Tàu tên lửa kiểu R-36 – Đề án 205/205-U “Moskit” – Lớp Osa-I/Osa-II
Tổng số tàu đã đóng: 140/32
Các biến thể
+ 205 (lớp Osa-I) – tàu nhỏ trang bị tên lửa (tàu nhỏ tên lửa) với 4 tên lửa chống tàu P-15 (1960)
+ 205-U (lớp Osa-II) – tàu nhỏ tên lửa với các tên lửa mới P-15U (!965)
+ 205-M – tàu nhỏ nâng cấp với các tên lửa chống tàu P-15M “Termit” (1970)
+ 205-Ts – tàu nhỏ - mục tiêu để bảo đảm bắn tên lửa và pháo (1980)
+ 205-ER- tàu nhỏ thí nghiệm với tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” (1990).
Kinh nghiệm, được tích lũy bởi các nhà đóng tàu khi đóng tàu nhỏ trang bị tên lửa đề án 183-P, cho phép chuyển tới thiết kế tàu nhỏ tên lửa mới được đóng đặc biệt với thành phần vũ khí tên lửa mạnh, tăng cường khả năng cơ động trên biển và tăng cường chất lượng các phần tử kỹ chiến thuật. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế đề án 205 mới nhận mã số “Moskit”, được giao cho Phòng thiết kế “Almaz” năm 1956. Tổng công trình sư, cũng như trong đề án 183-R, là E.I.Yukhin, còn giám sát viên chính từ Hải quân được giao cho Thuyền trưởng cấp 1 V.V.Dmitriev. Đề án kỹ thuật hoàn thành năm 1957. Thân tàu và thiết bị năng lượng của tàu nhỏ tên lửa đề án 205 được chế tạo với sự tính toán khả năng tiếp nhận chúng cho tàu nhỏ tên lửa mới đề án 206 (tới thời điểm đó đã quyết nhận giải pháp thiết kế các tàu này trong một thân duy nhất với thiết bị năng lượng giống nhau), đồng thời các biến thể có thể. Thân tàu nhỏ được chế tạo bằng thép từ thép SKhL-45 và có những hình dáng đặc biệt: gò tròn ở phần mũi và gò sắc (nhọn) ở mạn tàu. Như thực tế đã chỉ ra rằng, điều này có khả năng tăng cường tính cơ động trên biển của chúng, đồng thời đảm bảo khả năng sử dụng tên lửa chống tàu khi sóng cấp 4 không hạn chế tốc độ và tới cấp 5 khi tốc độ 30 hải lý.
Cơ sở của thiết bị năng lượng ba trục là 3 động cơ diesel tốc độ cao mới nhất của xưởng “Zvezda” kiểu M-503 và M-504 với các bộ truyền động lắp chìm và mỗi động cơ hoạt động trên mỗi trục. Các động cơ diesel này theo các các thông số cơ bản không có động cơ tương tự ở trong nước cũng như nước ngoài so sánh được (ít nhất, đến cuối thế kỷ XX).
Các động cơ diesel 42 hoặc 56 xilanh hình sao 7 khối được chế tạo trên cơ sở M-50, đã được dự định trước không chỉ có các kích thước và khối lượng rất nhỏ mà còn tuổi thọ không cao. Để vượt qua (khắc phục) nhược điểm này, cần thiết tiến hành sửa chửa tổ hợp các động cơ diesel này chỉ trong xưởng sản xuất, khi thực hiện ở các căn cứ hoặc trên xí nghiệp sửa chữa tàu chỉ thay mới các động cơ diesel đã quá tuổi thọ hoạt động. Công nghệ cao, sử dụng khi còn chế tạo động cơ diesel M-50, trong nguyên tắc đã loại trừ (không tính toán) khả năng theo sửa chữa địnhkỳ các động cơ diesel này “ngoài xưởng sản xuất”. Còn trong hệ thống khai thác sử dụng và căn cứ các tàu nổi cùng tàu nhỏ thuộc Hải quân Liên Xô có ưu thế về “chỗ dựa các lực lượng riêng”. Trong các điều kiên này, các câu hỏi về tuổi thọ động cơ đã bị loại khỏi ưu tiên hàng đầu, còn các chuyên gia Hải quân đã có thành kiến với các động cơ này. Sự phát triển sau đó của các động cơ này đã không được Hải quân chú ý do tới giai đoạn này, toàn bộ sự chú ý tập trung vào phát triển các tuabin khí. Mặt khác, chính các nhà thiết kế các động cơ diesel này đã rất thụ động. Như vào đầu những năm 1960, sự phát triển các động cơ diesel tốc độ cao trong nước thực tế đã xác định số phận của nó. Chúng không được quan tâm theo từng thời điểm, mặc dù các khả năng đối với sự phát triển của chúng vẫn còn (chưa cạn kiệt đến mức cuối cùng), cũng như trong các cầu hỏi tăng cường công suất cũng như tuổi thọ của chúng. Ở Đức (nước đi đầu về động cơ này), việc chế tạo các động cơ diesel cao tốc đã bắt đầu trong những năm 1930, gần như dành ngay cho Hải quân. Vì thể, các động cơ diesel của nó có trong những năm 1960 có tuổi thọ tương đối lớn hơn, nhưng các chỉ số khối lượng – kích thước lớn. Khoảng cuối những năm 1960, đã tồn tại sự cân bằng khoa học kỹ thuật được xác định trong các câu hỏi phát triển các động cơ diesel cao tốc ở Liên Xô và Đông Đức, mà sau đó nhanh chóng bị đánh mất.
Vũ khí của tàu nhỏ tên lửa đề án 205 gồm có 4 thiết bị phóng tên lửa chống tàu P-15 dạng hang ga (theo mỗi thành tàu – 2), đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi và cung cấp chỉ thị mục tiêu cho vũ khí tên lửa “Rangout”, 2 thiết bị pháo phòng không tự động nòng đôi AK-230 (theo 1 ở mũi và 1 ở mạn tàu) với đài ra đa định vị điều khiển “Rưs”. Các tên lửa có tầm bắn 35… 40km, tốc độ hành trình 320m/s, khối lượng bộ phận chiến đấu 480kg, việc tự dẫn bắn được thực hiện với sự hỗ trợ của đầu đạn ra đa định vị loại chủ động. Sự chuẩn bị bắn được thực hiện bằng hệ thống khí tài điều khiển bắn “Klen”. Trong vai trò các khí tài dự bị điều khiển bắn pháo (chế độ bằng tay) sử dụng cột quan sát kiểu “VK”.
Các tàu nhỏ tên lửa đề án 205 là giai đoạn phát triển trong Hải quân Liên Xô không chỉ tàu và thiết bị năng lượng và còn cả vũ khí. Lần đầu tiên trong ngành đóng tàu trong nước, trên tàu đã lắp vũ khí pháo điều khiển từ xa. Khi chế tạo các pháo tự động 30mm AK-230 đã sử dụng đồng thời chế tạo cho Không quân (pháo 30mm được chế tạo cho máy bay, còn sự điều khiển từ xa các pháo tương tự được tiếp nhận từ cuối những năm 1940 trong vũ khí tự vệ của các máy bay ném bom).
Dòng tàu nhỏ tên lửa đề án 205 có lượng choán nước tiêu chuẩn 173 tấn và hoàn toàn – 216 tấn, tốc độ tối đa được đảm bảo ở 38 hải lý, tầm bơi xa khi tốc độ 30 hải lý – 800 dặm, còn trong trữ lượng nhiên liệu tối đa và tốc độ 14 hải lý – 2000 dặm, thời gian hoạt động với trữ lượng thực phẩn và nước ngọt là 5 ngày. Ở phương Tây, các tàu Liên Xô nhận tên gọi lớp Osa.