu đầu tiên – 19 tàu mang số hiệu SKR. Việc đóng tàu thực hiện ở hai xưởng: “Yantar” ở Kaliningrad và xưởng đóng tàu Khabarovsk (số 368). Việc đóng tàu sau đó vẫn được thực hiện, nhưng theo đề án thay đổi 159-A.

Tình trạng đến năm 2007

Các tàu tuần tra đề án 159 được sử dụng tích cực trong Hải quân Liên Xô. Đến tháng 5 năm 1966, chúng được phân loại như tàu chống ngầm và chỉ thành tàu tuần tra sau đó. Các tàu cuối cùng trong dòng bị loại khỏi biên chế Hải quân năm 1994.

SKR-27 trong Hạm đội Biển Đen đã ở khu vực chiến sự, hoạt động trên biển Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập tháng 6 năm 1967 trong toàn bộ năm 1968. SKR-23 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương trong thời gian chiến sự, hoạt động ở biển Arav và biển Đỏ, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Etiopia năm 1977-78.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #128 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 12:03:00 am »


Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 159

1. Thiết bị pháo đa năng 76,2mm AK-726

2. Các thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500

3. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Fut-B”

4. Đài ra đa định vị đạo hàng “Neptun”

5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N”

6. Mũ chụp đài thủy âm dưới sống tàu “Titan”

7. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng PTA-40-159 400mm

8. Rãnh rải mìn

9. Đài bảo vệ thủy âm lai

10. Các máy rải bom dưới boong
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #129 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 12:03:22 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ SKR-38 (số hiệu xưởng 150); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-4; 31 tháng 10 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kalinigrad; 17 tháng 2 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 4 năm 190; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1961; 16 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn từ 30 tháng 8 năm 1984 đến 5 tháng 2 năm 1987 nâng cấp ở xưởng tại Riga theo đề án 159-M; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; năm 1991-1992 đắm khi tháo máy và hệ thống ở cảng Baltic do các bộ phận đáy – thân xuống cấp quá nặng.

+ SKR-47 (số hiệu xưởng 151); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-5; 31 tháng 12 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 17 tháng 2 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 7 năm 1960; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1961; 16 tháng 6 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; cuối năm 1962 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 8 tháng 12 năm 1962 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; đến 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn từ 28 tháng 5 năm 1963 tới 25 tháng 11 năm 1964 tới xưởng “Yantar” tại Pribaltic tại Kaliningrad nâng cấp theo đề án 159-M; từ 1 tháng 11 năm 1987 đến 16 tháng 12 năm 1988 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 29 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể và tháo kim loại ở Archangelsk.

+ SKR-26 (số hiệu xưởng 153); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-14; 6 tháng 3 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 21 tháng 5 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 6 năm 1960; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1961; 16 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hải quân; cuối năm 1962 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 8 tháng 12 năm 1962 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc; 22 tháng 1 năm 1965 trở lại biên chế Hạm đội Baltic; 7 tháng 7 năm 1965 trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 28 tháng 5 năm 1963 đến 22 tháng 1 năm 1965 ở xưởng số 820 trải qua nâng cấp và đại tu; đến 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 21 tháng 12 năm 1970 đến 11 tháng 2 năm 1977 trên xưởng số 35 ở Murmansk; từ 28 tháng 11 năm 1979 đến 14 tháng 7 năm 1981 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic đã trải qua đại tu và trung tu; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ lấy phế liệu; 1 tháng 11 năm 1993 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM