Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:55:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201636 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #60 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2012, 12:31:46 am »

Đề án 56-EM/-M – Lớp Kildin


Tổng số tàu đã đóng: 4

Các biến thể

+ 56-EM (lớp Kildin) – tàu khu trục thí nghiệm đầu tiên, trang bị tên lửa chống tàu KSS (1958)

+ 56-M (lớp Kildin) – lớp tàu khu trục được đống loạt với một số sự thay đổi, lắp hệ thống chống nguyên tử (PAZ) (năm 1958)

+ 56-U (biến thể lớp Kildin) – tàu khu trục nâng cấp, lắp tên lửa chống tàu P-15M, AK-726 và trang bị vô tuyến điện mới (1972).

Các công việc chế tạo các tổ hợp tên lửa chống tàu ở Liên Xô đã được triển khai ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trữ lượng nền móng tốt cho việc này là các thiết kế vũ khí tên lửa chiến lợi phẩm của Đức và kinh nghiệm tiếp nhận sử dụng trong chiến đấu. Nguyên mẫu triển vọng nhất cho các công trình sư Liên Xô là các tên lửa có cánh của hang “Hansen” – HS-273 và HS-276, được người Đức sử dụng một cách thành công, đặc biệt là Không quân Đức trong việc chống tàu và tàu vận tải quân Đồng minh ở Địa Trung Hải là Đại Tây Dương.

Năm 1948, các công việc nghiên cứu thiết kế và khoa học sản xuất chế tạo tổ hợp tên lửa chống tàu “Suka” (“Cá măng”) để trang bị cho Không quân Hải quân và các đại đội tên lửa bờ. Khi thiết kế tổ hợp, từ các mẫu còn nguyên của Đức đã được nhắc đến ở trên, đã mượn (lấy) bố ục khí động học, bộ điều khiển vô tuyến mệnh lệnh với sự quan sát tên lửa và mục tiêu qua thước ngắm quang học, bộ phận chiến đấu và một số các giải pháp kỹ thuật khác. Thiết bị động cơ là nội địa: thay cho việc tiếp nhận sử dụng động cơ tên lửa lỏng của Đức, các công trình sư Liên Xô đã chọn động cơ tuabin phản lực. Tuy nhiên, theo các nguyên nhân giá thành, việc thiết kế này đã bị dừng lại.

Trữ lượng khoa học – kỹ thuật đã làm được đã trở thành cơ sở cho việc thiết kệ ở thời điểm đó tổ hợp tên lửa chống tàu và nhận tên gọi KSS (đạn chống tàu “Cá măng”). Mục đích sau cùng của thiết kế tổ hợp là đơn giản, rõ ràng và rất hấp dẫn – chế tạo vũ khí cho tàu lượng choán nước gần 3000 tấn cho việc chống lại các tàu pháo lớn của địch, nằm ngoài tầm hoạt động hiệu quả của pháo trên tàu địch. Tình hình khi đó của Hải quân Liên Xô và Hải quân đối thủ tiềm tàng là tiên đề: “Vượt lên, không đuổi kịp” là mục tiêu đặc biệt, ưu tiên và mang tính nguyên tắc, được củng cố (ở mức độ cao đáng kể) bởi các kết quả kỹ thuật thực tế và rõ ràng. Tới thời điểm hoàn thành các công việc thiết kế - thí nghiệm theo tổ hợp KSS, quan điểm kỹ thuật quân sự và chính trị của lãnh đạo Hải quân đã đạt được ở cấp độ rằng giữ lại quyết định một cách đối chiếu nhiệm vụ lựa chọn đơn giản cho vũ khí “phi thường” – mới tương ứng cho thiết bị mang. Trong sự khó khăn lớn này, đã không nảy sinh: cho dòng tàu duy nhất có lượng choán nước được chỉ định, thuận lợn, trong nguyên tắc, để bố trí KSS, có thể bắt đầu trên tàu khu trục đề án 56, hơn nữa, một cách dần dần (không xa sau đó) đã trở nên rõ ràng rằng sự đánh giá một cách thuần túy các tàu khu trục pháo – ngư lôi là tốt hay không tốt, nhưng công việc đã được thực hiện và thời gian của chúng đã qua.

Bằng quyết định của Bộ Công nghiệp đóng tàu và Tư lệnh Hải quân ngày 25/26 tháng 7 năm 1955, Phòng thiết kế trung ương số 53 thuộc bộ Công nghiệp đóng tàu đã được giao thiết kế đề án tàu khu trục phóng ngư lôi, trang bị tên lửa KSS trên thân tàu khu trục đề án 56. Trong vai trò tàu thí nghiệm đã lựa chọn tàu khu trục “Bedovưi” đóng ở xưởng Nikolaev mang tên 61 chiến sĩ công xã theo đề án 56, đang nằm ở trong giai đoạn bắt đầu đóng. Đồng thời với đó, Phòng thiết kế trung ương số 53 đã thực hiện đề án kỹ thuật trang bị lại, nhận số hiệu 56-EM (thí nghiệm, biến thể). Các quyết định chung của Tư lệnh Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu ngày 16 tháng 4 năm 1956 đã nghiên cứu thiết kế đề án làm việc 56-M theo so sánh với đề án 56-EM đã có (áp dụng) những thay đổi sau: pháo phòng không 45mm SM-20-Zif được thay bằng các pháo 57mm ZiF-57; lắp vũ khí ngư lôi từ 2 thiết bị phóng ngư lôi 2 ống 533mm; lắp 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500; dự định hệ thống chống nguyên tử (PAZ); thực hiện các biện pháp tăng cường tính ổn định.

Tổng công trình sư tàu đề án 56-EM(-M) là O.F.Yakob, nhóm quan sát viên từ phía Hải quân do kỹ sư – thuyền trưởng cấp 1 V.S.Avdeev. Để đẩy mạnh các công việc đóng tàu đề án 56-M, nhận tên gọi “Prozolivưi” đã tiếp nhận quyết định thực hiện thiết lập các bản vẽ làm việc mà không có sự thực hiện đề án kỹ thuật. Theo bộ phận đóng tàu đề án 56-M khác biết với đề án cơ sở đề án 56 “thuần túy” trong sự so sánh không nhiều. Việc lắp tên lửa chống tàu trong khung thân tàu không thay đổi yêu cầu bố cục lại thượng tầng mạn tàu, thay pháo 130mm và 45mm thành thiết bị phóng và trạm chuẩn bị tên lửa trước phóng, thay đổi buồng dưới tháp pháo với mục đích bố trí tên lửa chống tàu KSS thay cho hầm chứa đạn pháo 130mm và 45mm. Ở khu vực kho đạn KSS có bố trí “di động” 2 vách ngăn chính không thấm nước.
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười, 2012, 12:37:33 am gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #61 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2012, 01:24:57 am »

Pháo tự động 45mm SM-20-ZiF ở mạn tàu trên “Bedovưi” được “chuyển” tới mũi ở vị trí tháo pháo 130mm SM-2-1. Trên “Prozorlivưi” theo sơ đồ này bố trí các pháo tự động 57mm. Với mục đích tăng tầm xa phát hiện mục tiêu, đài ra đa định vị được lắp cao trên cột buồm, kéo theo sự thay đổi trong thiết kế của chúng. Các thiết bị ngư lôi (2 ống thay cho 5 ống) được bố trí theo thành. Ngoài những thay đổi này, trong sự bổ sung 2 bộ phận lắc xuất hiện ở các sống bên.

Kết quả những thay đổi đã chỉ ra ở trên là lượng choán nước tiêu chuẩn (trong khung thân tàu không thay thế) tăng lên theo so sánh với đề án cơ sở 56 hơn 100 tấn, còn hoàn toàn – hơn 85 tấn. Thế nhưng, nhờ sự thay đổi kiến trúc “điều chỉnh”, đã thành công một cách rõ rệt tăng độ ổn định trong gió của tàu, mặc dù diện tích hứng gió được tăng cường. Trong các mục tiêu chống lại vũ khí hủy diệt hàng loạt trong đề án 56-M, lần đầu tiên trên các tàu lớp này dự kiến làm kín thân tàu, thượng tầng, hệ thống nước và các khí tài phòng thủ tập thể khác.

Tổ hợp tên lửa chống tàu KSS – vũ khí chính của tàu khu trục – gồm trực tiếp tên lửa chống tàu hoặc theo thuật ngữ khi đó – đạn máy bay, thiết bị khởi động, hệ thống điều khiển từ xa của đạn D-59-A, hệ thống bảo vệ và nạp đạn máy bay, các khí tài điều khiển bắn.

Tên lửa chống tàu được trang bị đầu đạn tự dẫn bắn bằng ra đa định vị với tầm bám bắt mục tiêu gần 20km và tự động hoàn toàn trong khi bay. Sự tiếp nhận nó trong chiến đấu có khả năng vào mục tiêu trên bộ cũng như trên biển. Trong trường hợp đầu tiên, ở hành trình cuối của quỹ đạo, KSS lấy độ cao 800-1000 mét và thực hiện sự bổ nhào vào mục tiêu. Khi tấn công mục tiêu trên biển, tên lửa tiêu diệt mục tiêu từ bán cầu trên không hoặc tách bộ phận chiến đấu từ tàu lượn và bộ phận chiến đấu tấn công mục tiêu từ dưới nước.

Thiết bị khởi động ổn định SM-59-1 giới thiệu là sự tương tự tháp pháo cổ điển, trang bị thay cho pháo bằng rãnh dẫn hướng. Nhiệm vụ của nó là dẫn bắn ngang cho tên lửa và ổn định theo góc tầm và góc nghiêng hướng (ngang) khi phóng. Thiết bị phóng được bọc thép. Toàn bộ trên các tàu được bố trí 8 tên lửa KSS, 7 trong số đó nằm trong hầm và 1 trên trạm chuẩn bị trước phóng. Trong hầm, các tên lửa được bảo quản ở tình trạng “khô”, cùng với các thùng nhiên liệu, được làm đầy bằng nitơ thay cho chất đốt. Do sự nạp nhiên liệu cho tên trước trước phóng, tốc độ bắn lý thuyết của 1 lần phóng tổng cộng là 8-10 phút, trên thực tế, thời gian này tăng lên đến 20 phút.

Các khí tài điều khiển bắn “Kiparis-56M” bảo đảm sự thu nhập thông tin – các thông tin xuất phát điển cho việc bắn, xử lý thông tin và dẫn vào thiết bị khởi động và tới tên lửa. Cùng với thông tin nhận được từ nguồn thông tin của tàu, dự định sự nhận thông tin của nó từ các trạm trên biển và trên bờ, cần thiết khi bắn ngoài giới hạn chân trời của ra đa định vị.

Trang bị pháo của tàu khu trục gồm 4 pháo tự động 4 nòng 57mm Zif-57 trên boong. Các thông tin bắn được xử lý từ 2 đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Fut-B”.

Trong vai trò vũ khí chống ngầm chủ yếu, trên tàu lắp thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm mới. Các thiết bị này khác với trước đó được lắp trên đề án 56 không chỉ ở số lượng ống phóng, và còn tăng chiều dài và các đặc điểm thiết kế khác, cho phép sử dụng khi đó các ngư lôi chống ngầm mới. Bổ sung vũ khí chống ngầm còn có 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500. Lần đầu tiên trên các tàu lớp này đã bố trí các máy bảo vệ thủy âm tốc độ cao (BOKA) để chống lại các ngư lôi thủy âm và mìn. Việc sử dụng chúng dự kiến trong tốc độ 10...30 hải lý khi sóng biển cấp 7.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #62 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2012, 02:10:42 am »

Trong vai trò các khí tài phát hiện và chỉ thị mục tiêu chính, loạt tàu đề án 56-M có đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi “Fut-N”, đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi và mục tiêu bay tầm thấp trên không “RiF-S”, đàu điều khiển bắn vũ khí tên lửa “Zalp-S (nhận sự chỉ thị mục tiêu từ đài ra đa định vị “Rif-S”). Điểm yếu chính của các khí tàu kỹ thuật vô tuyến được kể ra ở trên vào thời gian đó là khả năng kháng nhiễu thấp khỏi các loại nhiễu thụ động và chủ động. Sự chiếu thiết bị dưới nước và phát hiện mục tiêu đảm bảo bằng đài thủy âm “Hercules-2M”. Ăng ten đài thủy âm được bố trí (như trên đề án 56) và mũ chụp cơ động dưới sống tàu.

Quan sát sự liệt kê vũ khí trên các tàu đề án 56 chỉ ra rằng, theo thành phần trang bị vũ khí và khả năng chiến đấu, nó là sự khác biệt căn bản so với vũ khí tàu khu trục đề án 56 (không chỉ ở tổ hợp KSS). Trong lịch sử đóng tàu Liên Xô cũng như nước ngoài, đây là trường hợp hiếp, nếu không nói là trường hợp duy nhất chế tạo tàu một cách nguyên tắc với chất lượng tàu chiến mới không có những sự thay đổi căn bản thậm chí rõ ràng theo bộ phận cơ khí và đóng tàu từ đề án cơ sở.


Trong quá trình thí nghiệm tổ hợp KSS đã thực hiện không chỉ một lần phóng tên lửa vào tàu quét mìn cố định, mô phỏng tàu tuần dương có sự hỗ trợ của các bộ phản xạ góc. Khoảng cách bắn là 33,5km thì việc bắn được thực hiện trong các điều kiện quan sát ra đa định vị trực tiếp và nhận được đánh giá “xuất sắc”. Việc kiểm tra chất lượng truyền động và các hoạt động của thiết bị năng lượng, tàu khu trục duy trì được là tốt. Tốc độ tối đa là 39 hải lý. Tàu khu trục “Prozorlivưi” có thể tính là tàu đầu tiên trong dòng thuộc đề án 56-M. Bên ngoài, so với tàu khu trục đề án 56-EM, tàu khu trục đề án 56-M khác biệt ở sự thay đổi đường bao ống khói (mỏng hơn), các cột trụ buồm vững chắc và cao hơn và không có trạm nhìn – đo xa ổn định SVP-42-50 mà trên đề án 56-EM giữ lại từ đề án 56 “thuần túy”. Ở phương Tây, các tàu này được biết đến dưới tên gọi lớp Kildin.

Các tàu đề án 56-M là các tàu tên lửa Liên Xô đầu tiên trong thực tế chuyên ngành đóng tàu. Ở nước ngoài, các tàu đồng dạng với nó chỉ có thể tính là các tàu khu trục Thụy Điển “Halland” (2 tàu) được đóng trước đó 2 năm. Tuy nhiên, các tàu này ở mức độ cao hơn so với lớp tàu khu trục cổ điển, bởi tổ hợp tên lửa Rb.02 được lắp như sự bổ sung vũ khí chính và theo các khả năng chiến đấu, nó thua kém KSS.

Trong sự tương ứng (phù hợp) với xu hướng mới, qua một thời gian không dài, các tàu khu trục này được phân bố thành lớp tàu mới “tàu tên lửa lớn”. Việc kiểm tra (trong thực tế) chiến đấu cho các tàu tên lửa mới không được thực hiện. Tuy nhiên, các tên lửa KSS trong quá trình thí nghiệm và huấn luyện chiến đấu, đã làm chìm xuống đáy biển không ít tàu và thuyền của Liên Xô đang trong thời gian hoạt động mà nhiều trong số chúng khi đó, là sự vinh quang và tự hào của Hải quân Liên Xô. Hoàn toàn có khả năng rằng sự tiếp nhận chiến đấu của các tàu đề án 56-M vào cuối những năm 1950 – đầu những năm 1960, nếu nó là, theo hiệu quả của chúng, có thể so sánh với sự xuất hiện của “pháo hạm”. Như khi đó, khi mà các tàu trang bị nhiều pháo đã chứng minh là không có khả năng chống lại “các hộp pho mát trên bè mảng” (коробки из-под сыра на плоту) không dễ bị tổn thương, ở vị trí này, có thể chỉ ra (gặp phải) các tàu khu trục và tuần dương trang bị pháo cho đến những tàu hạng nặng nhất của đối phương. Tuy nhiên, máy bay cường kích có hiệu quả lớn hơn trong việc chống lại các tàu khu trục tên lửa.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #63 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2012, 12:19:28 pm »

Các biến thể

Như đã nhấn mạnh ở trên, các tàu đề án 56-EM và 56-M khác nhau ở các giải pháp kiến trúc không đáng kể - trên các tàu đề án sau có ống khói mỏng hơn, cột buồm cao hơn, đồng thời không có trạm quan sát – đo xa SVP-42-50. Ngoài ra, các pháo phòng không tự động SM-20-ZiF được thay bằng pháo 57mm Zif-75, lắp hệ thống phòng thủ vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Các điểm yếu của tên lửa KSS trở thành nguyên nhân nâng cấp 3 tàu theo đề án 56-U với việc lắp tổ hợp tên lửa có cánh chống tàu mới P-15M “Termit” theo thành ở mạn tàu và 2 thiết bị pháo 726. Đề án được thực hiện ở Phòng thiết kế thí nghiệm Phương Bắc vào cuối những năm 1960. Ngoài vũ khí chính đã nâng cấp trang bị kỹ thuật vô tuyến. Ở phương Tây, các tàu này được nhận tên gọi biến thể lớp Kildin.

Chương trình đóng tàu

Tàu khu trục đầu tiên được khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 445) mùng 1 tháng 12 năm 1953 theo đề án 56 và đóng tiếp như tàu thí nghiệm đề án 56-EM. Ngày 30 tháng 6 năm 1958, tàu gia nhập biên chế và sau đó 1 tháng, đã gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen.

Tàu khu trục đầu tiên trong loạt “Prozorlivưi” đề án 56-M khởi công 1 tháng 9 năm 1956 ở xưởng đóng tàu mang tên 61 chiến sĩ công xã, hạ thủy 30 tháng 6 năm 1957, còn từ 25 tháng 9 đến 15 tháng 11 năm 1958, tàu trải qua các thí nghiệm cấp xưởng và vận động mà khi chưa được kết thúc hoàn toàn và sự dừng của chúng cùng với các thí nghiệm cấp nhà nước. Các thí nghiệm sau cùng (cấp nhà nước) đã diễn ra từ 16 tháng 11 đến 30 tháng 12 cùng năm ở biển Đen. Trong cùng năm 1958 đã hoàn thành việc đóng 2 tàu khu trục: “Neulovimưi” (ở Leningrad) và “Neuderzhimưi” (ở Komsomol-na-Amur).

Thêm vào khi đó, khi tiếp nhận quyết định về trang bị tàu khu trục đề án 56 bằng tổ hợp KSS, đã ngay lập tức bố trí trên các tàu này 2 thiết bị phóng. Tuy nhiên, khi vào giai đoạn nghiên cứu bước đầu đã trở nên rõ ràng rằng, trong thân tàu không có sự thay đổi của đề án 56, việc này không thực hiện thành công. Vì thế, song song với việc đóng các tàu khu trục đề án 56-M đã thực hiện thiết kế tàu mới với 2 tổ hợp KSS dưới số hiệu 57. Bằng cách này, các tàu đề an 56 trở thành sự chuyển giao từ đề án 56 sang đề án 57 và vì thế số lượng của chúng bị hạn chế ở số 4 (gồm tàu thí nghiệm 56-EM). Tàu thứ 5 bị dừng đóng và không được khởi công.

Tình hình đến năm 2007

Hai tàu khu trục đã gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen và theo 1 vào các Hạm đội Thái Bình Dương và Baltic (sau đó đồng thời chuyển sang Hạm đội Biển Đen). Từ 19 tháng 5 năm 1966, toàn bộ các tàu trong dòng được phân loại lại thành các tàu tên lửa lớn, sau đó (trong những năm 1970) – thành tàu chống ngầm lớn và năm 1977 – một lần nữa thành tàu khu trục phóng ngư lôi (trừ “Neuderzhimưi”).

Trong thời gian ở khu vực chiến sự, các tàu đề án 56-M đã thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội các nước khác: “Bedovưi” – Ai Cập từ 7 tháng 10 năm 1970 đến 15 tháng 7 năm 1971; “Prozorlivưi” – Angola từ 1 tháng 11 đến 31 tháng 12 năm 1979.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #64 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2012, 12:21:19 pm »


Sự bố trí vũ khí trên tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56-M

1. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

2. Thiết bị pháo 4 nòng 57mm Zif-75

3. Các trạm ăng ten đài ra đa định vị “Fut-B” điều khiển bắn pháo 57mm

4. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N”

5. Đài điều khiển bắn tên lửa chống tàu KSS “Zalp-S”

6. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi “Rif-S”

7. Các thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm

8. Trạm chuẩn bị trước phóng cho các tên lửa

9. Thiết bị phóng SM-59-1

10. Máy bảo vệ thủy âm cao tốc BOKA.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #65 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2012, 12:30:32 pm »


Tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56-M

1. Thiết bị phóng SM-59-1

2. Trạm chuẩn bị trước phóng cho tên lửa

3. Thiết bị pháo ZiF-75

4. Trạm ăng ten đài ra đa định vị “Fut-N”

5. Ăng ten đài ra đa định vị “RiF-S”

6. Trạm ăng ten đài ra đa định vị thủy âm “Fut-B”

7. Buồng hoa tiêu

8. Buồng sỹ quan

9. Buồng chiến đấu

10. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500

11. Khoang tời

12. Kho chứa đạn

13. Thùng nhiên liệu

14. Trạm trung tâm

15. Buồng máy – nồi hơi ở mũi tàu

16. Khoang nồi hơi hỗ trợ

17. Buồng máy – nồi hơi ở mạn tàu

18. Thùng nước dự trữ

19. Buồng tay lái

20. Bè cứu nạn

21. Thuyền 6 tay chèo

22. Thiết bị ngư lôi D(P)TA-53-56M

23. Xuồng máy

24. Xuồng máy chỉ huy
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #66 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2012, 12:36:49 pm »

Các bản vẽ thiết kế và bản vẽ màu tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56







Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #67 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2012, 12:47:24 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Bedovưi” (số hiệu xưởng 1204); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 1 tháng 12 năm 1953 ở xưởng số 445 tại Nikolaev theo đề án 56 và đóng tiếp theo đề án 56-EM; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1955; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 30 tháng 7 năm 1958; là tàu đầu tiên trong Hải quân Liên Xô trang bị vũ khí tên lửa chống tàu; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu khu trục phóng ngư lôi; 26 tháng 1 năm 1973 – tàu chống ngầm lớn; 28 tháng 6 năm 1977 – trở lại thành tàu khu trục phóng ngư lôi; 20-27 tháng 7 năm 1967 tới thăm Havana (Cuba) và 9-11 tháng 9 năm 1969 – tới Bridgeztaun (Barbaros); từ 7 tháng 10 năm 1970 đến 15 tháng 7 năm 1971 trong khu vực chiến tranh, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; từ 18 tháng 7 đến 25 tháng 1 năm 1974 nâng cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-U; từ 23 tháng 4 năm 1981 đến 14 tháng 5 năm 1986 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod”; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 5 tháng 8 năm 1989 bán cho công ty tư nhân Thổ Nhĩ Kỳ để tháo kim loại; giải thể 1 tháng 10 năm 1989.

+ “Prozorlivưi” (số hiệu xưởng 1210); ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 10 năm 1955; khởi công ở xưởng số 445 ở Nikolaev theo đề án 56, đóng tiếp theo đề án 56-M; hạ thủy 30 tháng 7 nawm1 957; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 8 tháng 3 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu khu trục tên lửa; 1 tháng 2 năm 1977 – tàu chống ngầm lớn; 3 tháng 8 năm 1977 – trở lại thành tàu khu trục ngư lôi; năm 1976-1977 trải qua nâng cấp ở “Sevmorezavod” theo đề án 56-U; 25 tháng 8 năm 1978 chuyển tới Hạm đội Baltic; 14-18 tháng 6 năm 1979 tới thăm Helsinki (Phần Lan); 1 tháng 11  - 31 tháng 12 năm 1979 ở khu vực chiến tranh, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Angola; 24 tháng 6 năm 1991 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1991 và sau đó tháo kim loại.

+ “Neulovimưi” (số hiệu xưởng 743/765); ghi tên vào danh sách Hải quân 29 tháng 4 năm 1954; khởi công 23 tháng 2 năm 1957 ở xưởng số 190 ở Leningrad theo đề án 56, đóng lại theo đề án 56-M; hạ thủy 27 tháng 2 năm 1958; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 8 tháng 3 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu khu trục tên lửa; 26 tháng 1 năm 1973 – tàu chống ngầm lớn; 3 tháng 8 năm 1977 – trở lại thành tàu khu trục phóng ngư lôi; 15-20 tháng 2 năm 1969 tới thăm Conacri (Ginea) và 5-10 tháng 3 năm 1969 – tới Lagos (Nigeria); 14 tháng 4 năm 1969 chuyến tới Hạm đội Biển Đen; từ 2 tháng 12 năm 1971 đến 4 tháng 10 năm 1972 nân cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-U; 6 tháng 6 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa tới Sevastopol neo đậu; 18 tháng 3 năm 1982 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 11 tháng 2 năm 1991 và sau đó bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo kim loại.

+ “Heuderzhnưi” (số hiệu xưởng 88); từ 14 tháng 3 năm 1986 là tàu huấn luyện UTS-567; ghi tên vào danh sách Hải quân 19 tháng 1 năm 1955; khởi công 23 tháng 2 năm 1957 ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur theo đề án 56 và đóng tiếp theo đề án 56-M; hạ thủy 24 tháng 5 năm 1958; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 8 tháng 3 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa; 3 tháng 8 năm 1977 – thành tàu chống ngầm lớn; 23 tháng 7 năm 1979 đưa tới “Dalzavod” ở Vladivostoc để đại tu; 8 tháng 12 năm 1985 tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu huấn luyện; 10 tháng 4 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó tháo kim loại.

+ “Neukrotimưi” (số hiệu xưởng 89); ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 10 năm 1955, nhưng nhanh chóng dừng đóng ở xưởng số 199 và không được khởi công.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #68 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2012, 12:25:49 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Đề án 56-EM

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 2890

+ hoàn toàn: 3447

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 126,1 (118)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 12,7 (12,4)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 4,3

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KV-76,2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 800 (53 500)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 39

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 2400 (18)

+ 3900 (14)

Thời gian hoạt động, ngày: 10

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 270 (22).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #69 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2012, 12:37:21 am »

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng SM-59-1 cho tên lửa chống tàu có cánh KSS: 1x1

+ tên lửa chống tàu có cánh KSS (SS-N-1 “Scrubber”): 7…8

Pháo

+ thiết bị pháo 45mm SM-20-ZiF: 4x4

+ thiết bị pháo 57mm ZiF-75: -

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53-56M: 2x2

Chống ngầm

+ RBU-2500 “Smerch”: 2x16

+ cơ số đạn RGB-25: 128

Trang bị vô tuyến điện
(chung cho 2 đề án)

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-56M”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x”Fut-N” (Knife Rest)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay thấp: 1x”Rif-S”

Đài thủy âm: “Hercules-2M”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Bizan-4”

+ BOKA – bảo vệ thủy âm

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Yakor” cho pháo (chỉ trên “Vedovưi”)

+ 1x”Zalp-S” cho tên lửa chống tàu có cánh

+ 2x”Fut-B” (Hawk Screech) cho pháo

Các trạm chỉ huy – đo xa: 1xSVP-42-50 (Egg Cup) chỉ có trên “Vedovưi”

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM