Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:24:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315423 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #60 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2010, 11:33:46 am »

Chia sẻ các bài viết về Trại Đa-vít trên các báo Hà Nội mới (số ra ngày 28/4), báo Sài Gòn Giải phóng (số ra ngày 29/4) :


Gặp mặt - tâm tình :

« Sửa lần cuối: 15 Tháng Năm, 2010, 10:04:53 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #61 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2010, 10:09:18 pm »


Xẻ chia kỷ niệm qua các tấm ảnh xưa :



Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #62 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2010, 10:14:33 pm »


Cùng chụp ảnh kỷ niệm :


Chụp ảnh kỷ niệm với phóng viên :


Bên trong hội trường :

Logged

altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #63 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2010, 06:14:56 am »

Nhặt bên ACG một video quay cảnh quân ta ở Trại Davis:

http://www.youtube.com/watch?v=7d0zUlrAElY

Bác Giang thử cho các cụ xem có nhận ra được mình hay đồng đội trong đó không.  Smiley

Khoảng giây 00:37 - 00:40 camera quay cảnh chiến sỹ cảnh vệ (?) ta cầm khẩu súng gì bé tí thế các bác?


Còn đây là hành trình của một CCB từng đóng quân ở trại Davis đi tìm lại chốn cũ mới tháng trước.

http://www.youtube.com/watch?v=BDXYGymplvI
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #64 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2010, 02:17:07 am »

Không biết em có góp được gì mới không, nhưng đây là bài em mới viết và đăng trên Wiki. Mong các bác chỉ giáo thêm và đừng ném đá em  Grin

Trại Davis, mà trong một số tài liệu viết nhầm thành trại David, là một địa danh để chỉ một trại trại quân sự nằm ở phía Tây Nam Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn, trong thời gian diễn ra Chiến tranh Việt Nam[1]. Tuy nhiên, nó thường được biết đến nhiều hơn với tư cách là nơi đặt trụ sở của hai phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.

Sự hình thành

Nguyên thủy, đây là một trại cư trú của một nhóm công tác An ninh Quân đội Hoa Kỳ, được xây dựng vào khoảng giữa năm 1961. Đây là một đơn vị trực thuộc Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, được đưa sang Việt Nam với danh nghĩa Tổ Viễn thám số 3 (3rd Radio Research Unit - 3rd RRU), trực thuộc Phái bộ Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (Military Assistance Advisory Group, Vietnam - MAAG-V). Thực chất, đây là một đơn vị phụ trách về việc thu thập và giải mã các tín hiệu, cũng như xác định vị trí điện đài của đối phương, ngoài ra còn làm công tác cố vấn và hỗ trợ chuyên môn cho Nha An ninh Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Nguồn gốc tên gọi

Ban đầu trại không có tên gọi riêng. Ngày 22 tháng 12 năm 1961, một thành viên của Tổ Viễn thám số 3 là Hạ sĩ chuyên viên (Specialist Four) James Thomas Davis (1936-1961) bị quân du kích Cộng sản phục kích và giết chết tại vùng Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa (nay thuộc tỉnh Long An). Nhiều tài liệu thường nhầm lẫn, ông là người lính Mỹ đầu tiên bị giết chết tại Việt Nam.[2]

Để tưởng niệm ông, ngày 10 tháng 1 năm 1962, các bạn bè trong Tổ đã đặt trại cư trú của mình theo tên ông. Họ cũng dựng một khu tưởng niệm Davis nho nhỏ ở trong trại.

Ban đầu trại được gọi là "Davis Station". Đến năm 1966, Tổ Viễn thám số 3 được thay thế bằng Nhóm Viễn thám 509 (509th Radio Research Group - 509th RRG). Trại được nâng cấp và mở rộng, một thời gian thì được gọi là "Davis Camp". Nơi đây trở thành trại cư trú của 509th RRG cho đến cuối năm 1972 thì Nhóm được rút về nước theo điều khoản quy định của Hiệp định Paris 1973. Từ đó, trại bị bỏ hoang.[3]

Trụ sở 2 phái đoàn đại biểu quân sự

Theo các điều khoản của Hiệp định Paris, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã chọn trại Davis để làm nơi làm việc của phái đoàn đại biểu quân sự 4 bên cũng như nơi ở của hai phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, với lý do thuận tiện cho việc di chuyển của các phái đoàn bằng máy bay, đồng thời cơ sở vẫn còn tiện nghi. Tuy nhiên, theo Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự thì: "Sắp xếp cho hai đoàn ta ở trại Trại Đa-vít, chính quyền Sài Gòn muốn cô lập, ngăn không cho ta có điều kiện tiếp xúc với người dân Sài Gòn, đồng thời dễ bề kiểm soát thông tin, phá sóng, gây nhiễu điện của ta.".[4]

Phiên họp đầu tiên của Ban liên hợp quân sự 4 bên Trung ương được khai mạc vào 15 giờ 15 phút ngày 2 tháng 2 năm 1973 với sự có mặt của 4 vị trưởng đoàn gồm: Trung tướng Trần Văn Trà (Cộng hòa Miền Nam Việt Nam), Thiếu tướng Lê Quang Hòa (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), Trung tướng Ngô Du (Việt Nam Cộng hòa) và Thiếu tướng Gilbert H. Woodward (Hoa Kỳ). Ngày 28 tháng 3 năm 1973, Ban liên hiệp quân sự 4 bên Trung ương chấm dứt hoạt động. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Không lâu sau, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng rời khỏi trại.

Sau đó, Ban Liên hợp quân sự chỉ còn 2 bên là Đoàn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm Trưởng đoàn và Đoàn của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa do Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp làm Trưởng đoàn. Phái đoàn đạo biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam làm việc tại trại cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Hiện trạng

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trại có thời gian được sử dụng làm nơi làm việc của tướng Trần Văn Trà, với tư cách là Tư lệnh quân quản Sài Gòn. Một thời gian dài trại bị bỏ hoang. Hiện nay (2010), trại nằm trong khu quân sự thuộc sự quản lý của Sư đoàn không quân 370 và được sử dụng một phần để làm sân bóng đá. Tuy nhiên, khu vực trại đã được đề nghị phục dựng và công nhận trại Davis là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.


Chú thích
   1. ^ Nay thuộc phường 12, quân Tân Bình.
   2. ^ Thực ra người lính Mỹ đầu tiên được xem là chết ở Việt Nam là Trung tá OSS Albert Peter Dewey, người bị bắn chết bởi một sự nhầm lẫn của du kích Việt Minh vào ngày 26 tháng 9 năm 1945. Ngoài ra, người lính Mỹ đầu tiên chết trong Chiến tranh Việt Nam là Trung sĩ Kỹ thuật (Technical Sergeant) Richard B. Fitzgibbon Jr. (1920-1956), bị giết tại miền Nam Việt Nam ngày 6 tháng 8 năm 1956 bởi một người bạn đồng ngũ. Người lính Mỹ đầu tiên bị giết bởi đối phương trong Chiến tranh Việt Nam là Thiếu tá Lục quân Richard Dale Buis (1921-1959) và Thượng sĩ Chester Melvin Ovnand (1914-1959) trong một cuộc tấn công bằng bom của quân Cộng sản vào ngày 8 tháng 7 năm 1959 tại Biên Hòa.
   3. ^ Phạm Thắng Vũ, "Chuyện về Trại Davis trong Phi trường Tân Sơn Nhứt thời thi hành Hiệp định Paris năm 1973".
   4. ^ "Trại Đa-vít 823 ngày đêm", phần hồi ức của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự.
Logged
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #65 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2010, 10:08:08 am »

Để có thêm cái nhìn về Đa-vít từ phía bên kia, xin trích dẫn 1 đoạn trong cuốn "Sài Gòn sụp đổ" của Pauk Dreyfrus đã được số hóa tại : http://www.quansuvn.net/index.php?topic=949.0

3
UỶ BAN QUỐC TẾ GIÁM SÁT LÀM NHIỆM VỤ

29 tháng 1 năm 1973
 
Sáng hôm qua, Uỷ ban quốc tế giám sát ngừng bắn đã họp phiên đầu tiên ở Sài Gòn trong khung cảnh thiểu não: Từ phía xa xa tiếng đạn pháo vẫn nổ rền không ngớt. Không phải pháo nhỏ. Toàn cỡ 105, 155... Một lần nữa, pháo lại bắn suốt đêm chung quanh thành phố Sài Gòn bị ngột ngạt vì oi bức và xao xuyến vì hoang mang lo lắng. Bản hoà tấu đơn điệu này vẫn kéo dài mãi, trong lúc các thành viên có trách nhiệm giám sát việc thực hiện ngừng bắn theo Hiệp định Pari, gặp nhau lần đầu tiên.


Mười giờ sáng, Bộ tham mưu quân đội Nam Việt Nam công bố bản thông báo hằng ngày. Không phải để báo tin các hoạt động chiến sự đang giảm bớt. Ngược lại, 335 trận chiến đấu đã xảy ra, trong đó có một số là những trận chiến đấu thật sự, trong ngày thứ Bẩy. Tuy nhiên, ngày hôm trước kỷ lục còn cao hơn. Có tới 426 trận chiến đấu. Đến ngày thứ Hai, mọi người có thể sẽ nghĩ rằng cường độ giao tranh sẽ tiếp diễn, phụ thuộc vào ý chí quyết liệt của cả hai phía, không ai chịu nhường ai.


Vậy mà, tờ Sao và Vạch của quân đội Mỹ vừa phát hành cách đây mấy tiếng đồng hồ vẫn còn in trên trang nhất dòng chữ đậm nét to tướng It's all over (Mọi chuyện đã kết thúc). Quả là một nhận định kỳ quái!



Đại diện bốn nước ngồi chung quanh một chiếc bàn

Chào đón các thành viên Uỷ ban quốc tế chỉ có một nhóm nhà báo, khoảng một chục nữ nhân viên phục vụ dáng vẻ tò mò và vài đứa trẻ con ăn mặc bẩn thỉu.

Địa điểm đón tiếp thật thảm hại. Đó là một trại lính cũ của Pháp từ thời xưa, có những dãy nhà quét vôi màu vàng trên một bãi đất trọc, trụi cỏ, trồng cây, gần Câu lạc bộ thể thao. Khu vực này từ thời thuộc Pháp đã được gọi là “Trại lính lắm hồ ao".


Một viên cảnh sát đã mở những cánh cổng màu xanh dẫn vào khu nhà lớn nhất, cũng là ngôi nhà ít thảm hại nhất. Trong một gian phòng rộng hình chữ nhật trơ trụi, ngửi thấy mùi mốc, đã bố trí sẵn một chiếc bàn. Mặt bàn được phủ vội vã một tấm khăn có lẽ là khăn trải bàn mầu trắng từ thời chiến tranh thuộc địa của tướng Galliéni. Trên bàn có đặt vài chiếc cốc thuỷ tinh cọ rửa qua loa và bốn chai đựng nước uống, hứng từ vòi nước máy.


Ngồi chung quanh bàn là hai chục người đàn ông, gương mặt lộ rõ vẻ mệt nhọc. Bởi vì, tất cả đều vừa mới trải qua một chuyến đi dài để tới chiếc bàn không sang trọng này. Một số đã không chợp mắt từ hai đêm nay.


Phần lớn các thành viên đều trang phục mùa hè, màu sám hoặc xanh lơ, thắt cra-vát trên cổ áo sơ mi trắng theo đúng quy cách.


Nếu mọi người nhận ra ngay các thành viên quốc tịch Indonexia thì lại rất khó phân biệt những người Canada, Hungari và Ba Lan. Có hai sĩ quan Hungari mặc quân phục với những chiếc mũ mềm ka ki có lưỡi trai che mắt rất kỳ cục. Có hai người Canada, cũng là hai sĩ quan, mặc quần cộc màu xanh đậm, áo sơ mi xanh nhạt cộc tay. Ngồi sát gần chỗ tôi là một đại tá Ba Lan quân phục chải chuối, đeo đầy huân chương. Đây là người tôi có dịp trò chuyện, trước khi khai mạc cuộc họp.


Đến từ ba lục địa và thuộc những nước có chế độ chính trị khác nhau, song những thành viên này đều cùng chung mục đích: cố góp phần vào việc lập lại một nền hoà bình thật sự ở Nam Việt Nam.



Không làm gì cả.

Cuộc họp đầu tiên này kéo dài một giờ.

Buổi trưa, các nhà báo chúng tôi đến trụ sở của người Canada, đón đợi trưởng đoàn là ông Michel Gauvin, 53 tuổi, đã từng giữ chức đại sứ tại Hi Lạp, nay tới đây cùng với phó đoàn là thiếu tướng Mac Alpine.

Nhà ngoại giao này nói:

- Chúng tôi đã thảo luận về khả năng cử các phái đoàn giám sát tới bẩy bộ tư lệnh địa phương ở Nam Việt Nam. Nhưng trong lúc này chưa thực hiện được vì những lý do mà các ông đã biết. Lý do thứ nhất là các hoạt động chiến sự vẫn tiếp diễn. Uỷ ban quốc tế giám sát dĩ nhiên chỉ có thể hoạt động được nếu có ngừng bắn thật sự và có những đường ranh giới rõ ràng giữa các lực lượng đối địch.

Chúng tôi hỏi lại đại sứ:

- Nếu những cuộc chiến đấu cứ tiếp tục, các ngài sẽ làm gì?

Ông trả lời bằng tiếng Pháp:

- Chúng tôi không thể làm gì được.

Ông Michel Gauvin vừa mới tới Sài Gòn hồi hai giờ rưỡi sáng hôm nay. Nhưng ông biết rõ xứ sở này vì đã ở đây từ năm 1955. Dù chỉ mới trở lại đây một khoảnh khắc ngắn, qua giọng nói của ông chúng tôi được biết ông không nuôi ảo vọng gì về tương lai của Uỷ ban giám sát trong sứ mệnh kéo dài sáu mươi ngày. Ít nhất cũng là những ảo vọng trong tương lai gần.

Đại sứ tiếp tục nói:

- Chúng tôi chỉ có thể thực thi nhiệm vụ trong chừng mực hiệp định ngừng bắn được cả hai bên tôn trọng.

Một nhà báo Mỹ vụt hỏi ông:

- Có một cuộc chiến đấu bùng nổ ngay ở bên kia phố, thì các ngài sẽ làm gì?

Ông đáp lại bằng tiếng Anh, thẳng thừng như quất một ngọn roi:

- Nothing! (Không làm gì cả!)



Sự cố ở sân bay

Lý do thứ hai khiến cho Uỷ ban quốc tế giám sát ngừng bắn không thể nào bắt tay làm việc nhanh chóng như đã định là một bộ phận đoàn đại biểu Ba Lan chưa tới kịp Sài Gòn. Bộ phận này bị chậm trễ vì Hà Nội thiếu máy bay. Bởi vì tuyến đường bay duy nhất từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ có thể thực hiện trên một phương tiện duy nhất là bay qua Lào, một nước trung lập, nếu không nói là có xu hướng trung lập. Từ Hà Nội, mỗi tuần chỉ có một chuyến bay của hãng Aeroflot của Nga bay đi Viếng Chăn. Mọi người hình như quên mất chi tiết này.


Lý do thứ ba, quan trọng vô cùng, đang kìm hãm công việc của Uỷ ban quốc tế giám sát. Uỷ ban quân sự bốn bên do Hiệp định Paris chỉ định vẫn chưa bắt đầu thực hiện nhiệm vụ. Phía Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và Mỹ đã có thể sẵn sàng công việc vì đã có mặt tại những toà nhà lớn có điều hoà không khí, trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, tất cả các cổng ra vào đều canh gác kỹ. Nhưng các cấp tướng và sĩ quan cấp cao Việt cộng vẫn chưa có mặt. Người ta giải thích:

- Thật ra, họ đang ngồi trên một chiếc máy bay quân sự của Nam Việt Nam. Chiếc máy bay này đã hạ cánh, đậu gần nhà ga, nhưng họ không chịu xuống.


Lý do? Các nhà chức trách Nam Việt Nam đã đưa máy bay đón phái đoàn Việt cộng từ Băng Cốc. Phái đoàn này đã từ Paris tới thủ đô Thái Lan trên một chiếc máy bay của hãng hàng không Pháp Air France. Nhưng khi tới Sài Gòn, các nhân viên cảnh sát và hải quan yêu cầu họ làm các thủ tục nhập cảnh như những người nước ngoài. Và các sĩ quan Việt cộng đã đáp lại, không phải không có lý:


- Nước Việt Nam là một, không thể chia cắt được. Nguyên tắc này đã được công bố rõ trong Hiệp định Paris vừa ký kết. Đó cũng là điều Hiệp định Genève 1954 đã ghi nhận. Hôm nay là ngày chúng tôi trở về đất nước của chúng tôi. Đây là nhà của chúng tôi. Chúng tôi kiên quyết không chịu để đối xử như những người nước ngoài…


Những sĩ quan Việt cộng này vẫn sẽ còn ngồi trong khoang máy bay nếu như đến giờ ăn trưa chính quyền Sài Gòn không nhượng bộ bằng cách tạo ra một cái cớ để đỡ mất thể diện, theo kiểu châu Á.



Và đến bây giờ?

Cuối cùng, các tiểu ban đã có thể bắt tay vào việc.

Tiểu ban quân sự bốn bên có nhiệm vụ làm cho các lực lượng quân sự Bắc Việt, Nam Việt và Việt cộng1 (Trong cuốn sách này, Paul Dreyfus dùng từ "Việt cộng" để chỉ những thành viên thuộc Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) “đóng ở nguyên các vị trí” (theo điều 3 chương A Hiệp định Paris) và cấm ngặt "các hoạt động thù địch, khủng bố, đàn áp" (điều 3, chương C).


Về phần uỷ ban quốc tế giám sát, các thành viên sẽ đi khắp lãnh thổ Nam Việt Nam để thừa nhận hoặc ghi nhận những vi phạm hiệp định đã ký kết tại phố Kleber Paris.


Nhưng, để làm việc này, trước hết phải có ngừng bắn. Mà, lúc này, súng lại bắn gấp đôi.

Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và cộng sản Việt Nam đã kết thúc. Nước Mỹ thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng cuộc chiến tranh Việt - Việt đang ác liệt. Nhìn về phía chân trời lúc này, chỉ thấy máu và nước mắt.  
(còn tiếp)
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Bảy, 2010, 10:34:47 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #66 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2010, 10:31:44 am »

(Tiếp theo)
4
SPIRO AGNEW ĐẾN SÀI GÒN TRONG CẢNH TRÀN NGẬP RỐI REN

30 tháng 1 năm 1973
....
Chúng tôi không chịu ra khỏi đây

Tân Sơn Nhất, sân bay dân sự và quân sự, chiếm một diện tích lớn như một thành phố loại trung bình của nước Pháp, là một căn cứ luôn luôn được phòng thủ vững chắc. Đây là một vị trí có tầm quan trọng chiến lược quá lớn tới mức không thể bỏ mặc cho đặc công Việt cộng được trang bị vũ khí phóng rốc két tầm xa mười một kilômét tự do bắn phá.


Ngay cả khi đã có hiệp định ngừng bắn, Tân Sơn Nhất vẫn còn là một pháo đài ghê gớm tua tủa vũ khí như con nhím. Sáng hôm qua, chúng tôi chỉ có thể vào được đây do được phép ngồi trong một chiếc xe quân sự của Mỹ có một thiếu tá quân phục chỉnh tề mở đường tiên vào sân bay. Tại sao phải áp dụng những biện pháp đề phòng này? Trên thực tế hiện nay sân bay đang có những phái đoàn cộng sản thành viên của các tiểu ban quân sự đình chiến. Vậy mà, mới hôm qua, một sự cố nghiêm trọng đã đẩy một trong các phái đoàn này vào tình trạng đối lập với các nhà chức trách Sài Gòn.


Câu chuyện như sau:

Khoảng một trăm sĩ quan Bắc Việt vừa tới căn cứ không quân Tân Sơn Nhất trên hai chiếc máy bay vận tải hai động cơ C130 Hercules của lực lượng không quân vận tải Hoa Kỳ. Các nhà chức trách Sài Gòn lại có ý định buộc các đại biểu này phải tiến hành các thủ tục nhập cảnh như đã áp dụng đối với những người nước ngoài. Ngày hôm trước, phái đoàn Việt cộng đã không chịu theo các thủ tục do cảnh sát và nhân viên hải quan yêu cầu. Hôm nay, đến lượt các sĩ quan Bắc Việt cũng không chịu làm thu tục, với các lý do tương tự. Họ nói:

- Sự thống nhất của nước Việt Nam đã được công nhận ngay từ Hiệp định Genève 1954, và tuần trước lại được Hiệp định Paris 1973 tái khẳng định ngay trong điều một của văn bản. Chúng tôi không thể bị đối xử như những người nước ngoài. Chúng tôi từ chối tuân theo các thủ tục do chính quyền Sài Gòn tự tạo ra nhằm làm chậm trễ công việc của các tiểu ban trong Uỷ ban giám sát. Chúng tôi sẽ không ra khỏi đây chừng nào vấn đề này chưa được giải quyết. Chúng tôi cứ ngồi ở ngay trong khoang máy bay này.



Những người vô hình

Họ đã ngồi trên máy bay hết giờ này sang giờ khác. Kể lại trong một hàng chữ thì rất ngắn. Nhưng thực tế thì rất dài. Cũng cần biết thêm, trong chiếc máy bay vận tải quân sự Hercules của Mỹ không có đầy đủ tiện nghi vì loại này chỉ dùng để chở hàng hoặc thả dù. Thời tiết rất nóng. Máy bay lại đỗ trên đường băng xi măng bị hun nóng như lò bánh mì.


Những lính canh của quân đội Sài Gòn đội mũ sắt được bố trí vây quanh máy bay.

Còn những lính Mỹ, vừa mới hôm qua còn là kẻ địch thì thỉnh thoảng lại mang bánh mì kẹp thịt, nước chanh giải khát... tới mời các sĩ quan tự nguyện ngồi lì trên máy bay.


Trong khi đó chính quyền Sài Gòn vẫn cứng đầu cứng cổ. Họ tuyên bố:

- Hôm qua, chúng tôi đã tìm được một giải pháp đối với Việt cộng. Dù sao đó cũng là những người Nam Việt Nam. Nhưng, đối với những phái viên của Bắc Việt, không có vấn đề nhân nhượng nào cả.

Đại sứ Hoa Kỳ phải ra tay can thiệp, nói:

- Phó tổng thống Agnew đang tới thăm các ngài. Nhất định, các ngài phải tìm ra giải pháp. Nếu sự cố này không được giải quyết trong thời gian Phó tổng thống qua thăm, có thể sẽ dẫn đến hậu quả xấu nhất.


Như vậy là, chỉ ba mươi nhăm phút sau khi chiếc Boeing màu trắng và xanh chở ngài Spiro Agnew hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, chính quyền Sài Gòn đã tìm được giải pháp. Các đại biểu Bắc Việt bước ra khỏi máy bay, mệt mỏi vì đã ngồi trong khoang nóng bỏng tới hai mươi giờ. Nhưng họ đã thắng.


Nhưng rồi họ đi đâu? Không ai biết. Một trong số bạn đồng nghiệp của tôi vừa đi một mình vào cổng sân bay căn cứ không quân Tân Sơn Nhất đã bị lính canh của quân đội Sài Gòn tịch thu hết giấy tờ. Một người khác, vừa lái xe tới gần rào cản, đã bị một loạt đạn bắn vỡ lốp xe.


Không nhà báo nào được liếp xúc với các thành viên phái đoàn Bắc Việt và Việt cộng. Cũng không biết họ ở đâu Trong lúc này, họ đang là những người vô hình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #67 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2010, 10:55:23 am »

(Tiếp theo)
10
CUỘC TIẾP XÚC CHỚP NHOÁNG VỚI MỘT ÔNG TƯỚNG VIỆT CỘNG


3 tháng 2 năm 1973

Ngày hôm qua, ngay tại Trung tâm thành phố Sài Gòn tôi đã gặp một ông tướng Việt cộng mặc quân phục. ông đang ăn cơm trưa tại thành phố. Dĩ nhiên, không phải là một bữa ăn thịnh soạn. Đây là bữa cơm "vừa ăn vừa làm việc" do đại sứ Michel Gauvin, trưởng đoàn Canada trong ban quốc tế kiểm soát ngừng bắn, tổ chức. Chung quanh bữa ăn tại biệt thự trồng nhiều hoa, có các trưởng đoàn Ba Lan, Hungari, Indonexia.


Cùng đi với bốn người mặc thường phục là các quân nhân: Đó là bốn trưởng đoàn đại biểu thuộc tiểu ban quân sự bốn bên: Thiếu tướng Mỹ Gilbert Woodward tham mưu trưởng bộ tư lệnh quân sự Mỹ tại Sài Gòn, trung tướng Ngô Du, trung tướng Bắc Việt Lê Quang Hoà, Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị quân đội nhân dân Việt Nam tại Hà Nội và tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh thuộc tổng hành dinh Mặt trận dân tộc giải phóng, do một chiếc máy bay lên thẳng lên tận bưng biền Lộc Ninh tìm đón, đưa về đây vài hôm trước.


Tướng Bắc Việt mặc quân phục ka ki với các cấp hiệu và huân chương. Tướng Việt cộng mặc bộ đồ trận màu xanh lá cây, không đeo sao và dải huân chương, đội mũ cứng như các sĩ quan của Mặt trận dân tộc giải phóng. Trong các khách mời với các bộ đồ may đo sang trọng, ông là vị tướng chiến đấu xuất hiện từ rừng rậm.


Cũng như người đồng nghiệp Bắc Việt, đây là lần đầu tiên ông ra khỏi sân bay Tân Sơn Nhất là nơi ông từng sống kể từ ngày tới Sài Gòn, trong một căn nhà có máy điều hoà không khí, được canh gác, bảo vệ nghiêm mật hơn cả bảo vệ những kho trang sức quý giá của hoàng hậu Ran.

Ông đến đây trên một xe hơi to lớn của Mỹ.

Sau bữa ăn, các vị khách ra khỏi phòng, đứng trên bậc thềm, đồng ý cho chụp ảnh. Đây là lần đầu tiên các cựu địch thủ thoả thuận cùng để lộ mặt trên phim ảnh. Tất nhiên, họ từ chối một cuộc phỏng vấn. Trung tướng Việt cộng Trần Văn Trà vẫn muốn trả lời ngắn gọn vài câu hỏi. Cũng như bạn đồng nghiệp Bắc Việt, ông khẳng định rõ ý muốn thiết lập một cuộc ngừng bắn thật sự. Ông nói:

- Chúng tôi đến đây để góp phần vãn hồi hoà bình. Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam cũng như Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn hoà bình.


Ông phàn nàn về những khó khăn đã ngăn trở tiểu ban quân sự bốn bên công tác hiệu quả như cần thiết. Ông tố cáo chính quyền Nam Việt Nam, nhưng không nêu đích danh, đã chọc gậy vào bánh xe. Ông bộc lộ một sự lo ngại về tương lai khi vạch rõ tất cả những trở ngại này còn xa mới vượt được.

Sau khi nói xong, ông tiến lại gần một lính dù đang làm nhiệm vụ canh gác biệt thự. Ông giơ tay, nói:

- Chiến tranh đã kết thúc. Phải hoà giải.

Tên lính dù sững sờ, không biết phản ứng như thế nào. Bắt tay ư? Rất có thể sẽ bị cấp trên khiển trách. Bồng súng chào ư? Điều này không ghi trong điều lệnh, nhất là trong những tình huống như thế này. Hạ gục tại chỗ viên tướng Việt cộng ư? Ngay trên bậc thềm toà nhà ngoại giao, đây là một hành động gây ấn tượng xấu.

Anh lính quyết định đứng im. Dù sao anh cũng mỉm cười. Đây là nụ cười đầu tiên của hoà bình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #68 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2010, 06:30:36 pm »

(tiếp theo)
Đoạn sau đây mô tả Thiếu tá Nguyễn Thị Ngọc Dung tại Sài Gòn:
59
BÀ THIẾU TÁ TRUY QUÉT NHỮNG KẺ THÙ CỦA NHÂN DÂN
Thứ Hai 12 tháng 5

Trong bộ quân phục màu xanh lá cây, người đàn bà này không đeo một cấp hiệu gì hết. Vậy mà bà đã là thiếu tá và giữ một vai trò quan trọng trong bưng biền Việt cộng.

Tuần trước, tôi đã nhìn thấy bà ngồi bên cạnh tướng Trần Văn Trà, phiên dịch cho Chủ tịch Uỷ ban quân quản. Hôm nay, tôi lại nhìn thấy bà tại Bộ Ngoại giao chưa có Bộ trưởng.

Bà có những dáng nét hài hoà, cặp mắt hạt dẻ gợi cảm, bộ tóc đen dài. được tết lại và cuộn thành một búi nhỏ, khó đoán được tuổi. Tiếng Pháp của bà không chê vào đâu được. Bà đã ở Paris ba năm.

- Vậy thưa bà thiếu tá, chúng tôi có thể sắp tới sẽ được rời khỏi Sài Gòn.

- Tôi mong muốn như vậy.

- Tại sao người ta lại yêu cầu chúng tôi tới đăng ký, nếu không phải để tổ chức cho chúng tôi về nước.

- Đó là do chúng tôi muốn biết chính xác, có bao nhiêu người nước ngoài ở Sài Gòn.


Quả là bất ngờ. Chính nhân dịp này đã phát hiện thấy còn có những người Mỹ ở Sài Gòn. Tôi không nói tới các nhà báo, còn lại tới hàng chục mà là những "cố vấn, Mỹ bị lỡ chuyến máy bay lên thẳng cuối cùng. Số này có lới mấy chục người.

Bà thiếu tá hỏi lại tôi:

- Tại sao các ông không ở lại Việt Nam một thời gian nữa?

- Bởi vì chúng tôi thấy, thời hạn của chúng tôi đã kéo dài quá lâu rồi. Nếu còn có thể được chúng tôi muốn đi Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng hoặc vùng châu thổ sông Cửu Long.

- Tôi khuyên ông đừng làm như vậy.

- Tại sao? Không còn một nguy hiểm nào nữa, chỉ có xăng là thiếu, buộc chúng tôi phải tê liệt.

- Ông nghĩ sai rồi. Những kẻ thù của chúng ta chưa chịu khuất phục. Chứng cớ là, chúng tôi đã ra lệnh phải nộp vũ khí, nhưng mới chỉ thu hồi được một số rất ít.

- Nhưng mọi cuộc kháng cự đã ngừng từ lâu. Đất nước hoàn toàn yên tĩnh.

- Đúng vậy. Chúng tôi biết, các ông là những người tốt, và chúng tôi cũng biết các ông làm việc cho những tờ báo nào. Nhưng vẫn còn có những kẻ bất lương.

- Nếu không được đi xa thì liệu chúng tôi có được gặp các vị thành viên trong Chính phủ Cách mạng lâm thời không? Cho tới nay, chúng tôi mới chỉ được nhìn thấy một vị.

- Tại sao các ông không tìm gặp những thanh niên, sinh viên? Các ông biết, họ có những chuyện lý thú.

- Đúng vậy. Và chúng tôi đã liếp xúc với họ rồi. Nhưng chúng tôi còn muốn tiếp xúc tới những nhân vật cấp cao hơn.

- Tôi sẽ chú ý đến việc này. Tôi sẽ cố gắng theo khả năng. Đến đây, kết thúc buổi nói chuyện với bà thiếu tá Nguyễn Ngọc Dung.

(Hết trích dẫn)
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Bảy, 2010, 06:52:07 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

bob
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 924


« Trả lời #69 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2010, 03:44:57 pm »

Bác GiangTVX ơi. Sau ngày 30 tháng 4/1975, E24, f10 của Bob đứng chân ngay khu vực sân bay Tân sơn nhất. Hôm lang thang trong khu nhà của phái đoàn Ba lan (phía ngoài sân bay). Bob "sưu tầm" được cái xà cột bằng da của Ba lan (chính hiệu) Bob còn giữ đến nay: Bob có ý định gửi về bảo tàng quân đội (coi như một hiện vật chứng minh sự có mặt của đoàn Ba lan ở VN giám sat thực hiện HĐ Pa ri). Xin ý kiến bác: có nên gửi  về bảo tàng không? -Điện thoại của Bob:  0963 461 603. Xin cảm ơn. 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM