Để có thêm cái nhìn về Đa-vít từ phía bên kia, xin trích dẫn 1 đoạn trong cuốn "Sài Gòn sụp đổ" của Pauk Dreyfrus đã được số hóa tại :
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=949.03
UỶ BAN QUỐC TẾ GIÁM SÁT LÀM NHIỆM VỤ
29 tháng 1 năm 1973 Sáng hôm qua, Uỷ ban quốc tế giám sát ngừng bắn đã họp phiên đầu tiên ở Sài Gòn trong khung cảnh thiểu não: Từ phía xa xa tiếng đạn pháo vẫn nổ rền không ngớt. Không phải pháo nhỏ. Toàn cỡ 105, 155... Một lần nữa, pháo lại bắn suốt đêm chung quanh thành phố Sài Gòn bị ngột ngạt vì oi bức và xao xuyến vì hoang mang lo lắng. Bản hoà tấu đơn điệu này vẫn kéo dài mãi, trong lúc các thành viên có trách nhiệm giám sát việc thực hiện ngừng bắn theo Hiệp định Pari, gặp nhau lần đầu tiên.
Mười giờ sáng, Bộ tham mưu quân đội Nam Việt Nam công bố bản thông báo hằng ngày. Không phải để báo tin các hoạt động chiến sự đang giảm bớt. Ngược lại, 335 trận chiến đấu đã xảy ra, trong đó có một số là những trận chiến đấu thật sự, trong ngày thứ Bẩy. Tuy nhiên, ngày hôm trước kỷ lục còn cao hơn. Có tới 426 trận chiến đấu. Đến ngày thứ Hai, mọi người có thể sẽ nghĩ rằng cường độ giao tranh sẽ tiếp diễn, phụ thuộc vào ý chí quyết liệt của cả hai phía, không ai chịu nhường ai.
Vậy mà, tờ Sao và Vạch của quân đội Mỹ vừa phát hành cách đây mấy tiếng đồng hồ vẫn còn in trên trang nhất dòng chữ đậm nét to tướng It's all over (Mọi chuyện đã kết thúc). Quả là một nhận định kỳ quái!
Đại diện bốn nước ngồi chung quanh một chiếc bànChào đón các thành viên Uỷ ban quốc tế chỉ có một nhóm nhà báo, khoảng một chục nữ nhân viên phục vụ dáng vẻ tò mò và vài đứa trẻ con ăn mặc bẩn thỉu.
Địa điểm đón tiếp thật thảm hại. Đó là một trại lính cũ của Pháp từ thời xưa, có những dãy nhà quét vôi màu vàng trên một bãi đất trọc, trụi cỏ, trồng cây, gần Câu lạc bộ thể thao. Khu vực này từ thời thuộc Pháp đã được gọi là “Trại lính lắm hồ ao".
Một viên cảnh sát đã mở những cánh cổng màu xanh dẫn vào khu nhà lớn nhất, cũng là ngôi nhà ít thảm hại nhất. Trong một gian phòng rộng hình chữ nhật trơ trụi, ngửi thấy mùi mốc, đã bố trí sẵn một chiếc bàn. Mặt bàn được phủ vội vã một tấm khăn có lẽ là khăn trải bàn mầu trắng từ thời chiến tranh thuộc địa của tướng Galliéni. Trên bàn có đặt vài chiếc cốc thuỷ tinh cọ rửa qua loa và bốn chai đựng nước uống, hứng từ vòi nước máy.
Ngồi chung quanh bàn là hai chục người đàn ông, gương mặt lộ rõ vẻ mệt nhọc. Bởi vì, tất cả đều vừa mới trải qua một chuyến đi dài để tới chiếc bàn không sang trọng này. Một số đã không chợp mắt từ hai đêm nay.
Phần lớn các thành viên đều trang phục mùa hè, màu sám hoặc xanh lơ, thắt cra-vát trên cổ áo sơ mi trắng theo đúng quy cách.
Nếu mọi người nhận ra ngay các thành viên quốc tịch Indonexia thì lại rất khó phân biệt những người Canada, Hungari và Ba Lan. Có hai sĩ quan Hungari mặc quân phục với những chiếc mũ mềm ka ki có lưỡi trai che mắt rất kỳ cục. Có hai người Canada, cũng là hai sĩ quan, mặc quần cộc màu xanh đậm, áo sơ mi xanh nhạt cộc tay. Ngồi sát gần chỗ tôi là một đại tá Ba Lan quân phục chải chuối, đeo đầy huân chương. Đây là người tôi có dịp trò chuyện, trước khi khai mạc cuộc họp.
Đến từ ba lục địa và thuộc những nước có chế độ chính trị khác nhau, song những thành viên này đều cùng chung mục đích: cố góp phần vào việc lập lại một nền hoà bình thật sự ở Nam Việt Nam.
Không làm gì cả.Cuộc họp đầu tiên này kéo dài một giờ.
Buổi trưa, các nhà báo chúng tôi đến trụ sở của người Canada, đón đợi trưởng đoàn là ông Michel Gauvin, 53 tuổi, đã từng giữ chức đại sứ tại Hi Lạp, nay tới đây cùng với phó đoàn là thiếu tướng Mac Alpine.
Nhà ngoại giao này nói:
- Chúng tôi đã thảo luận về khả năng cử các phái đoàn giám sát tới bẩy bộ tư lệnh địa phương ở Nam Việt Nam. Nhưng trong lúc này chưa thực hiện được vì những lý do mà các ông đã biết. Lý do thứ nhất là các hoạt động chiến sự vẫn tiếp diễn. Uỷ ban quốc tế giám sát dĩ nhiên chỉ có thể hoạt động được nếu có ngừng bắn thật sự và có những đường ranh giới rõ ràng giữa các lực lượng đối địch.
Chúng tôi hỏi lại đại sứ:
- Nếu những cuộc chiến đấu cứ tiếp tục, các ngài sẽ làm gì?
Ông trả lời bằng tiếng Pháp:
- Chúng tôi không thể làm gì được.
Ông Michel Gauvin vừa mới tới Sài Gòn hồi hai giờ rưỡi sáng hôm nay. Nhưng ông biết rõ xứ sở này vì đã ở đây từ năm 1955. Dù chỉ mới trở lại đây một khoảnh khắc ngắn, qua giọng nói của ông chúng tôi được biết ông không nuôi ảo vọng gì về tương lai của Uỷ ban giám sát trong sứ mệnh kéo dài sáu mươi ngày. Ít nhất cũng là những ảo vọng trong tương lai gần.
Đại sứ tiếp tục nói:
- Chúng tôi chỉ có thể thực thi nhiệm vụ trong chừng mực hiệp định ngừng bắn được cả hai bên tôn trọng.
Một nhà báo Mỹ vụt hỏi ông:
- Có một cuộc chiến đấu bùng nổ ngay ở bên kia phố, thì các ngài sẽ làm gì?
Ông đáp lại bằng tiếng Anh, thẳng thừng như quất một ngọn roi:
- Nothing! (Không làm gì cả!)
Sự cố ở sân bayLý do thứ hai khiến cho Uỷ ban quốc tế giám sát ngừng bắn không thể nào bắt tay làm việc nhanh chóng như đã định là một bộ phận đoàn đại biểu Ba Lan chưa tới kịp Sài Gòn. Bộ phận này bị chậm trễ vì Hà Nội thiếu máy bay. Bởi vì tuyến đường bay duy nhất từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ có thể thực hiện trên một phương tiện duy nhất là bay qua Lào, một nước trung lập, nếu không nói là có xu hướng trung lập. Từ Hà Nội, mỗi tuần chỉ có một chuyến bay của hãng Aeroflot của Nga bay đi Viếng Chăn. Mọi người hình như quên mất chi tiết này.
Lý do thứ ba, quan trọng vô cùng, đang kìm hãm công việc của Uỷ ban quốc tế giám sát. Uỷ ban quân sự bốn bên do Hiệp định Paris chỉ định vẫn chưa bắt đầu thực hiện nhiệm vụ. Phía Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và Mỹ đã có thể sẵn sàng công việc vì đã có mặt tại những toà nhà lớn có điều hoà không khí, trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, tất cả các cổng ra vào đều canh gác kỹ. Nhưng các cấp tướng và sĩ quan cấp cao Việt cộng vẫn chưa có mặt. Người ta giải thích:
- Thật ra, họ đang ngồi trên một chiếc máy bay quân sự của Nam Việt Nam. Chiếc máy bay này đã hạ cánh, đậu gần nhà ga, nhưng họ không chịu xuống.
Lý do? Các nhà chức trách Nam Việt Nam đã đưa máy bay đón phái đoàn Việt cộng từ Băng Cốc. Phái đoàn này đã từ Paris tới thủ đô Thái Lan trên một chiếc máy bay của hãng hàng không Pháp Air France. Nhưng khi tới Sài Gòn, các nhân viên cảnh sát và hải quan yêu cầu họ làm các thủ tục nhập cảnh như những người nước ngoài. Và các sĩ quan Việt cộng đã đáp lại, không phải không có lý:
- Nước Việt Nam là một, không thể chia cắt được. Nguyên tắc này đã được công bố rõ trong Hiệp định Paris vừa ký kết. Đó cũng là điều Hiệp định Genève 1954 đã ghi nhận. Hôm nay là ngày chúng tôi trở về đất nước của chúng tôi. Đây là nhà của chúng tôi. Chúng tôi kiên quyết không chịu để đối xử như những người nước ngoài…
Những sĩ quan Việt cộng này vẫn sẽ còn ngồi trong khoang máy bay nếu như đến giờ ăn trưa chính quyền Sài Gòn không nhượng bộ bằng cách tạo ra một cái cớ để đỡ mất thể diện, theo kiểu châu Á.
Và đến bây giờ?
Cuối cùng, các tiểu ban đã có thể bắt tay vào việc.
Tiểu ban quân sự bốn bên có nhiệm vụ làm cho các lực lượng quân sự Bắc Việt, Nam Việt và Việt cộng1 (Trong cuốn sách này, Paul Dreyfus dùng từ "Việt cộng" để chỉ những thành viên thuộc Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) “đóng ở nguyên các vị trí” (theo điều 3 chương A Hiệp định Paris) và cấm ngặt "các hoạt động thù địch, khủng bố, đàn áp" (điều 3, chương C).
Về phần uỷ ban quốc tế giám sát, các thành viên sẽ đi khắp lãnh thổ Nam Việt Nam để thừa nhận hoặc ghi nhận những vi phạm hiệp định đã ký kết tại phố Kleber Paris.
Nhưng, để làm việc này, trước hết phải có ngừng bắn. Mà, lúc này, súng lại bắn gấp đôi.
Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và cộng sản Việt Nam đã kết thúc. Nước Mỹ thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng cuộc chiến tranh Việt - Việt đang ác liệt. Nhìn về phía chân trời lúc này, chỉ thấy máu và nước mắt.
(còn tiếp)