Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 04:12:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 202076 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #40 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2010, 01:30:12 am »

Ở một bài khác mình đọc thì thấy thế này
Động cơ không dùng không khí (AIP – Air Independent Propulsion)

Tàu ngầm ngày nay để tránh bị phát hiện và thực hiện các cuộc lặng dài ngày cần phải sử dụng các loại động cơ không cần không khí (AIP – Air Independent Propulsion) để lặn sâu và lâu hơn. Một trong những loại động cơ đó là động cơ sữ dụng pin nhiên liệu.


Pin Nhiên Liệu (Fuel cells)

Pin nhiên liệu hoạt động bằng phản ứng kết hợp oxy và hydro từ đó nước, điện và nhiệt. Loại pin nhiên liệu này có rất nhiều tiềm năng cho các ứng dụng trong lĩnh vực không gian cũng như các ngành công nghiệp tự động hoá khác. Có nhiều dạng pin năng lượng, nhưng loại thường được ứng dụng cho tàu ngầm được gọi là PEM (Polymer Electrolyte Membrane) - loại này hiện nay gây đươc nhiều sự chú ý do hoạt động ở nhiệt độ thấp (80oC) và ít hao nhiệt lượng.

Trong thiết bị PEM, khí hydro áp lực cao được đưa vào anode của pin, nơi thanh platinum làm xúc tác sẽ phân ly mỗi cặp phân tử hydro thành 4 ion H+ and 4 điện tử. Các điện tử rời anode và một dòng điện được tạo ra. Đồng thời, tại cathode, mỗi phân tử oxy bị tách ra thành các nguyên tử. Các ion H+ từ anode sẽ di chuyển sang phía cathode và ở đó ion H+ kết hợp với oxy tạo thành nước. Tổng quát quá trình này được mô tả bằng công thức 2H2 + O2 => 2H2O, phần thải ra của pin nhiên liệu chỉ là nước. Mỗi pin nhiên liệu như trên tạo ra được 1 dòng điện 0.7volts DC, một số lượng lớn các pin nhiên liệu kết nối song song sẽ cho ra một dòng điện lớn hữu dụng.

Hiện nay pin nhiên liệu đã chế tạo và sữ dụng thành công trong các chương trình klhông gian của Mỹ và đang được nghiên cứu tăng hiệu điện thế để trớ thành một trong những nguồn năng lượng chính của tàu ngầm.

Thách thức lớn nhất của pin nhiên liệu là việc dự trữ các thành phần hydro và oxy - nhất là hydro vì dự trữ hydro ở dạng lỏng, áp suất cao rất nguy hiểm. Một trong những giải pháp là trữ hydro dưới dạng hydride kim loại ở áp suất thấp, nhiệt độ bằng nhiệt độ nước biển xung quanh và khi cần sữ dụng hydro, ta có thể trích ly hydro từ hỗn hợp bằng cách thay đổi nhiệt độ và áp suất.
Logged
twosoul
Thành viên
*
Bài viết: 77


« Trả lời #41 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 01:29:27 pm »

Đã lâu không thấy anh donga post bài mới,nhân tiện e tìm được chút thông tin về tàu ngầm,mọi người đọc tạm trong khi chờ anh donga. Grin

Tìm hiểu công nghệ AIP

Khái niệm về AIP hình thành rất sớm từ thế kỷ 19, tuy nhiên rào cản kỹ thuật khiến công nghệ phát triển chậm chạp.

 Lịch sử hình thành

AIP Air Independent Propulsion (động cơ đẩy sử dụng không khí độc lập), được đề xuất bởi kỹ sư nổi tiếng người Tây Ban Nha, ông Narcís Monturiol i Estarriol. Năm 1867, ông đã phát minh thành công một động cơ đẩy không khí độc lập dựa trên một phản ứng hóa học.


Nhờ vậy, Estarriol được mệnh danh là cha đẻ của công nghệ AIP. Dù khái niệm về AIP được người Tây Ban Nha đưa ra đầu tiên nhưng Nga mới là nước áp dụng công nghệ này vào tàu ngầm.

Năm 1908, Hải quân Đế quốc Nga phát triển thành công tàu ngầm chạy bằng động cơ xăng sử dụng khí nén. Oxy cho động cơ được cung cấp qua 45 chai khí nén, có thể tích tương đương 9,9 m3. Hệ thống khí nén này có thể giúp tàu hoạt động liên tục dưới nước với quãng đường 52km.

Đến năm 1930, tiến sĩ Helmuth Walter, một kỹ sư xuất sắc của Đức đã phát triển một động cơ đẩy AIP mới sử dụng chất hydrogen peroxide (H2O2) tinh khiết làm chất oxy hóa để tạo không khí cho động cơ.

Trong hệ thống mới của Walter, hydrogen peroxide được phân hủy bằng cách sử dụng chất xúc tác có tên là permanganat. Phản ứng hóa học này tạo ra hơi nước ở nhiệt độ cao và oxy tự do.

Buồng phản ứng được bơm thêm nhiên liệu diesel, đốt cháy với oxy tạo ra một hỗn hợp hơi nước và khí nóng làm quay một tuốc bin với tốc độ cao. Khí thải và hơi nước được ngưng tụ lại trước khi được xả ra biển. Thiết kế của Walter nhằm tạo ra một động cơ đẩy tốc độ cao dưới nước chứ không phải là một động cơ độ bền cao. Mẫu tàu ngầm thử nghiệm V80 đạt tốc độ lên đến 28,1 hải lý/giờ ở trạng thái ngập nước, trong khi các tàu ngầm khác chỉ có tốc độ 10 hải lý/h khi lặn.


Type-XVIIB tàu ngầm AIP đầu tiên của Đức.

Dựa trên mẫu thử nghiệm V80, Đức đã phát triển thành công tàu ngầm lớp Type XVIIB, được trang bị hai động cơ tuốc bin công suất 2.500 mã lực. Tàu ngầm này có thể đạt tốc độ tới 20,25 hải lý/giờ. Tuy nhiên, nền công nghiệp của Đức thời đó không thể đảm bảo được số lượng hydrogen peroxide cần thiết.

Một vấn đề nữa là hydrogen peroxide không ổn định trong môi trường khép kín, hệ thống đẩy này tồn tại quá nhiều vấn đề về kỹ thuật và an toàn, do đó, tàu ngầm Type XVIIB không bao giờ được tham chiến.

Sau này, Liên Xô phát triển công nghệ AIP với khái niệm động cơ diesel chu kỳ khép kín, mô hình này tỏ ra khá hiệu quả bởi hệ thống đẩy sử dụng oxy lỏng và nhiên liệu diesel. Thiết kế tiêu biểu là tàu ngầm Project 615 (NATO định danh là lớp Quebec), được trang bị 2 động cơ diesel thông thường và một động cơ diesel chu kỳ khép kín khi ngập nước.


Tàu ngầm lớp Project 615 là tàu ngầm AIP đầu tiên của Hải quân Liên Xô.

Đã có tới 30 chiếc tàu ngầm lớp Quebec được chế tạo trong giai đoạn 1953-1957, tuy nhiên loại tàu ngầm này không phù hợp để tham chiến.

Hơn nữa nó không thực sự an toàn, hệ thống nhiên liệu oxy lỏng có thể phát nổ bất cứ lúc nào, các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô thường gọi những chiếc tàu ngầm này là “cái bật lửa hút thuốc”.

Dù có khả năng hoạt động lâu hơn ở chế độ ngập nước, song vì lý do an toàn, những chiếc tàu ngầm lớp Quebec bị loại khỏi biên chế vào năm 1970.

Năm 1952, Liên Xô đã cố gắng phát triểm tàu ngầm AIP dựa trên khái niệm của tiến sĩ Helmuth Walter và chế tạo tàu ngầm Project 617 đi vào phục vụ năm 1958, tuy nhiên, một vụ nổ lớn đã chấm dứt chương trình vào năm 1959.

Từ đó đến nay, Liên Xô và Nga hiện nay tập trung vào phát triển các tàu ngầm động lực hạt nhân và chỉ phát triển các động cơ AIP ở quy mô nghiên cứu.

Với Mỹ và Anh, sau chiến tranh thế giới thứ 2, hai nước cũng đã thử nghiệm phát triển các động cơ AIP theo khái niệm của tiến sĩ Walter, trong đó có mẫu thử nghiệm X1 của Mỹ. Tuy nhiên, vào năm 1950, Mỹ ngưng toàn bộ sự phát triển các động cơ AIP bởi hệ thống động lực hạt nhân đã được phát triển hoàn thiện. Hơn nữa, quan điểm tác chiến của Hải quân Mỹ là chỉ tập trung phát triển lực lượng tàu ngầm hạt nhân chiến lược và coi nhẹ tàu ngầm thông thường.

Tại Anh, Hải quân Hoàng gia cũng đã tiến hành thử nghiệm một động cơ đẩy AIP trên tàu ngầm HMS Excalibur nhằm kiểm tra tính khả thi của dự án. Cuối cùng, Anh cũng từ bỏ chương trình phát triển công nghệ AIP để tập trung phát triển tàu ngầm hạt nhân chiến lược.

Tựu chung lại, động cơ AIP mang lại khả năng hoạt động dưới nước lâu hơn, giảm được tiếng ồn khi hoạt động, tuy nhiên, tồn tại quá nhiều vấn đề về kỹ thuật và an toàn nên loại động cơ này không nhận được nhiều sự quan tâm.

Nguyên tắc hoạt động

Có khá nhiều khái niệm quanh công nghệ AIP nhưng có cùng một nguyên tắc là giúp động cơ tàu ngầm hoạt động dưới nước mà không cần đến ống thông hơi.

Trong khi Đức phát triển khái niệm sử dụng hydrogen peroxide làm chất xúc tác cho phản ứng hóa học để tạo ra hơi nước và khí nóng làm quay tuabin thì Liên Xô phát triển động cơ diesel chu kỳ khép kín với oxy lỏng và nhiên liệu diesel.

Pháp phát triển động cơ tuabin chu kỳ đóng MESMA, với quá trình đốt cháy ethanol và oxy, quá trình đốt cháy này tạo ra hơi nước làm quay tuabin. Trong đó, ethanol và oxy được lưu trữ ở áp lực gấp 60 lần áp lực khí quyển, áp lực này cho phép khí thải carbon dioxide thải xuống biển ở độ sâu bất kỳ mà không cần đến máy nén khí. Công nghệ này cho phép tàu ngầm hoạt động liên tục 21 ngày dưới nước, tùy thuộc vào tốc độ, áp suất nước biển…


Mô hình hoạt động của động cơ chu trình Stirling.

Thụy Điển phát triển khái niệm động cơ chu trình Stirling, sử dụng oxy lỏng và nhiên liệu diesel để làm quay máy phát điện công suất 75kW sử dụng cho động cơ đẩy hoặc sạc pin cho tàu. Động cơ chu trình Stirling có khả năng hoạt động liên tục 14 ngày dưới nước với một tàu ngầm tải trọng 1.500 tấn ở tốc độ 5 hải lý/giờ.

Hãng Siemens của Đức phát triển khái niệm tế bào nhiên liệu sử dụng cho các loại tàu ngầm Type-209/214. Theo đó, các tế bào này chuyển đổi hóa năng thành điện năng thông qua phản ứng hóa học với oxy và các khí hydrocarbon. Trong đó, hydrogen được sử dụng nhiều nhất, kế tới là ethanol hoặc methanol .

Điện năng tạo ra từ phản ứng hóa học này sẽ được sử dụng cho động cơ của tàu hoặc sạc pin, ưu điểm của tế bào nhiên liệu là nhiệt độ hoạt động khá thấp khoảng 80 độ C, nhiệt thải tương đối ít.

Đức cũng phát triển một khái niệm động cơ diesel chu kỳ khép kín CCD sử dụng không khí nhân tạo, gồm oxy lỏng, nhiên liệu diesel và khí argon. Khí oxy và argon kết hợp với nhau tạo ra khí nhân tạo cho động cơ diesel. Trong đó, argon là khí trơ, có khả năng tái sử dụng liên tục giúp tàu ngầm hoạt động lâu hơn.

Những triển vọng trong tương lai

Các loại tàu ngầm hạt nhân chiến lược không được phép xuất khẩu, trong khi đó thị trường tàu ngầm thông thường đang trở nên đắt hàng. Bên cạnh đó, các phương tiện trinh sát và chống ngầm hiện đại ngày càng trở nên tinh vi hơn, khiến tàu ngầm điện - diesel đang dần mất đi lợi thế.

Do đó, hải quân các nước trên thế giới đòi hỏi phải có tàu ngầm, hoạt động êm và thời gian hoạt động dưới nước lâu hơn. Với những yêu cầu như vậy, ngoài tàu ngầm động lực hạt nhân chỉ có động cơ AIP mới có thể đáp ứng được.


Trong các khái niệm phát triển của công nghệ AIP, giải pháp sử dụng tế bào nhiên liệu trên cơ sở ứng dụng công nghệ hydrogen được xem là khả thi và an toàn nhất. Trong ảnh, tàu ngầm Type-214 của Đức, tàu ngầm có hệ thống động cơ AIP hiện đại nhất thế giới

Theo dự báo, thị trường tàu ngầm trong 10 năm tới sẽ đạt con số từ 100-150 chiếc, đủ hấp dẫn với các hãng chế tạo tàu ngầm thông thường trên thế giới.

Một số chuyên gia quân sự nhận định rằng, Hải quân Mỹ có thể sẽ phải xem xét lại kế hoạch phát triển các tàu ngầm của mình, việc thiếu các tàu ngầm AIP là bất lợi chiến lược của Mỹ, nhất là ở các khu vực ven bờ.

Các loại tàu ngầm đang được trang bị động cơ AIP trên thế giới gồm có: Tàu ngầm lớp Scorpene của Pháp, Type-209/212/214 của Đức, tàu ngầm lớp Lada, Amur của Nga, tàu ngầm lớp Asashio, Soryu  của Nhật Bản, tàu ngầm lớp Gotland, Södermanland, Archer của Thụy Điển, tàu ngầm S-80 của Tây Ban Nha, tàu ngầm lớp Type-041 lớp Nguyên (Yuan) của Trung Quốc.

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Nguồn:http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tim-hieu-cong-nghe-AIP/201111/180844.datviet
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 02:02:48 pm gửi bởi twosoul » Logged
twosoul
Thành viên
*
Bài viết: 77


« Trả lời #42 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 01:50:52 pm »

Triển vọng tàu ngầm mini của Nga

Sự thiếu vắng của các tàu ngầm mini tàu ngầm mini trong biên chế Hải quân Nga gây tổn hại cho sự hợp tác kỹ thuật quân sự của Nga với các nước khác.
Trả lời phỏng vấn hãng RIA Novosti, cựu Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tham mưu Hải quân Nga (1993-1999), Phó Đô đốc Viktor Patrushev cho rằng, các tàu ngầm diesel-điện cỡ nhỏ (tàu ngầm mini) là thích hợp nhất để bảo vệ lợi ích của Nga tại biển Baltic, biển Đen và biển Caspie.

"Các đội tàu ngầm này có thể hoạt động cả ở khu vực quần đảo Kurils và bất kỳ khu vực nào cần có các phương tiện nhỏ mà hiệu quả để bảo đảm an ninh trong giai đoạn có nguy cơ”, ông Patrushev nhận định.

Vị đô đốc mà với cương vị của mình trước đây hiểu rõ tình hình các vùng biển bao quanh nước Nga nói đến những loại tàu ngầm nào và vì sao lại ông lại bênh vực chúng?


Tàu ngầm mini Piranha-T có khả năng tấn công mục tiêu ở độ sâu nhỏ

Cuối thập niên 198, tại hãng đóng tàu Admiralteiskye verfi, đã đóng cho Hải quân Liên Xô 2 tàu ngầm mini đặc nhiệm Projekt 865 Piranha do Viện SPMBM Malakhit thiết kế. Việc hoàn thiện các tàu ngầm này ở một đất nước đang trên đường sụp đổ là một việc phiền toái. Song kết quả lại cho ra những tàu nhỏ có lượng giãn nước chạy ngầm 319 tấn và thủy thủ đoàn 3 người với tính năng rất không tồi. Chúng có các trường vật lý ở mức thấp, khả năng cơ động tốt và độ sâu lặn khá lớn (200 m), đơn giản trong điều khiển.

Các tàu này được trang bị 2 ngư lôi và thủy lôi trong container, chở được 6 người nhái. Những tàu ngầm này đã lưu lại ký ức hàng triệu người Nga nhờ bộ phim của Aleksandr Rogozhkin "Những đặc điểm của việc câu cá nước nhà”, trong đó các nhân vật đã dùng tàu ngầm Piranha "sơ tán” từ bờ vịnh Phần Lan những thùng rượu vodka bị bỏ quên ở đó. Đáng tiếc là vai "buôn lậu” lại là vai cuối cùng trong số phận của tàu ngầm mini Projekt 865. Năm 1999, cả 2 tàu ngầm này bị đưa đi cắt làm sắt vụn.

Tuy vậy, các công trình sư của SPMBM Malakhit không từ bỏ chủ đề tàu ngầm mini. Họ đã đưa ra một loạt thiết kế tàu ngầm mini có lượng giãn nước từ 130 đến 1.000 tấn.

Với kích thước nhỏ, các tàu ngầm này là phương tiện mang các loại vũ khí khác nhau, gồm các ngư lôi và thủy lôi, còn các tàu lớn hơn P-550, P-650E và P-750 có thể bố trí cả các tên lửa hành trình Kalibr-PL (Club-S) hay BrahMos loại tàu ngầm-đối-hạm và tàu ngầm-đối-đất. Nghĩa là trong những hoàn cảnh nhất định, chúng có thể thực hiện thậm chí các nhiệm vụ chiến lược.

Trang thiết bị điện tử hiện đại cho phép chúng kịp thời phát hiện mục tiêu và tấn công phủ đầu đối phương. Mức ồn thấp và mức điện-từ thấp giúp tàu có độ bộc lộ cực nhỏ.


Tàu ngầm mini Projekt 865 Piranha

Tàu có khả năng cơ động cao nhờ sử dụng loại chân vịt ít ồn trong chụp quay và tổ hợp dẫn tiến dự phòng gồm 2 cơ cấu lái ngoài mạn. Nhờ đó, các tàu này có khả năng xoay tròn tại chỗ thực sự.

Một đặc điểm cực kỳ quan trọng khác của các tàu ngầm mini là mức độ tự động hóa cao các quá trình điều khiển chiến đấu và khai thác tàu. Đó chẳng phải là ngẫu nhiên vì Malakhit là người dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực tự động hóa tổ hợp cho tàu ngầm. Tàu ngầm mini có thủy thủ đoàn chỉ từ 4-9 người và họ được tạo ra điều kiện sinh hoạt khá tiện nghi trên tàu. Ngoài đội thủy thủ biên chế, tàu còn chở được đến 6 người nhái chiến đấu trang bị đầy đủ.

Tàu ngầm mini họ này có thể được trang bị các module lắp động cơ phụ trợ không cần không khí, chúng giúp tăng đáng kể cự ly hành trình chạy ngầm. Đây là vấn đề cần được đặc biệt nhấn mạnh.

Cuối thập niên 1980 Viện thiết kế nồi hơi đặc biệt (SKBK) ở St. Petersburg đã chế tạo một loại động cơ không cần không khí Kristall-20 công suất 130 kW cho chính tàu ngầm minin Piranha. Động cơ không cần không khí này với các máy phát điện-hóa sử dụng hydro và oxy để tạo ra năng lượng.

Quá trình hoạt động của động cơ thoạt nhìn thì đơn giản. Khí hydro tương tác với oxy thông qua các màng đặc biệt làm chức năng chất điện phân, tạo ra dòng điện và nước cất. Việc biến hóa năng thành điện năng diễn ra không có sự đốt cháy, không có sự tác động cơ học nào, điều này đặc biệt quan trọng đối với tàu ngầm, không có tiếng ồn. Hiệu suất của động cơ không cần không khí này với các máy phát điện-hóa đạt đến 70-75%.

Năm 1991, sau khi thử nghiệm toàn diện, động cơ Kristall-20 đã được bên đặt hàng là Bộ Quốc phòng Liên Xô tiếp nhận. Nhưng Liên Xô sụp đổ ngay sau đó đã khiến cả loại động cơ tiên tiến cũng như các tàu ngầm trang bị động cơ này trở nên vô dụng.



Tàu ngầm mini P-550


Bằng cách ghép thêm module động cơ không cần không khí, tàu ngầm mini P-550 biến thành tàu ngầm mini P-650E

Ngoài ra, theo tính toán của các chuyên gia Viện TsNII mang tên A.N Krylov, khả năng hoạt động ngầm dưới nước độc lập của tàu ngầm trang bị các máy phát điện-hóa cao hơn 450% so với các tàu ngầm diesel-điện thông thường.

Còn ở vùng biển gàn, xét về tiêu chí "chi phí-hiệu quả” thì các tàu ngầm có động cơ không cần không khí có ưu thế hơn cả các tàu ngầm nguyên tử. Yếu tố cuối cùng này có một ý nghĩa nguyên tắc, bởi lẽ các khái niệm hải quân hiện đại trù định việc triển khai các tàu ngầm chủ yếu không phải trên các tuyến giao thông đại dương mà ở gần bờ biển của mình hoặc của nước khác.

Không thể nói Nga bỏ quên động cơ không cần không khí. SKBK đã bỏ ra nhiều công sức và tiền bạc để phát triển động cơ không cần không khí thế hệ 2 Kristall-27 dùng cho tàu ngầm Projekt 677 Lada và biến thể xuất bản của nó là Amur.

Các chuyên gia SKBK đã tìm ra một phương pháp độc đáo để cung cấp hydro cho tàu ngầm. Loại khí này được cất trữ không phải trong bình và không phải ở dạng hóa lỏng mà ở trong một hợp chất giữa các kim loại (hợp kim của kim loại có hàm lượng hydro cao), nên cho phép nâng an toàn sử dụng lên rất cao. Nhưng do không có kinh phí nên đã không thể hoàn thiện tiếp động cơ này.


Tàu ngầm mini P-750


Trên tàu ngầm mini P-750 có các giếng phóng chứa tên lửa hành trình

Năm 1998, Viện thiết kế hải quân TsKB MT Rubin cùng với tập đoàn tên lửa vũ trụ Energya đã bắt tay vào phát triển động cơ không cần không khí với các máy phát điện-hóa. Kết quả là ra đời model động cơ REU-99 mà họ dự định lắp vào khoang đặc biệt của tàu ngầm Lada hay Amur và bảo đảm cho tàu lặn ngầm liên tục đến 20 ngày đêm. Động cơ hứa hẹn đơn giản và kinh tế trong sử dụng. Nhưng có một yếu tố gây cản trở, đó là việc cất trữ các thành phần nhiên liệu kiểu hỗn hợp lạnh - oxy và hydro được để trong các bình ở trong cùng một khoang.

Sau thảm họa của tàu ngầm nguyên tử Kursk do nổ nhiên liệu lỏng rò rỉ từ một quả ngư lôi hỏng, sự hào hứng đối với động cơ REU-99 giảm mạnh. Và dự án này thực tế đã bị đóng lại. Còn toàn bộ hướng nghiên cứu động cơ không cần không khí đã được giao cho Viện Nghiên cứu trung ương kỹ thuật điện và công nghệ tàu thủy, nơi mà do không có kinh phí nên các nghiên cứu động cơ không cần không khí chủ yếu mang tính lý thuyết.

Trong khi đó, cả thế giới văn minh đã tiến rất xa về phía trước. Các tàu ngầm trang bị động cơ không cần không khí đang được đóng hàng loạt ở Đức, Pháp, Thụy Điển, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Nhật Bản và Hàn Quốc. Cả người Mỹ cũng đang để mắt đến chúng nên thường xuyên mới các tàu ngầm lắp động cơ không cần không khí của các hạm đội nước ngoài đến để "làm quen” hay tham gia diễn tập. Và để ứng dụng động cơ không cần không khí, họ sẽ không mất nhiều thời gian. Đơn giản là họ sẽ mua các công nghệ cần thiết, còn Nga thì sẽ khó có người bán các công nghệ ấy cho.
 
Việc tái lập tập thể công trình sư và nhà sản xuất làm việc trong lĩnh vực động cơ không cần không khí là một vấn đề có tầm quan trọng nhà nước lớn. Việc phát triển một loại động cơ không cần không khí mới dựa trên các mẫu động cơ không cần không khí Kristall-20 và Kristall-27 là có thể thực hiện. Còn việc lắp các động cơ đó ở giai đoạn đầu cho các tàu ngầm mini hiển nhiên sẽ là cái mốc nổi bật trong sự phát triển của ngành đóng tàu ngầm Nga.

Trở lại với tàu ngầm mini. "Môi trường sống” chủ yếu của các tàu này là các vùng biển ven bờ, vùng nước nông và vùng biển có đảo. Nhưng chúng là những thợ lặn không phải tồi. Độ sâu lặn của các tàu này dao động từ 200-300 m. Cự ly hành trình từ 2.000-3.000 hải lý, thời gian hoạt động độc lập 20-30 ngày đêm.

Ví dụ, xin nêu tính năng kỹ-chiến thuật của loại lớn nhất của họ tàu ngầm mini Nga là P-750. Lượng giãn nước bình thường 960 tấn (1.060 tấn khi được lắp động cơ không cần không khí), chiều dài 66,8 m (70,4 m với AIP), đường kính thân 6,4 m, tốc độ chạy ngầm tối đa 17 hải lý/h, cự ly hành trình 3.000 hải lý, cự ly chạy ngầm liên tục 280 hải lý (1.200 hải lý với AIP), độ sâu lặn 300 m, thời gian hoạt động độc lập 30 ngày đêm, thủy thủ đoàn 9 người + 6 người nhái chiến đấu.

Đặc biệt đáng chú ý là thành phần vũ khí trên tàu. P-750 được trang bị 4 ống phóng lôi 533 mm, có thể phóng cả ngư lôi lẫn tên lửa hành trình. Việc nạp đạn lại cho các ống phóng lôi không tiến hành trên biển. Song chúng lại thường xuyên sẵn sàng cho sử dụng tức thì để bắn từng quả hay bắn loạt. Tàu ngầm mini này còn có 8 ống phóng lôi 400 mm để phóng ngư lôi chống ngầm. P-750 có khả năng mang theo đến 24 thủy lôi đáy để trong các cơ cấu rải lôi ngoài mạn. Cuối cùng, trên tàu ngầm này có thể bố trí đến 4 bệ phóng thẳng đứng tên lửa hành trình, kể cả tên lửa 3М-14E của hệ thống Club-S dùng để tấn công các mục tiêu bờ ở cự ly đến 300 km.

Tức là các tàu ngầm này có thể sử dụng không chỉ để ngăn chặn các cuộc tấn công từ biển mà bản thân chúng còn có thể đe dọa lãnh thổ đối phương.

Nhìn chung, kho vũ khí của P-750 còn mạnh hơn trang bị vũ khí của nhiều loại tàu ngầm lớn hơn. Vì thế, liệt các tàu ngầm này vào phân nhóm tàu ngầm mini xem ra hơi gượng.

Bởi vì, tàu ngầm hạng trung lớp Shchuka series III thời Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (Thế chiến II) chỉ có lượng giãn nước khi chạy ngầm là 705 tấn, độ sâu lặn tối đa 90 m, tốc độ chạy ngầm 2,8 hải lý/h, còn vũ khí chỉ có 10 ngư lôi và 1 khẩu pháo 45 mm.

"Các tàu ngầm này (tức tàu ngầm mini) có thể trong vòng 2-3 năm tăng cường cho biên chế chiến đấu của các hạm đội Baltic, biển Đen, Caspie, 4-6 tàu ngầm như vậy có thể khống chế hoàn toàn các vùng biển kín hoặc nửa kín như biển Đen, biển Baltic và biển Caspie. Điều gây ngạc nhiên là đến nay, Bộ Quốc phòng Nga không để ý gì đến các tàu ngầm này, mặc dù những ưu điểm của chúng thì bất kỳ chuyên gia hải quân nào cũng thấy rõ”, Phó Đô đốc Viktor Patrushev nhấn mạnh.

Thực tế, trong biên chế các hạm đội Baltic và biển Đen hầu như không còn tàu ngầm diesel-điện. Số lượng của chúng chỉ là vài chiếc, không đủ để làm thay đổi thời tiết trên chiến trường biển. Còn trên biển Caspie thì hoàn toàn không có tàu ngầm, mặc dù biển này nằm ở khu vực rất bất ổn và tình hình ở đó có thể thay đổi nhanh chóng. Ví dụ, Iran có thể dễ dàng chuyển đến đó bằng ô tô các tàu ngầm mini và tàu ngầm siêu nhỏ của họ từ biển Arập và vịnh Persique.


Các tàu ngầm mini lớp Ula của Hải quân Nauy đang theo dõi sự di chuyển của các tàu ngầm nguyên tử Nga ở biển Barents và biển Nauy

Tàu ngầm mini tại Thái Bình Dương và biển Barents có khả năng thực hiện các nhiệm vụ trinh sát các vùng biển bao quanh Nga, bí mật hộ tống các tàu ngầm nguyên tử đi trực chiến.

Chúng hầu như không thể thay thế để xây dựng các tuyến phòng thủ chống tàu ngầm ở các vùng biển ven bờ. Ở đây, có thể vận dụng kinh nghiệm của NATO.

Chính các tàu ngầm diesel-điện cỡ nhỏ lớp Ula của Hải quân Nauy tạo thành hàng rào tiền tiêu chống ngầm ở Đại Tây Dương. Chúng là phương tiện đầu tiên theo dõi sự di chuyển của các tàu ngầm nguyên tử Nga và truyền số liệu về chúng đến các sở chỉ huy và cơ quan liên quan của NATO.

Ông Viktor Patrushev còn lưu ý đến bối cảnh tàu ngầm mini đang được hải quân hàng loạt quốc gia Cận Đông và Đông Nam Á tập trung chú ý tại Triển lãm Hải quân quốc tế ở St. Petersurg MVMS-2009. Ngay trước triển lãm này, Trưởng Phòng Hải quân của hãng xuất khẩu vũ khí Rosoboronoexport Oleg Azizov, khi trả lời câu hỏi của tạp chí Quốc phòng (Nga) (xem số 6.2009) về việc tại sao các tàu ngầm mini của Nga đến nay không "chạy được” ra thị trường thế giới, đã nói: "Theo tôi, nguyên nhân rất rõ ràng. Nga có kinh nghiệm phong phú trong việc thiết kế, đóng và sử dụng tàu ngầm mini. Một điều không phải là bí mật là hiện nay Hải quân Nga không có các tàu đó trong biên chế. Việc đóng hàng loạt các tàu này đã bị tạm ngừng”. Nghĩa là sự thiếu vắng tàu ngầm mini trong biên chế Hải quân Nga đang gây tổn hại cho sự hợp tác kỹ thuật quân sự của Nga với các nước khác.



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
http://quocphonganninh.edu.vn/PrintPreview.aspx?ID=1264


Bàn thêm:Như vậy qua bài này có thể thấy tầm quan trọng của tàu ngầm có lượng choán nước nhỏ.Ưu điểm của loại này là độ bộc lộ thấp,linh hoạt trong vùng biển nông,thiết kế hiện đại.
Điều này lý giải tại sao lớp Lada của Nga lại được thiết kế với tải trọng nhỏ hơn so với kilo.Bằng cách thay đổi hệ thống động lực chủ yếu dựa vào thủy lực sang sử dụng pin nhiên liệu,số hóa hệ thống điều khiển...đã tiết kiệm được không gian đáng kể,nâng cao hiệu quả tác chiến như bớt ồn,hoạt động dài ngày dưới biển trong khi vẫn đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ.

Hiện Mỹ cũng đang nghiên cứu tàu ngầm thế hệ tiếp theo lớp Tango Bravo nhằm thay thế lớp seawolf-đã không còn phù hợp nhiệm vụ,và lớp Virginia-chi phí quá cao trong bối cảnh cắt giảm ngân sách.
Lớp Tango Bravo được thiết kế với tiêu chí “Tiêu ít tiền làm việc lớn”.Chương trình này muốn thiết kế một loại tàu ngầm hạt nhân đa năng mới, nó có tất cả các tính năng của tàu ngầm lớp Virginia hiện nay, nhưng kích thước và chi phí chế tạo chỉ bằng một nửa, thời gian biên chế được xác định sơ bộ là vào năm 2021.

Nga tuy có kinh nghiệm trong nghiên cứu,thiết kế nhưng từ sau khi Liên Xô tan rã thì tiềm lực quốc phòng đã đi xuống nhanh chóng.Việc dừng các dự án nói trên khiến Nga đánh mất thị trường xuất khẩu tàu ngầm mini béo bở và chậm chân hơn các nước khác ở khu vực trong việc ra đời thế hệ tàu ngầm thông thường thứ 4.
Gần đây có tin Nga hoãn việc trang bị tàu ngầm thông thường lớp Lada tới năm 2013 để chờ phiên bản nâng cấp.Nhiều khả năng lớp tàu Lada trang bị sau thời điểm trên sẽ được lắp đặt hệ thống AIP hoàn thiện.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2011, 09:39:38 pm gửi bởi twosoul » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #43 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2012, 05:50:41 pm »

Đề án 56 – Lớp Kotlin


Tổng số tàu đã đóng: 27

Các biến thể

+ 56 (lớp Kotlin) – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1953)

+ 56-PLO (biến thể lớp Kotlin) – các tàu khu trục với vũ khí chống ngầm tăng cường (1960)

+ 56-L (lớp Kotlin SAM) – tàu khu trục “Bravưi” được đóng nốt với tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” (1956)

+ 56-A (lớp Kotlin SAM) – các tàu khu trục nâng cấp với tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” (1964)

+ 56-EM/-M (lớp Kildin) – đề án, trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu KSS trên cơ sở các tàu đề án 56 chưa được đóng hoàn chỉnh (1958)

+ Lớp Luda (đề án 951) – các tàu được đóng cho Trung Quốc trên cơ sở đề án Liên Xô (1971).

Việc thiết kế tàu khu trục “đề án 41 nâng cấp” như theo ban đầu trong các tàu liệu là tàu đề án 56 bắt đầu vào mùa hè năm 1951. Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đưa ra cho nó vào ngày 2 tháng 6 năm 1951 (số 1867-891) về “… những thay đổi nhiệm vụ kỹ - chiến thuật đề án 41”. Mệnh lệnh được đưa ra rõ ràng theo sáng kiến của Stalin, đã nghiên cứu sau chiến tranh các đề án tàu lớp cơ bản vafkhoong đồng tình bởi lượng choán nước lớn của đề án 41, đã đưa ra chỉ thị giảm nó (lượng choán nước). Chỉ thị này được gây ra bởi kích thích (bùng nổ) từ bức thư A.L.Fisher mà trong đó chứa sự chỉ trích đề án 41. Trong bất kỳ trường hợp nào, khi xem xét theo các ghi chép không được công bố của kỹ sư – Phó đô đốc N.V.Isachenko, tình trạng này đã được thu xếp một cách rõ ràng. Các bằng chứng còn lại chỉ ra rằng tàu khu trục đề án 56 khi đó đã được thông qua khi mà “Neustrashimưi” (đề án 41) đã nằm trong giai đoạn đóng và về những ưu hoặc nhược điểm của tàu nay được đánh giá sớm hơn so với – đề án “nâng cấp”.

Tiếp theo đó, nguyên nhân chính xuất hiện đề án 56 cho đến nay không được làm rõ hoàn toàn, mặc dù rõ ràng rằng nó được làm ra bởi ngành công nghiệp, chứ không phải bên đặt. Có thể nó đóng vai trò tình tiết (âm mưu) trong thiết kế do A.L.Fisher lãnh đạo thay cho V.A.Nikitin trong thiết kế tàu khu trục đề án 56. Giám sát viên chính từ Hải quân, cũng như trên đề án 41, giữ lại kỹ sư – thuyền trưởng cấp 2 M.A.Yanchevski. Trong Mệnh lệnh chỉ đạo của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã phê duyệt các thay đổi sau theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật theo so sánh với đề án 41: lượng choán nước hoàn toàn 3150 tấn, thay cho 3770 tấn; tốc độ tối đa 39 hải lý, thay cho 36 hải lý; tầm bơi xa ở tốc độ 14 hải lý là 4000 dặm, thay cho 5500 dặm; thời gian hoạt động 10 ngày, thay cho 20 ngày; 4 pháo 4 nòng tự động 45mm SM-20-ZiF không ổn định thay cho 4 pháo nòng đôi ổn định 45mm SM-16 với cơ số đạn ít hơn. Cũng mệnh lệnh này dã dự định đóng 100 tàu khu trục đề án 56 (tàu khu trục đề án 41 dự kiến đóng 110 tàu). Như từ những sự thay đổi đã được ghi lại, ban đầu “sự nâng cấp” tính toán làm yếu đi các yếu tố không phải thứ yếu như tầm bơi xa và thời gian hoạt động chiều (tỷ lệ thuật) sự giảm lượng loạn nước và tăng tốc độ tối đa. Các thiết kế nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng thu xếp được (làm được) lượng choán nước theo quy định đảm bảo tốc độ đã đề ra và tầm bơi xa là không có khả năng. Mặc dù vậy, mệnh lệnh mới của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (số 1648-592) mùng 4 tháng 4 năm 1954 đã phê duyệt các phần tử kỹ - chiến thuật của tàu khu trục với những sự chênh lệch không lớn: lượng choán nước hoàn toàn 3230 tấn và tốc độ tối đa 38,5 tấn.

Theo các phần tử chính, sự khác biệt về nguyên tắc của đề án 56 so với đề án 41 không có. Sự thay đổi chính bao gồm, đầu tiên – trong bộ phận thiết kế. Hình dáng được tiếp nhận của thân tàu là tối ưu với quan điểm phân phối trong lượng choán nước cho phép của trang bị và máy móc, rất thành công theo sự cơ động trên biển và không đáp ứng hoàn toàn theo tốc độ. Để di chuyển giữa các khoang, trong thời gian neo đậu dự kiến có các buồng di chuyển hoặc cửa không thấm nước (trong đề án 41, sự di chuyển này được hạn chế theo boong dưới). Trên boong trên bố trí 3 thượng tầng cao (phát triển), bởi vì bộ phận các buồng và trạm được “nhô” lên trên. Với mục tiêu “công nghiệp” (tiết kiệm), khối lượng thượng tầng được chế tạo từ nhôm. Tuy nhiên, do không cho phép các các lỗi lớn và độ rung của chúng, trong quá trình thí nghiệm tàu đầu tiên, các thượng tầng đã 3 lần được cố định một cách căn bản. Kết quả là toàn bộ thiết kế này đã tăng khối lượng, nếu nó là thép hoàn toàn (!). Không có những sự chứng minh cần thiết rằng việc áp dụng các hợp kim nhẹ trong vai trò vật liệu thiết kế đã chỉ ra có hại và trong bộ phận đảm bảo sự sống, trước tiên là khả năng phòng cháy chữa cháy sơ bộ. Tàu khu trục đề án 56 được bọc thép chống lại mảnh đạn: buồng chiến đấu, vách ngăn trạm truyền động, các tường chắn thiết bị ngư lôi, vỏ nồi hơi, các miếng đệm các phát bắn đầu tiên được bọc thép 10mm, còn tháp pháo (chính) và thiết bị pháo phòng không cỡ nhỏ - 20-40mm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #44 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2012, 05:51:51 pm »

Các hình vẽ tàu ngầm đề án 56







Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #45 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2012, 07:29:15 pm »


Vận chuyển mìn lên tàu khu trục đề án 56 (có thể là "Nesokrushimưi"). Nhìn rõ pháo tự động 4 nòng 45mm SM-20-Zif. Đầu những năm 1960.



Tiếp nhận mìn trên tàu khu trục đề án 56 (có thể là "Nesokrushimưi"). Đầu những năm 1960




Tàu khu trục "Besslednưi" và các tàu khác đề án 56 trên ụ (đốc) khô
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #46 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2012, 09:05:14 pm »

Công suất thiết bị năng lượng chính tăng từ 66 000 lên 72 000 sức ngựa. Tuy nhiên hệ số hoạt động hiệu quả (KDP) của các nồi hơi tàu khu trục đề án 56 được chỉ ra thấp hơn đề án 41 5% (74% và 79%) do đó, các kích thước bị nén chặt (giới hạn) của buồng nồi hơi không cho phép bó trí các nồi hơi với bộ phận tiết kiệm chất đốt lớn. Các sự kiện sau đó đã chỉ ra rằng, vấn đề gây khó chịu với sự không đảm bảo tốc độ trên tàu khu trục đề án 41 đã bị lặp lại, khi tàu đầu tiên trong đề án 61 “Spokoinưi” được đưa vào các thí nghiệm vận động. Khi giảm lượng choán nước xuống 400 tấn trong công suất lớn đáng kể (10 000 sức ngựa) của thiết bị năng lượng chính, “Spokoinưi” có thể bơi với tốc độ nhanh hơn 1 hải lý so với “Neystrashimưi”. Ủy ban chuyên môn đặc biệt đã được thành lập, trong đó có sự làm việc của người có uy tín lớn trong lĩnh vực lý thuyết đóng tàu kỹ sư – Chuẩn đô đốc V.G.Vlasov, đã nhận định rằng toàn bộ tổ hợp “mạn – chân vịt – bánh lái” được thiết kế không đúng như trên đề án 41 cũng như đề án 56. Sự sai lệch trong nguồn thủy động lực không cho phép đạt tốc độ lực đẩy cần thiết, và là nguyên nhân chính dẫn đến việc đạt được tốc độ không như trông đợi. Trên tàu “Spokoinưi” đã diễn ra việc cắt phần cuối tàu “không đúng”, được thay mới “đúng”. Cần bổ sung rằng khi so sánh thân ngắn và gần đủ sau khi sửa lại trong các thí nghiệm, tàu khu trục đề án 56 đã có tốc độ gần 39 hải lý. Theo sự xác nhận của những người tham gia thí nghiệm, trên một số tàu trong loạt đã có tốc độ vượt trội chỉ số này: ví dụ, tàu khu trục “Nastoichivưi” năm 1957 đã đạt tốc độ, như đã tính toán lại là hơn 41 hải lý, mặc dù là rất đáng mừng, nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng nó đã bị mất tốc độ nhanh chóng do sự tăng thêm thân tàu. Ngoài ra, công suất thiết bị trong chế độ tối đa rất nhạy cảm với sự tăng nhiệt độ nước ngoài mạn tàu. Cuối cùng, không có một tàu khu trục đề án 56 nào đạt được tầm bơi xa như nhiệm vụ đề ra, còn sự tiêu thụ nhiên liệu trong quãng đường đã qua khi di chuyển ở tốc độ tuần tra là lớn đáng kể so với đề án 30-bis (ở tốc độ tối đa là gấp 1,8 lần).

Tuy nhiên, về cơ bản, ủy ban tiếp nhận đã đánh giá chất lượng cơ động trên biển của tàu một cách tích cực, trong đó, đáng chú ý, ví dụ, rằng trong thời gian các thí nghiệm cuối cùng (biển cấp 5, sóng cấp 8 ), tàu khu trục đề án 56 đã đạt tốc độ tối đa, còn tàu bảo đảm của nó – tàu khu trục đề án 30-biss không đạt quá 14 hải lý.

Toàn bộ trang bị pháo của tàu khu trục đề án 56 có thể sử dụng để đánh trả sự tấn công đường không do kết quả sử dụng pháo chính đa năng. Để điều khiển bắn sử dụng 2 đài ra đa định vị và trạm đo xa – ra đa định vị bố trí trên thượng tầng chính. Bốn pháo phòng không tự động 45mm được bố trí như sau, 3 trong số chúng thường xuyên có thể tấn công đồng thời vào 1 mục tiêu. Giữa các thượng tầng có 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng. Các tàu khu trục được trang bị các khí tài phát hiện ra đa định vị, nhận dạng và thông tin liên lạc, đòng thời đài thủy âm. Để giữ (cố định) các loại mìn neo, trên các tàu có máy giữ kiểu TsOK-2.

Tháng 10-11 năm 1956, sau khi tiếp nhận vào biên chế, “Spokoinưi” được đưa tới các thí nghiệm bổ sung ở biển Barents, bởi vì nếu đối với biển Baltic, các đặc điểm sóng gió với sóng ngắn dựng đứng, còn đối với biển Bắc – sự gợn sóng với sóng gió có tính chất không giống với sự xếp chồng giảm dần sự gợn sóng trên đại dương. Các thí nghiệm kéo dài của tàu đầu tiên trong đề án 56 cho phép các tàu trong loạt được bàn giao cho Hải quân trước nó. Vào năm 1955, trong biên chế Hải quân đã có 6 tàu.

Từ quan điểm hiện này, việc chuyển giao từ đề án 41 sang đề án 56 là không có căn cứ. Số lượng lớn các nhược điểm của nó có thể được khắc phục thậm chí trên các tàu “sống”, chưa nó đến sự hiệu chỉnh đề án cho dòng tàu. Đặc biệt bởi chất lượng có giá trí của đề án 41 theo so sánh với người thừa kế đề án 56 là sức sống lớn, thời gian hoạt động, tầm bơi xa và trữ lượng nâng cấp. Sự thiếu yếu tố sau cùng trên đề án 56 đặc biệt cảm nhận được một cách cần thiêt khi nâng cấp chúng theo đề án 56-K “Bravưi”, khi yêu cầu lắp đặt tải trọng dằn và hàng loạt các sự tinh chỉnh cho việc thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật. Tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56 là dòng tàu pháo phóng ngư lôi cuối cùng trong Hải quân Liên Xô. Về cơ bản, chúng không phù hợp cho các khí tài mới và khả năng chiến tranh trên biển như hiện nay đã nhìn nhận rõ ràng, sự xuất hiện của nó đã chậm khoảng 10 năm.

So sánh các phần tử chính của tàu khu trục đề án 56 với các tàu cùng dạng ở nước ngoài chỉ ra rằng hệ tư tưởng và các giải pháp kỹ thuật chính, trên cơ sở mà qua đó chế tạo các tàu này là giống nhau. Tuy nhiên, cơ sở chất lượng có sự khác nhau. Ví dụ, pháo bán tự động SM-21 của Liên Xô có đường kính đạn lớn hơn, nhưng pháo tự động 1 nòng 127mm MK.42 trên tàu khu trục “Forrest Serman” thuộc Hải quân Mỹ có sự hạn chế khả năng chiến đấu một cách đáng kể khi bắn mục tiêu trên không, về cơ bản, do các hệ thống điều khiển hỏa lực, tốc độ bắn thấp hơn đáng kể (1,75 lần), và kết quả là thua kém pháo Mỹ về sức mạnh chiến đấu 2 lần. Bằng cách này, theo hỏa lực pháo chính, “Forrest Serman” vượt trội “Spokoinưi” không ít hơn 3 lần. Điểm vượt trội của toàn bộ các tàu nước ngoài là không thể phủ nhận trong lĩnh vực trang bị vô tuyến điện. Ở nước ngoài, sự ưu tiên dồn vào vũ khí chống ngầm. Ví dụ, trên tàu khu trục “Syurcuff” trong Hải quân Pháp, một nữa số thiết bị ngư lôi chỉ sử dụng để bắn tàu ngầm, còn người Hà Lan hầu như từ bỏ vũ khí ngư lôi, ưa thích sử dụng các máy phóng bom phản lực uy lực lớn 375mm.

------------------------------------------------------------------------------
*Trong các thông số tốc độ của tàu chiến có 2 loại tốc độ là tốc độ tối đa và tốc độ tiết kiệm năng lượng. Trong phần 2, các phần thông số tốc độ tuần tra, các bác đọc là tốc độ tiết kiệm năng lượng (em sẽ sửa dần các thông tin không chính xác trong các bài viết).
Xin lỗi cả nhà nhé.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:33:37 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #47 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 12:45:43 am »

Các biến thể


Sự tăng cường vũ khí chống ngầm yếu cho đề án 56 đã bắt đầu vào năm 1958. 12 tàu trong dòng đã trải qua nâng cấp trong những năm 1960-1979 theo đề án 56-PLO, trong quá trình đó đã tháo thiết bị ngư lôi và thiết bị phóng bom thứ 2, trang bị các trạm chống ngầm, lắp 2 RBU-2500 (trên tàu khu trục “Đoàn viên thanh niên cộng sản Moskva” có thêm 2 RBU-6000 ở mũi). Thiết bị ngư lôi còn lại có khả năng để bắn ngư lôi chống tàu cũng như chống ngầm. Ngoài ra, trên các tàu đã lắp bổ sung các pháo phòng không 25mm 2M-3. Ở phương Tây gọi các tàu này là “biến thể của lớp Kotlin”.

Tàu khu trục “Bravưi” – tàu cuối cùng trong lớp – được đóng tiếp theo sự thay đổi căn bản của đề án 56-K. Trên tàu lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã lắp tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”, nơi chúng trải qua chương trình thí nghiệm. Thiết bị pháo mạn tàu và thiết bị pháo phòng không bị tháo, còn trên vị trí của chúng lắp thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không với kho đạn tên lửa. Trên cột buồm chính hình kim tự tháp bố trí đài dẫn bắn tên lửa “Yatagan”, còn trên cột buồm mũi – lắp đài ra đa định vị 3 tọa độ phát hiện mục tiêu trên không “Angara”. Đồng thời lắp 2 RBU-6000 và lắp 1 thiết bị ngư lôi. Sau khi tiếp nhập vào trang bị tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”, thêm 8 tàu trong lớp được nâng cấp theo đề án 56-A mà trên đó, trừ những sự thay đổi kể trên, thay cho 2 pháo tự động 45mm đã lắp 4 tổ hợp pháo phòng không AK-230 với 2 đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Rưs”.

Trên một trong số các tàu đề án 56 – tàu khu trục “Svelưi” – được trang bị bãi đáp cất – hạ cánh ở mạn tàu mà với đó trong những năm 1950 đã xử lý các chuyến bay của trực thăng hạng nhẹ Ka-15. Các kết quả sau đó được áp dụng vào đề án 57-bis.

Các tàu chưa được đóng xong – 4 tàu đề án 56 – được đóng tiếp theo đề án 56M/ME với tên lửa chống ngầm điều khiển KSS.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #48 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 01:07:33 am »

Chương trình đóng tàu


Việc đóng các tàu khu trục đề án 56 được thực hiện trên 3 xưởng: xưởng phương Bắc (số 190 – 12 tàu); xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 445 – 8 tàu); xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin (số 199 – 7 tàu) từ năm 1953 đến 1957. Vào tháng 2 năm 1952, xưởng phương Bắc đã bắt đầu xử lý kim loại cho 2 tàu khu trục đầu tiên. Mùng 4 tháng 3 năm 1953 khi tình trạng chuẩn bị kỹ thuật 33% của tàu đầu tiên được khởi công chính thức, nó nhận tên gọi “Spokoinưi”, trong nhà triền đóng (kín). Ngày 28 tháng 11 năm 1953, “Spokoinưi” đã được hạ thủy, 26 tháng 4 năm 1954 đã bắt đầu các thí nghiệm neo đậu, còn 27 tháng 8 cùng năm, khi chưa hoàn thành, tàu khu trục đã được đưa vào các các thí nghiệm vận động và kéo dài tới tháng 8 năm sau, khi tàu được đưa tới ủy ban tiếp nhận Nhà nước. Như đã nhắc ở trên, ban đầu lên kế hoạch đóng 100 tàu đề án 56, nhưng khi bắt đầu tái trang bị kỹ thuật và quan điểm “đặc thù” của lãnh đạo đất nước khi đó trong tới vai trò và diện mạo Hải quân đã được phản chiếu trong số phận các tàu khu trục này. Loạt đóng bị hạn chế ở con số 27 tàu. Các tàu chưa được đóng xong còn có thêm 4 tàu được đóng tiếp theo đề án 56-M/EM.

Vào cuối những năm 1960, các tài liệu về đề án 56 được bán cho Trung Quốc, nới với sự giúp đỡ của các kỹ sư Liên Xô đã bắt đầu đóng loạt các tàu này cho Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Tổng cộng đã đóng được 17 tàu, sau đó được trang bị lại bởi người Trung Quốc thành tàu khu trục phòng thủ tên lửa theo hướng trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu “Haiyng 2” (các tàu này theo tên gọi phương Tây là “lớp Lyuda”).

Tình hình đến năm 2006

Trong thời gian những năm 1980, thực tế toàn bộ các tàu khu trục đề án 56 đã bị loại khỏi biên chế Hải quân. Tàu cuối cùng trong loạt (PKZ-7, trước đó là “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Viễn Đông”) đã bị loại khỏi biên chế Hải quân năm 1993.

Trong thời gian hoạt động, các tàu khu trục đề an 56 có mặt ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Siry, Ai Cập, Angola.

Tháng 11 năm 1970, trong thời gian phục vụ ở biển Bắc, tàu khu trục “Bravưi” cùng với các tàu Liên Xô khác đã giám sát các tàu NATO trong các cuộc tập trận “Northern Wedding”. Trong thời gian diễn tập, các tàu khu trục Liên Xô một vào lần đã ngăn cản hành trình tàu sân bay anh “Ark Royal” và kết quả đã xảy ra va chạm. “Bravưi” bị 1 cú đâm vào bộ phận mạn tàu, 7 thủy thủ Liên Xô bị văng khỏi thành tàu. Năm người được các xuồng máy của NATO vớt lên được, còn 2 người không có thông tin.

Một tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56-A “Spravedlivưi” – được bán 25 tháng 6 năm 1970 cho Hải quân Ba Lan (đổi tên thành “Varsava”) và phục vụ đến năm 1986.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #49 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 01:24:13 am »


Bố cục và mặt cắt dọc tàu khu trục phóng lôi đề án 56

1. Thiết bị pháo nòng đôi 130mm SM-2-1

2. Thiết bị pháo phòng không 45mm SM-30-ZIF

3. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-56

4. Ăng ten đài ra đa định vị “Fut-N”

5. La bàn chính

6. Ăng ten đài ra đa định vị “Zarya”

7. Ăng ten đài ra đa định vị “Neptun”

8. Ăng ten đài tìm phương vô tuyến

9. Trạm quan sát ổn định SVP-42-50

10. Trạm ăng ten đài ra đa định vị pháo MZA “Fut-B”

11. Khí tài rải bom BMB-2

12. Buồng bánh lái

13. Tháp dưới mạn tàu

14. Hầm đạn pháo 130mm

15. Buồng lò sưởi (phát nhiệt)

16. Thùng nước uống mạn tàu

17. Buồng máy – nồi hơi

18. Khoang bếp

19. Buồng hoa tiêu

20. Buồng chiến đấu

21. Buồng lái

22. Buồng sỹ quan

23. Buồng tổ hợp thiết bị pháo 130mm mũi tàu

24. Kho thực phẩm

25. Khoang xích

26. Khoang làm (giữ lạnh)

27. Khoang thủy âm

28. Trạm pháo trung tâm

29. Buồng máy – nồi hơi mũi tàu

30. Khoang khí tài nồi hơi hỗ trợ

31. Đài điện mạn tàu

32. Hầm đạn pháo 45mm

33. Khoang xưởng cơ khí

34. Khoang kho cơ khí
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM