Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:38:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201730 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #70 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2012, 12:39:04 am »

Đề án 56-M

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 2767

+ hoàn toàn: 3315

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 126,1 (118)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 12,7 (12,4)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 4,3

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KV-76,2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 800 (53 500)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 39

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 2400 (18)

+ 3900 (14)

Thời gian hoạt động, ngày: 10

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 270 (22).

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng SM-59-1 cho tên lửa chống tàu có cánh KSS: 1x1

+ tên lửa chống tàu có cánh KSS (SS-N-1 “Scrubber”): 7…8

Pháo

+ thiết bị pháo 45mm SM-20-ZiF: -

+ thiết bị pháo 57mm ZiF-75: 4x4

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53-56M: 2x2

Chống ngầm

+ RBU-2500 “Smerch”: 2x16

+ cơ số đạn RGB-25: 128
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #71 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2012, 04:14:36 pm »

Tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 57-bis – Lớp Krupny


Tổng số tàu đã đóng: 8+1

Các biến thể

+ 57 – đề án kỹ thuật lúc đầu

+ 57-bis (lớp Krupny) – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt tàu khu trục với vũ khí tên lửa (1960)

+ 57-A (lớp Kanin) – tàu khu trục nâng cấp không có tên lửa chống tàu có cánh KSS, lắp tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” và trang bị vô tuyến điện mới (1968).

Khi tiếp nhận quyết định trang bị cho tàu khu trục đề án 56 tổ hợp tên lửa chống tàu KSS, đã có nhiệm vụ bố trí trên chúng ngay lập tức 2 thiết bị phóng, tuy nhiên, trong giai đoạn đầu quá trình nghiên cứu đã trở nên rõ ràng rằng trong thân tàu đề án 56 không có sự thay đổi, công việc này không nhận được kết quả. Vì thế, song song với việc đóng tàu khu trục đề án 56-M, tương ứng với quyết định của Bộ công nghiệp đóng tàu và Tư lệnh Hải quân từ 25/26 tháng 7 năm 1955 đã thực hiện thiết kế tàu mới với 2 tổ hợp KSS dưới số hiệu 57 trên thân tàu đề án 56. Ngày 23 tháng 1 năm 1965, Phòng thiết kế Trung ương số 53 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu đã đệ trình đề án kỹ thuật 57 với 2 thiết bị phóng SM-59 và 19 đạn phản lực (trong những năm đó là tên gọi của tên lửa chống tàu) KSS. Bởi vì khi nghiên cứu đề án này đã chỉ ra chất lượng cơ động trên biển của tàu khu trục đề án 57 không cao: tốc độ tối đa bị giảm và yêu cầu tiếp nhận 250 tấn tải trọng dằn để tạo độ ổn định, theo đó, có quyết định làm lại một cách căn bản đề án này thành đề án 57-bis. Công việc thiết kế cũng được thực hiện ở Phòng thiết kế trung ương số 53 dưới sự lãnh đạo của Tổng công trình sư O.F.Yakov, còn nhóm giám sát viên thực hiện dự án từ phía Hải quân do kỹ sư – đại tá A.T.Ilichev đứng đầu.

Bởi vì ngay khi thiết kế đề án 56-M đã trở nên rõ ràng rằng sự bố trí 2 tổ hợp KSS yêu cầu thiết kế thân tàu mới, kích thước khác so với đề án 56, Viện Hải quân số 1 cùng Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên A.N.Krưlov đã tiến hành các nghiên cứu và thí nghiệm nhiều lần loạt mô hình trong bể nước. Kết quả là đường bao thân tàu và các phần tử bản vẽ lý thuyết đã chỉ ra, về chủ yếu là sự tăng cường lớn đề án 56. (Sau đó, đã một lần nữa chế tạo các tài liệu theo đề án 57-bis trong vai trò quan sát viên chính từ phía Hải quân do kỹ sư - thuyền trưởng cấp 1 M.A.Yanchevski ký – trong thời điểm đó là đại diện quân sự cao cấp ở Phòng thiết kế trung ương số 53 – tuy nhiên, công việc thiết kế chế tạo khi đó đã kết thúc. Thực tế này đã đã chỉ ra sự tồn tại trong thời gian dài: số lượng lớn các tàu liệu thiết kế của Phòng thiết kế trung ương số 53 trong những năm 1950-60 được ký bởi M.A.Yanchevski, mặc thù thực tế các giám giát viên chính là những sỹ quan khác. Bản thân Yanchevski chỉ tham gia trong các đề án 41 và 56).

Đến 30 tháng 12 năm 1956, đề án kỹ thuật dưới số hiệu 57-bis đã hoàn thành việc thiết kế. Nhiệm vụ chính của tàu mới là “… tiêu diệt các tàu nổi của địch (tàu chủ lực, tàu tuần dương, tàu khu trục và tàu vận tải lớn)”, nhiệm vụ bổ sung “… sử dụng tổ hợp vũ khí tên lửa KSS theo các mục tiêu phòng thủ bờ của địch”.

Nguyên tắc phân bố các trạm chiến đấu, vũ khí, các thiết bị máy – nồi hơi, các buồng cho người ở và phục vụ, về cơ bản, giữ lại theo đề án 56 với những sự thay đổi không lớn, liên quan với sự bố trí vũ khí. Về cơ bản, việc này liên qua tới các thiết bị ngư lôi, cũng như trên đề án 56-M, từ mặt phẳng kính (xuyên tâm) chuyển tới các thành tàu. Thiết bị năng lượng chính của tàu đề án 57-bis được tiếp nhận theo đề án 56 với những sự thay đổi không lớn. Như trong các buồng máy – nồi hơi đã chế tạo các cabin kín với trạm điều khiển từ xa cố định. Hệ thống năng lượng điện lần đầu tiên được chế tạo với điện thế 380V, ngoài ra, công suất mỗi máy phát điện diesel tăng từ 200 lên 300 kW. Nhờ lượng choán nước tăng, trên đề án 57-bis, các điều kiện cho người ở của thủy thủ và hạ sỹ quan đã được cải thiện. Thượng tầng tàu được chế tạo từ thép, không phải từ nhôm như trên các đề án trước.

Theo vũ khí trang bị, tàu khu trục đề án 57-bis, về cơ bản, lặp lại trên đề án 56-M với những sự thay đổi không đáng kể. Trong vai trò vũ khí chính trên tàu lắp tổ hợp tên lửa KSS với 2 thiết bị phóng SM-59-1A ở cuối mũi và mạn tàu với cơ số 12 đạn tên lửa chống tàu có cánh. Để bổ sung, trong mỗi thiết bị có thể tiếp nhận thêm 2 tên lửa. Sự điều khiển bắn được thực hiện bằng hệ thống điều khiển “Topol”. Hệ thống dự bị “Kedr” quyết định đơn giải hóa nhiệm vụ bắn chỉ vào các mục tiêu trên biển trong các điều kiện quan sát mục tiêu trực tiếp bằng ra đa định vị. Hệ thống điều khiển phóng chính đảm bảo bắn loạt bằng 2 thiết bị phóng vào 1 mục tiêu trên biển hoặc trên bờ, hoặc bắn riêng (độc lập) và 2 mục tiêu khác nhau. Tốc độ bắn giữa các lần phóng tên lửa là 5-15 giây.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #72 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2012, 04:25:14 pm »

Các bản vẽ và hình vẽ tàu khu trục ngư lôi đề án 57-bis


Tàu tên lửa lớn “Boiki”; thành phần vũ khí: tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh SM-59 (12-16 tên lửa KSS), 2 RBU-2500



Tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 57-bis, năm 1961



Được khởi công như các tàu khu trục, 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn, còn sau khi nâng cấp – tàu chống ngầm lớn. Sư cần thiết nâng cấp đắt đỏ nhất là hiệu quả thấp của tên lửa chống tàu có cánh KSS.



Hình vẽ màu đề án tàu khu trục 57-bis
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #73 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2012, 05:45:46 pm »

Pháo của đề án 57-bis cũng như trên đề án 56-M – có 4 pháo tự động 4 nòng 57mm Zif-75 với 2 đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Fut-B”, tuy nhiên sự bố trí các pháo tự động, cũng như trên đề án 56, được khôi phục (lặp lại) theo sơ đồ hình thoi. Trong vai trò hệ thống điều khiển hỏa lực dự bị đã lắp trên thượng tầng mũi trạm chỉ huy – đo xa SVP-42-50 (không có đài ra đa định vị). Các kích thước lớn của tàu đề án 57-bis theo so sánh với đề án 56-M, cụ thể là chiều dài, cho phép tăng cường vũ khí ngư lôi do lắp các thiết bị ngư lôi 3 ống phóng thay cho 2. Vũ khí bom phản lực được giữ lại theo đề án 56-M – 2 RBU-2500. Tuy nhiên, các thiết bị phóng bom phản lực được bố trí theo thành và di chuyển tới vị trí mạn tàu và lấp vào chỗ thiết bị phóng SM-59-1A ở mũi tàu.

Trang bị vô tuyến điện của tàu, trừ đài ra đa định vị bắn được nhắc đến bao gồm đài ra đa định vị 2 tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp “Angara” (khí đó là mới). Trang bị thông ti liên lạc và thủy âm của tàu đề án 57-bis theo danh pháp thực tế không khác so với trang bị tương ứng của đề án 56-M. Để bảo vệ khỏi vũ khí mìn – ngư lôi, ngoài tiếp nhận như trên đề án 56-M là hệ thống bảo vệ thủy âm, trên đề án 57-bis còn lắp máy giữ xích TsOK-2-60 (bảo vệ khỏi các loại mìn neo tiếp xúc).

Ở bộ phận mạn tàu bố trí và trang bị bãi cất – hạ cánh cho trực thăng Ka-15. Nhiên liệu dự trữ đảm bảo cho trực thăng cất cánh 5 lần. Ngoài ra, để đảm bảo cho đội kỹ thuật và đội bay có các buồng cho người sống tương ứng. Nhiệm vụ chiến đấu của trực thăng là rất đơn giản – giám sát bằng mắt thường bối cảnh trên mặt nước. Thực tế, việc sử dụng các trực thăng trên các tàu này là rất hiếm. Ngay trực thăng Ka-15 cũng tỏ ra không thành công và nhanh chóng bị rút khỏi trang bị. Mặc dù vậy, các tàu khu trục đề án 57-bis có thể tính toán là những tàu chiến Liên Xô đầu tiên đáng tin cậy với trang bị trực thăng. Ở phương Tây, các tàu khu trục mới của Liên Xô nhận tên gọi “lớp Krupny”.

Xem xét ngắn gọn các phần tử kỹ - chiến thuật chính của tàu đề án 57-bis được phân loại lại, cũng như dòng tàu đề án 56 trước thành tàu tên lửa lớn, không đưa lại các cơ sở khẳng định rằng đây là bước mới về chất trong ngành đóng tàu Liên Xô. Nó đã kết thúc sự phát triển một cách tương đối lớp tàu khu trục đầu tiên sau chiến tranh của những năm 1950, bắt đầu bởi đề án số 41. Khi chuyển từ đề án 41 sang đề án 56, những sự thay đổi căn bản chỉ hướng vào thân tàu. Thực tế, thiết bị năng lượng và vũ khí thay đổi không lớn. Đề án 56-M đã giữ lại nhưng thay đổi không lớn ở thân tàu và thiết bị năng lượng. Trong sự chuyển đổi từ đề án 56-M tới đề án 57-bis, những sự thay đổi cơ bản là tỷ lệ kích thước thân tàu tăng trong thiết bị năng lượng và trang bị vũ khí không đổi. Sự bố trí chung và các giải pháp bố cục – kiến trúc được giữ lại không thay đổi trong sự phát triển kể trên. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng thậm chí những thiết kế tương tự trong Hải quân nước ngoài vào thời gian đó chưa có.

Theo hướng các đề án 41, 56, 57, lần đầu tiên trong Hạm đội Liên Xô đã thể hiện hàng loạt các giải pháp kỹ thuật thực tế và mới căn bản: lần đầu tiên thực hiện cấu trúc thân có boong trơn trên tàu khu trục (đề án 41); lần đầu tiên áp dụng các tham số hơi nước tăng cường (đề án 41) và tăng hiệu điện thế hệ thống năng lượng (đề án 57-bis); lần đầu tiên áp dụng máy chống rung chủ động (đề án 56); lần đầu tiên lắp vũ khí tên lửa tấn công (chống tàu – đề án 56-M); lần đầu tiên lắp hệ thống chống nguyên tử và hóa học (đề án 56-M); lần đầu tiên lắp tên lửa phòng không điều khiển (đề án 56-K); lần đầu tiên bắt đấu bố trí vũ khí trực thăng thường trực (tàu khu trục “Svetlưi” đề án 56 và đề án 57-bis).

Trong cùng thời gian thiết kế tàu đề án 57-bis đã chỉ ra rằng thế hệ các đề án 41, 56, 57 đã được tận dụng hoàn toàn các khả năng của chúng. Đối với các tàu thế hệ mới, yêu cầu các giải pháp kỹ thuật mới, mà phần lớn là hướng tiếp cận mới.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #74 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 12:02:28 am »

Các biến thể

Sự phục vụ của các tàu khu trục (từ năm 1966 – các tàu tên lửa lớn) đề án 57-bis trong vai trò thiết bị mang tên lửa chống tàu có cánh được xem là không lâu. Hiệu quả và độ tin cậy rất thấp của các tên lửa KSS là nguyên nhân chính cho việc nâng cấp theo đề án 57-A. Toàn bộ các bộ phận thuộc tổ hợp tên lửa có cánh KSS bị tháo khỏi các tàu, lắp tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần  “Volna”, các pháo tự động 30mm, các thiết bị phóng bom phản lực mới RBU và thiết bị ngư lôi 5 ống phóng. Bãi cất hạ cánh chi trực thăng ở mạn tàu đồng thời chịu những sự thay đổi đáng kể để làm căn cứ cho trực thăng hạng nặng hơn Ka-25. Trên vị trí cột buồm chính, bố trí trạm ăng ten của đài dẫn bắn tên lửa phòng không “Yatagan”, còn ở cột buồm mũi – đài ra đa định vị 3 tọa độ mới và các khí tài vô tuyến điện khác. Lượng choán nước hoàn toàn tăng thêm 300 tấn. Sau khi nâng cấp, các tàu đề án 57-A được phân loại thành tàu chống ngầm lớn. Ở phương Tây cũng gọi các tàu này dưới tên “lớp Krupny” – có thể là tính các tàu được đóng mới.

Chương trình đóng tàu

Việc đóng các tàu đề án 57-bis được triển khai ở 3 xưởng: xưởng đóng tàu mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad (4 tàu); xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev (3 tàu) và xưởng mang tên đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (1 tàu). Tương ứng với sự phân loại lúc đầu, chúng nhận tên gọi theo các tàu khu trục ngư lôi, mà tới thời điểm đó, nhiều tàu khu trục của Hải quân Liên Xô đã mang. Tàu khu trục đầu tiên – “Gnevnưi” – được khởi công tháng 11 năm 1957 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã và gia nhập biên chế tháng 1 năm 1960. Tàu cuối cùng trong lớp – “Gordưi” – được bàn giao cho Hải quân tháng 11 năm 1961. Thân tàu thứ 9, được đóng ở Komsomol-na-Amur và nhận tên gọi “Khrabrưi” đã bị dừng đóng và cải tạo lại thành tàu năng lượng (tàu tiếp tế) và sau đó bán, tháo kim loại.

Tình hình đến năm 2009

Các tàu đề án 57-bis gia nhập biên chế các Hạm đội sau: 3 – Phương Bắc, 2 – Biển Đen (sau đó, 1 chuyển sang Thái Bình Dương, còn tàu còn lại – Phương Bắc), 1 – Baltic, 2 – Thái Bình Dương. Tàu khu trục “Gremyasi” cùng với tên gọi đã nhân được cờ Cận vệ Hải quân của tàu tiền nhiệm sau cùng – tàu khu trục nổi tiếng thuộc đề án 7 xuất sắc trong biên chế Hạm đội Phương Bắc trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Từ 19 tháng 5 năm 1966, toàn bộ các tàu khu trục đề án 57-bis được phân loại lại thành tàu tên lửa lớn.

Nằm trong khu vực chiến tranh, thực hienj nhiệm vụ yểm trợ quân đội các nước: “Gnevnưi” – Ai Cập trong tháng 6 năm 1976 và từ tháng 4 đến tháng 12 năm 1968. Siry – tháng 6 năm 1967; “Gremyasi” – Ai Cập năm 1971, “Zhguchi” – Ai Cập trong thời gian toàn bộ năm 1970.

Sau khi nâng cấp trong những năm 1960-70 theo đề án 57-A, toàn bộ các tàu lớp “Gnevnưi” được phân loại thành tàu chống ngầm lớn. Trong vai trò này, chúng phục vụ đến cuối những năm 1980 - tới khi Liên Xô tan rã. Tàu khu trục cuối cùng thuộc đề án 57-A – “Zorki”, được phân loại lại thành tàu tuần tra tên lửa, nằm trong biên chế đến năm 1993. Các tàu còn lại cho đến khi bị loại khỏi biên chế được sử dụng trong vai trò tàu mục tiêu để thí nghiệm các tên lửa chống tàu hoặc làm doanh trại nổi.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #75 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 12:28:53 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Gnevnưi” (số hiệu xưởng 1401); khởi công 16 tháng 11 năm 1957 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev (số 445); ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 12 năm 1957; hạ thủy 30 tháng 11 năm 1958; gia nhập biên chế 10 tháng 1 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 22 tháng 8 năm 1960; 21-26 tháng 1 năm 1967 và 9-15 tháng 1 năm 1969 tới thăm Massaua (Etiopia); 15-20 tháng 10 năm 1968 và 20-25 tháng 4 năm 1972 – tới Casablanca (Maroc); 2-7 tháng 10 năm 1969 – tới Aden (Nam Yemen); 5-9 tháng 4 năm 1969 – tới Nairobi (Mavriki); 22-27 tháng 11 năm 1975 – tới Bombei (Ấn Độ) và 25-30 tháng 8 năm 1976 – tới Vancouver (Canada); 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; 1-31 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 4 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; còn từ 5-30 tháng 6 năm 1967 – quân đội Siry’ 13 tháng 3 năm 1969 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn 1972 – 30 tháng 12 năm 1973 nâng cấp và đóng lại ở Nikolaev theo đề án 57-A và 7 tháng 3 năm 1974 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 8 tháng 5 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 17 tháng 7 năm 1988 và sau đó tháo kim loại.

+ “Gremyasi” (số hiệu xưởng 771); từ 25 tháng 8 năm 1988 là OS-135 ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 12 năm 1957; khởi công 25 tháng 2 năm 1958 ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad (số 190); hạ thủy 30 tháng 4 năm 1959; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 19 tháng 12 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 1966 - 29 tháng 12 năm 1968 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 57-A và 20 tháng 1 năm 1969 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 14-27 tháng 5 năm 1970 tới thăm Havana và Senfuegos (Cuba); 10-15 tháng 9 năm 1971 – tới Oslo (Na Uy) và 2-26 tháng 9 năm 1971 – tới Rotterdam (Hà Lan); năm 1971 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 17 tháng 7 năm 1987 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí, phân loại lại thành tàu thí nghiệm; 2 tháng 10 năm 1991 loại khỏi danh sách tàu Hải quân; năm 1994 bán cho công ty tư nhân Italia để tháo kim loại. Trong giai đoạn phục vụ mang cờ Cận vệ Hải quân, thừa kế từ tàu khu trục cùng tên đề án số 7.

+ “Upornưi” (số hiệu xưởng 1402); từ 27 tháng 1 năm 1992 là PKZ-12; khởi công 9 tháng 4 năm 1958 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev (số 445); hạ thủy 14 tháng 10 năm 1959; gia nhập biên chế 3 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 20 tháng 12 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 26 tháng 12 năm 1967 – 22 tháng 3 năm 1968 trải qua đại tu ở “Dalzvod” tại Vladivostoc theo đề án 57-A và 3 tháng 8 năm 1977 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; năm 1969 phục vụ trực chiến ở Ấn Độ Dương và đã hoàn thành chuyến công tác, ghie qua Zanzibar (Tanzania), Male (quần đảo Maldives), Umm-Casr (Iraq), Bender-Abbas (Iran) và Berbera (Somali); 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và phân loại lại thành doanh trại nổi; 29 tháng 6 năm 1993 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và sau đó bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #76 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 12:47:31 am »

+ “Zhguchi” (số hiệu xưởng 722); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 4 năm 1958; khởi công 23 tháng 6 năm 1958 ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad (số 100)’ hạ thủy 14 tháng 10 năm 1959; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 3 tháng 1 năm 1961; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 6 tháng 2 năm 1967 – 10 tháng 1 năm 1969 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 57-A và 21 tháng 10 năm 1969 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1970 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 10-15 tháng 9 năm 1971 và 10-15 tháng 10 năm 1977 tới thăm Oslo (Na Uy); 21-16 tháng 9 năm 1971 – tới Rotterdam (Hà Lan); 12-17 tháng 5 năm 1975 – tới Boston (Mỹ) và 24-19 tháng 5 năm 1977 – tới Sharburg (Pháp); 30 tháng 7 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 6 tháng 8 năm 1987 và sau đó bán cho công ty tư nhân Italia để tháo kim loại.

+ “Gordưi” (số hiệu xưởng 90); ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 12 năm 1967; khởi công tháng 5 năm 1959 ở xưởng mang tên đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 24 tháng 5 năm 1960; gia nhập biên chế 6 tháng 2 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 15 tháng 11 năm 1961; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; 28-31 tháng 3 năm 1968 tới thăm Madras và 3-6 tháng 4 năm 1968 – tới Bombei (Ấn Độ); trong giai đoạn 1973-1975 nâng cấp và đóng lại ở “Dalzavod” tại Vladivostoc theo đề án 57-A và 20 tháng 6 năm 1975 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 30 tháng 7 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 9 tháng 8 năm 1987 và sau đó bị đánh chìm trên biển Bering gần bờ biển Camchatka trong vai trò tàu mục tiêu khi đảm bảo xử lý bắn tên lửa thật.

+ “Boiki” (số hiệu xưởng 1403); khởi công 2 tháng 4 năm 1959 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev (số 445); ghi tên vào danh sách Hải quân 8 tháng 7 năm 1959; hạ thủy 15 tháng 12 năm 1959; gia nhập biên chế 26 tháng 6 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 14 tháng 10 năm 1961; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; 6-11 tháng 8 năm 1966 tới thăm Alecsandria (Ai Cập); 15-20 tháng 2 năm 1969 – tới Conacri (Ginea); 5-10 tháng 3 năm 1969 – tới Lagos (Nigeria); trong giai đoạn 23 tháng 10 năm 1970 – 6 tháng 4 năm 1973 nâng cấp và đóng lại ở Nikolaev theo đề án 57-A và 2 tháng 11 năm 1972 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 8 tháng 6 năm 1970 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 12-17 tháng 11 năm 1974 tới thăm Oslo (Na Uy) và 12-17 tháng 5 năm 1975 – tới Boston (Mỹ); 9 tháng 2 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 17 tháng 7 năm 1988; năm 1989 bán cho công tuy tư nhân Tây Ban Nha để tháo kim loại, nhưng trong khi kéo từ vịnh Kolsk tới El-Ferolo đã gặp bão mạnh và bị vứt gần bãi đá trên bờ gần bờ biển Bắc Na Uy.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #77 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 01:08:56 am »

+ “Zorki” (số hiệu xưởng 773); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 4 năm 1958; khởi công 17 thnags 4 năm 1959 ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad (số 190); hạ thủy 30 tháng 4 năm 1960; gia nhập bien chế 30 tháng 9 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 14 tháng 10 năm 1961; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 29 tháng 5 năm 1969 – 31 tháng 12 năm 1971 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 57-A và 27 tháng 1 năm 1971 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 12-17 tháng 11 năm 1974 tới thăm Oslo (Na Uy) và 12-17 tháng 4 năm 1979 – tới Bisau (Ginea – Bisau); từ 10 tháng 2 năm 1984 đến 27 tháng 2 năm 1987 trải qua đại tu ở Murmansk; 1 tháng 6 năm 1992 phân loại lại thành tàu tên lửa tuần tra; 30 tháng 6 năm 1993 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 31 tháng 12 năm 1993 và sau đó tháo kim loại.

+ “Derzki” (số hiệu xưởng 774); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 4 năm 1958; khởi công 10 tháng 10 năm 1959 ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad (số 190); hạ thủy 4 tháng 2 năm 1960; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 12 tháng 1 năm 1962; 19 tháng 5 năm 1961 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 20 tháng 11 năm 1967 – 22 tháng 4 năm 1972 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 57-A và 20 tháng 10 năm 1970 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 4-9 tháng 8 năm 1973 tới thăm Havana (Cuba); 7 tháng 8 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đi neo đậu; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1990 trở thành tàu mục tiêu để đảm bảo thực hiện các bài tập chiến đấu.

+ “Khrabrưi” (số hiệu xưởng 91); từ 25 tháng 1 năm 1969 là ENS-73; ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 4 năm 1959; khởi công năm 1959 ở xưởng mang tên đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy năm 1961; 1 tháng 7 năm 1973 dừng đóng và niêm cất; 25 tháng 1 năm 1969 phân loại lại thành tàu năng lương; 11 tháng 3 năm 1982 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và bàn giao tới “Glavvtochermeta” để tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #78 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 01:16:00 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 3500

+ hoàn toàn: 4192

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 139 (130)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 14,8 (13,9)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,47

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KV-76, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 800 (53 500)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện – diesel, công suất, (kW): 2x300

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 34,5

+ tiết kiệm năng lượng: 18

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3060 (18)

Thời gian hoạt động: 10

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 290 (21)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #79 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 01:18:41 am »

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng SM-59-1A thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh KSS: 2x1

+ tên lửa chống tàu có cánh KSS (SS-N-1 “Scrubber”): 12…16

Pháo

+ thiết bị pháo 57mm ZiF-75: 4x4

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm TTA-57-bis: 2x3

Chống ngầm

+ RBU-2500: 2x16

+ cơ số đạn RGB-25: 128

Vũ khí đường không

+ bãi đáp trực thăng Ka-15 (“Heh”): 1.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM