Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:43:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201740 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #90 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:13:48 am »

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng KT-190 thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Moskit”: 2x4

+ tên lửa chống tàu có cánh 3M80 “Moskit” (SS-N-22 “Sunburn”): 8

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng MS-196 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không M-22 “Uragan”: 2x1

+ tên lửa phòng không điều khiển 9M38M (SA-N-7 “Gadfly”): 48

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm AK-130: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53: 2x2

Chống ngầm

+ RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6

+ RGB-10: 48

Mìn

+ có thể mang mìn trên boong trên: 40

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-27 (“Helix-A”): 1.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #91 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:14:08 am »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Sapfir-U”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Fregat-M” (Top Steer) trên tàu từ thứ 1 đến 3 hoặc

+ 1x”Fregat-M2” (Plate Steer) trên các tàu số 4-5 hoặc

+ 1x”MR-750 “Fregat-MA” (Top Plate) trên các tàu còn lại

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 3x”Volga” (Palm Frond)

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Vaigach” (Don-II) trên đề án 956-A

Đài thủy âm định vị

+ “Platina-S” (Bull Horn, Steer Hide)

+ MG-7

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Start-2” (4 Foot Ball; trên 1 số tàu 2 Bell Shroud và 2 Ball Squat)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2

+ 8x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”

Đài định vị quang học

+ 1xDVU-2 (Squeeze Box)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Mineral” (Band Stand) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit”

+ 6x”MR-700 (Front Dome) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Uragan”

+ 1xMR-184 “Lev-218M” (Kite Screech) cho pháo 130mm

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo 30mm

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+ 2x(Light Buib) cho trực thăng

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ (Salt Pot A và B; High Pole A và B; Long Head).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #92 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 12:01:52 am »

Tàu tuần tra biên phòng lớp “Yasreb” – Đề án 29K


Tổng số tàu đã đóng: 6+8

Biến thể: không có.

Đề án tàu tuần tra “Yastreb” được thiết kế vào thời điểm trước chiến tranh 1938-1939. Tới tháng 6 năm 1941, đã có 14 tàu được khởi công, tuy nhiên tới khi kết thúc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, trong biên chế chỉ còn lại 1 tàu. 5 tàu sau đó được đóng tiếp trong thời gian sau chiến tranh theo đề án 29-K được hiệu chỉnh. Trên tàu đã được tăng cường vũ khí phòng không, lắp đài ra đa định vị và đài thủy âm. Sau đó, theo chuẩn đề án 29-K đã nâng cấp tàu đầu tiên “Yastreb”. Mặc dù vậy, tới thời điểm gia nhập biên chế, tàu tuần tra lớp này đã trở nên lạc hậu một cách rõ ràng.

Chương trình đóng tàu

Các tàu được đóng từ năm 1939 ở xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad (khởi công 8 tàu), ở xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev (4) và xưởng số 199 ở Komsomol-na-Amur (2). Tàu tuần tra đầu tiên gia nhập biên chế 23 tháng 2 năm 1945, thêm 5 tàu nữa sau đó gia nhập biên chế. Tàu tuần tra “Bditelnưi” sau chiến tranh không được đóng xong và loại khỏi danh sách. Thêm 3 tàu khác được dừng đóng trong năm 1941. 4 tàu không được đóng xong trong tháng 8 năm 1941 đã bị quân Đức chiếm ở Nikolaev, sau đó tháo kim loại.

Ngoài các tàu được liệt kê dưới đây, ghi nhận việc đóng theo đề án 29 các tàu tuần tra “Kondor” (số hiệu xưởng 563); “Kyguar” (369); “Pathera” (370), “Fregat” (6), “Orlan” (9), các đơn đặc mua với việc bắt đầu chiến tranh thế giới thứ hai đã bị bãi bỏ.

Tình hình đến năm 2005

Tàu tuần tra “Korshun” trong những năm 1951-52 và “Zorki” trong những năm 1950-52 gia nhập biên chế lực lượng Biên phòng thuộc Bộ An ninh Liên Xô và phục vụ trong vai trò tàu tuần tra, sau đó được chuyển sang biên chế Hải quân. Ba tàu khi kết thúc thời gian phục vụ được cải tạo thành tàu huấn luyện, 1 – doanh trại nổi, 2 – tàu thí nghiệm và thêm 1 tàu – tàu mục tiêu (tàu đầu tiên “Yastreb”). Tàu cuối cùng bị loại khỏi biên chế Hải quân là tàu tuần tra “Zorki” sau khi được sửa thành tàu huấn luyện đến năm 1975.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #93 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 12:02:43 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Yastreb” (số hiệu xưởng 530); từ 31 tháng 8 năm 1956 là TsL-4; 16 tháng 5 nawm1 939 khởi công trên ụ xưởng số 100 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 2 tháng 6 năm 1942; gia nhập biên chế 23 tháng 2 năm 1945 và 29 tháng 9 năm 1945 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; từ 25 tháng 2 đến 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 17 tháng 2 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu và cải tạo thành tàu tuần tra huấn luyện; 31 tháng 8 năm 1956 tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 12 tháng 9 năm 1959 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và mang đi tháo dỡ; 25 tháng 9 năm 1959 giải thể.

+ “Orel” (số hiệu xưởng 534); từ 18 tháng 4 năm 1958 là OS-27; từ 4 tháng 3 năm 1964 là PZK-17; 28 tháng 5 năm 1939 (theo các thông tin khác 16 tháng 5 năm 1939) khởi công trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 12 tháng 2 năm 1941; nhưng 22 tháng 12 năm 1941 dừng đóng và niêm cất, còn 12 tháng 11 năm 1946 chuyển sang xưởng số 820 ở Kenigsberg (Kaliningrad) để đóng tiếp; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1950; và 20 tháng 2 năm 1951 kéo cờ Hải quân, gia nhập biên chế lực lượng Hải quân bảo vệ pháo đài Kronshtadt; từ 23 tháng 12 năm 1953 trực thuộc Quân chủng Hải quân và sử dụng trong vai trò mục tiêu thí nghiệm; 18 tháng 4 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí, cải tạo thành tàu thí nghiệm và 31 tháng 1 năm 1964 – thành doanh trại nổi; 18 tháng 9 năm 1965 loại khỏi danh sách Hải quân và mang đi tháo dỡ sau đó ở Leningrad.

+ “Korshun” (số hiệu xưởng 535); từ 18 tháng 4 năm 1958 là OS-28; 25 tháng 10 năm 1939 khởi công trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 5 năm 1941, nhưng 22 tháng 12 năm 1941 dừng đóng và niêm cất, 12 tháng 11nawm 1946 chuyển tới xưởng số 820 ở Kalingrad để đóng tiếp; gia nhập biên chế 21 tháng 1 năm 1951 trong vai trò tàu tuần tra và gia nhập lực lượng biên phòng thuộc Bộ An ninh Nhà nước Liên Xô trong đội biên phòng Litov; 15 tháng 5 năm 1952 tiếp nhận từ KGB và 25 tháng 5 năm 1952 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8; từ 1 tháng 12 năm 1954 trở về trực thuộc Hải quân và sử dụng như tàu thí nghiệm; 18 tháng 4 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu thí nghiệm; 31 tháng 1 năm 1964 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và đưa đi tháo dỡ; 4 tháng 3 năm 1964 giải thể.

+ “Zorki” (số hiệu xưởng 536); từ 9 tháng 1 năm 1941 đến 10 tháng 10 năm 1945 là “Almaz”; từ 3 tháng 11 năm 1956 là UTS-9; 2 tháng 1 năm 1940 ghi tên vào danh sách tàu biên phòng thuộc Dân ủy Nội vụ (NKVD) đội biên phòng Leningrad và 23 tháng 5 năm 1940 khởi công theo chương trình đóng tàu thuộc NKVD trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad; hạ thủy 31 tháng 10 năm 1940; 8 tháng 8 năm 1942 dừng đóng và niêm cất; 10 tháng 10 năm 1945 ghi tên lần thứ hai vào danh sách tàu thuộc NKVD; 14 tháng 5 năm 1946 chuyển tới xưởng số 820 và kéo tới Kaliningrad để đóng tiếp; gia nhập biên chế 30 tháng 1 năm 1950 và 21 tháng 2 năm 1950 trong vai trò tàu tuần tra gia nhập lực lượng biên phòng thuộc Bộ An ninh trong đội tàu biên phòng Litov; tham gia bảo vệ biên giới và vùng công nghiệp Liên Xô ở phía đông nam biển Baltic; 1 tháng 6 năm 1952 bàn giao cho Hải quân và 7 tháng 6 năm 1952 trong vai trò tàu tuần tiễu ghi tên vào biên chế đơn vị Hải quân số 8; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 17 tháng 2 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu và 7 tháng 5 năm 1956 trở thành phân lớp tàu tuần tra thí nghiệm; 18 tháng 10 năm 1956 tháo vũ khí, trang bị và cải tạo lại thành tàu huấn luyện và đỗ ở Baltic; 4 tháng 11 năm 1975 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và tháo dỡ; 15 tháng 3 năm 1976 giải thể và tháo kim loại ở Baltic.

+ “Bditelnưi” (số hiệu xưởng 537); từ 9 tháng 1 năm 1941 đến 10 tháng 10 năm 1945 là “Izumrud”; 2 tháng 1 năm 1940 ghi tên vào danh sách tàu Dân ủy Nội vụ trong đội tàu biên phòng Leningrad và 23 tháng 5 năm 1940 khởi công theo chương trình đóng tàu của NKVD trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad, nhưng bắt đầu Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại dừng đóng và neo đậu; 10 tháng 10 năm 1945 lần thứ hai ghi tên vào lực lượng NKVD, tuye nhiên không được đóng tiếp và nhanh chóng bị tháo kim loại.

+ “Berkut” (số hiệu xưởng 553); khởi công năm 1940 ở xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940; ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 7 năm 1941 dừng đóng và niêm cất, sau đó tháo kim loại.

+ “Sokol” (số hiệu xưởng 554); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 7 năm 1941 dừng đóng, niêm cất và sau đó tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #94 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 12:03:08 am »

+ “Grif” (số hiệu xưởng 555); khởi công năm 1940 ở ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 7 năm 1941 dừng đóng, niêm cất và sau đó tháo kim loại.

+ “Tigr” (số hiệu xưởng 365); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev và 6 tháng 6 năm 1941 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 8 năm 1941 ở lại ụ khi bộ phận Hồng Quân rút khỏi thành phố; bị địch chiếm và sau khi tháo kim loại được đưa tới Đức để đúc lại.

+ “Leopard” (số hiệu xưởng 366); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev và 6 tháng 6 năm 1941 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 8 năm 1941 ở lại ụ khi bộ phận Hồng Quân rút khỏi thành phố; bị địch chiếm và sau khi tháo kim loại được đưa tới Đức để đúc lại.

+ “Rưs” (số hiệu xưởng 367); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev và 6 tháng 6 năm 1941 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 8 năm 1941 ở lại ụ khi bộ phận Hồng Quân rút khỏi thành phố; bị địch chiếm và sau khi tháo kim loại được đưa tới Đức để đúc lại.

+ “Yaguar” (số hiệu xưởng 368); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev và 6 tháng 6 năm 1941 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 8 năm 1941 ở lại ụ khi bộ phận Hồng Quân rút khỏi thành phố; bị địch chiếm và sau khi tháo kim loại được đưa tới Đức để đúc lại.

+ “Albatros” (số hiệu xưởng -); từ 24 tháng 3 năm 1958 là UTS-82; 4 tháng 12 năm 1939 khởi công ở nhà xưởng thuộc xưởng số 199 ở Komsomol-na-Amur và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 2 tháng 6 năm 1944; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1953 (theo các tài liệu khác là 7 tháng 10 năm 1945) và 11 tháng 2 năm 1946 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 12 tháng 2 năm 1947 đến 23 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5; 17 tháng 12 năm 1946 loại khỏi biên chế chiến đấu và cải tạo thành tàu tuần tra huấn luyện; 11 tháng 3 năm 1958 tháo vũ khí và trở thành doanh trại nổi; 28 tháng 2 năm 1961 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo kim loại; 31 tháng 8 năm 1961 giải thể.

+ “Burevestnik” (số hiệu xưởng -); từ 7 tháng 5 năm 1957 là UTS-48; 4 tháng 12 năm 1939 khởi công ở nhà xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1946; gia nhập biên chế 15 tháng 7 năm 1947 (theo các tài liệu khác là 8 tháng 8 năm 1947) và 7 tháng 11 năm 1947 kéo cờ Hải quân; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5; từ 23 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 17 tháng 2 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu và cải tạo thành tàu tuần tra huấn luyện; 8 tháng 4 năm 1957 tháo vũ khí và trở thành tàu huấn luyện; 28 tháng 1 năm 1958 loại khỏi danh sách Hải quân và đưa đi tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #95 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 12:03:44 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 916,7

+ hoàn toàn: 1266,2

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 85,74 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 8,4 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 2,89 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 2 nồi hơi nước, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính, công suất, sức ngựa (kW): 26 000 (19 110)

2 trục; 2 chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 31,3

+ tiết kiệm năng lượng: 15,5

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2160 (15,5)

Thời gian hoạt động: -

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 174 (-).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #96 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 12:04:37 am »

Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 100mm B-34: 3x1

+ thiết bị pháo 37mm 70-K: 4x1

+ súng máy DShK 12,7mm: 3x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 1x3

Chống ngầm

+ bom chìm: -

+ máy rải bom: 2

Mìn

+ mìn neo trên boong: 24

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp: 1x”Rif-1”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao: 1x”Gyuis-1”

Đài thủy âm định vị: “Tamir”

Các khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1x”Redan” cho pháo chính (không phải toàn bộ)

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xSVP-29 hoặc SVP-29-RL

+ 1xRAS

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: -
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #97 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 12:15:12 am »

Đề án 42 – lớp Kola


Tổng số tàu đã đóng: 8

Biến thể: không có.

Kinh nghiệm Chiến tranh Thế giới thứ hai cũng như Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, được phân tích bởi lãnh đạo Hải quân và đưa vào hiệu chỉnh trong việc thiết kế các tàu tuần tra đang có. Tuy nhiên nhiều đề án đã không được thực hiện. Nguyên nhân chính, trước hết là không có những xí nghiệp chuyên dụng đề đóng các tàu lớp này cho Hải quân Liên Xô. Trong các nước hàng đầu trên thế giới, phụ thuộc vào sự vận tải đường biển, tàu tuần tra được biến thể trong dạng tàu chống ngầm: các tàu khu trục, tàu chiến và tàu tuần tra ven biển (hải phòng). Rõ ràng, chúng đã đóng góp quan trong trong việc đánh bại lực lượng tàu ngầm các nước phe Trục và đảm bảo việc vận tải đường biển cho các nước Đồng minh. Vì thế, sự quan trọng và cần thiết của các tàu tương tự ở Mỹ, Anh và Pháp không mang lại những nghi ngờ. Tuy nhiên, kinh nghiệm này không thể phổ biến trong Hải quân Liên Xô. Khi đánh giá sự tham gia của các tàu nổi thuộc Hải quân trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, lãnh đạo Hải quân không có quan điểm rõ ràng về tàu tuần tra thuộc đề án 39 trước chiến tranh. Ở biển Đen, chúng được sử dụng cùng các tàu khu trục lớp “Novik” trong toàn bộ các chiến dịch, nhưng rất hiếm theo nhiệm vụ cơ bản, còn trên biển Baltic, việc sử dụng chúng nói chung bị hạn chế do sự nguy hiểm của các bãi mìn lớn. Ở biển Bắc, để bảo vệ các đoàn tàu vận tải nước ngoài cần thiết các tàu lớp khu trục hoặc cao hơn, bởi vì ngoài những mối đe dọa trên không và dưới nước thường xuyên phải đối mặt với sự đe dọa từ lực lượng tàu nổi của địch. Ngoài ra, mặt trận biển Bắc được xem là yêu cầu lớn nhất về khả năng cơ động trên biển mà tàu tuần tra khi đó, cụ thể là đề án 39, gần như không đáp ứng được. Ở vùng nước gần bờ, nơi các đoàn tàu hộ tống nội địa bị đe dọa bởi những bãi mìn lớn và cá tàu này đồng thời cũng như các tàu vận tải được đảm bảo bằng các tàu quét mìn. Kinh nghiệm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại đã chỉ ra rằng, để thực hiện nhiệm vụ tuần tra và vận tải của các đoàn tàu hộ tổng đã sử dụng hiệu quả các tàu quét mìn và săn ngầm. Mặc dù vậy, toàn bộ các dữ kiện này, rõ ràng rằng lực lượng truyền thống (có lớp tàu này trong Hải quân thì cần thiết đặt ra nhiệm vụ cho nó và tiếp tục việc đóng chúng) hoặc các nguyên nhân khác trong tháng 7 năm 1947, đã quyết định tiếp nhận quyết định về thiết kế tàu tuần tra đề án 42. Ngày 29 tháng 7 năm 1946, Tư lệnh Hải quân đã phê duyệt nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch để thiết kế tàu tuần tra. Trong tài liệu này đã xác định nhiệm vụ của tàu: bảo vệ đoàn tàu hộ tống; thực hiện nhiệm vụ tuần tra; tham gia trong các chiến dịch đổ bộ; rải bãi mìn chướng ngại vật.

Đặc điểm quan trong của việc thiết kế tàu tuần tra này là lần đầu tiên sau năm 1917, cơ sở nhiệm vụ kỹ chiến thuật đã thực hiện trên cơ sở cuộc thi đua của 2 phòng thiết kế  - Phòng thiết kế trung ương số 32 và Phòng thiết kế trung ương số 53. Việc thiết kế được thực hiện trong 2 phương án – với thiết bị động cơ diesel và tuabin nồi hơi. Sự thay đổi quan điểm về tàu tuần tra đã dẫn tới rằng trong nhiệm vụ kỹ chiến thuật, lượng choán nước cuối cùng được lắp đặt trong khối lượng 1300 tấn với tầm bơi xa 2000 dặm. Trong đó, giữ lại pháo cỡ 100mm truyền thống trên tàu tuần tra Liên Xô. Nhiệm vụ thiết kế đề án do Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ban hành ngày 21 tháng 6 năm 1947. Trong nhiệm vụ kỹ chiến thuật được triển khai, được phê duyệt bởi Tư lệnh Hải quân, đã chỉ dự kiến phương án tuabin hơi nước trong thiết bị năng lượng chính. Việc thiết kế tàu tuần tra được giao cho Phòng thiết kế trung ương số 32 (thành phố Kaliningrad).

Đề án kỹ thuật được thực hiện ở Phòng thiết kế trung ương số 32 tháng 12 năm 1947. Sự không vững vàng trong quan điểm về nhiệm vụ đã xuất hiện trong đó rằng, trong quá trình thực hiện đề án kỹ thuật theo yêu cầu Hải quân đã nghiên cứu phương án bố trí trên tàu lưới quét mìn. Việc nghiên cứu trong Hải quân đề án kỹ thuật đã kéo dài tới tháng 4 năm 1948. Tư lệnh Hải quân đã tiếp nhận quyết định phê duyệt đề án kỹ thuật không có lưới quét mìn, với sự tăng đồng thời trữ lượng bom chìm cỡ lớn lên 48 đơn vị và với sự tăng số lượng máy phóng bom lên 4. Bằng cách này, ý tưởng phối hợp chức năng tàu tuần tra và tàu quét mìn đã xuất hiện theo kinh nghiệm sử dụng tàu trong Chiến tranh Vệ quốc vũ đại đã đồng thời bị loại trừ.

Sau sự hiệu chỉnh kéo dài tương đối lâu và xử lý đề án kỹ thuật trong nửa sau năm 1948, việc chế tạo đề án hoạt động đã được bắt đầu ở xưởng “Yantar” thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu tại thành phố Kalininrad. Tổng công trình sư đề án 42 là D.D.Zhukovski, giám sát viên chính từ Hải quân – thuyền trưởng cấp 1 A.P.Sagoyan. Đề án thiết kế tàu tuần tra có mộ số những giải pháp mới mang tính nguyên tắc, lần đầu tiên được áp dụng trong ngành đóng tàu Liên xô sau năm 1917. Lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã thiết kế đề án tàu tuần tra với cấu trúc boong trơn (kiến trúc tương tự được áp dụng sớm hơn không nhiều trên tàu khu trục đề án 41, tuy nhiên tàu tuần tran đề án 42 gia nhập biên chế sớm hơn) với thân tàu được hàn hoàn toàn. Đồng thời lần đầu tiên các chân vịt và 2 bánh lái tàu lớp này được chế tạo không phải theo dạng bề mặt phẳng làm chủ yếu mà bằng cách đảm bảo việc bơi an toàn của tàu trên các bãi bồi và cửa sông. Sự xuất hiện 2 bánh lái cho phép đảm bảo độ quay cao.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #98 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 12:15:43 am »

Lần đầu tiên trên các tàu lớp này đã lắp pháo chính đa năng (pháo B-34USM 100mm) trong điều kiện sự đe dọa trên không tăng thường xuyên là rất cần thiết. Cuối cùng, trên các tàu đề án 42 lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu, trong việc sản xuất hàng loạt, đã áp dụng dòng điện xoay chiều 3 pha (50Hz, 220V), cho phép trong sự dẫn động điện sử dụng động cơ điện đồng bộ, rất tin cậy trong khai thác sử dụng, đồng thời dễ, rẻ và đơn giản hơn trong chế tạo so với động cơ điện một chiều.

Lượng choán nước tiêu chuẩn của tàu được xác định trong các thí nghiệm là 1339 tấn. Lượng mớn nước của tàu thậm chí trong lượng choán nước hoàn toàn là 3,36 mét cho phép nó không cần thực hiện chuẩn bị bộ phận dưới nước khi di chuyển theo đường thủy nội địa (nơi phục vụ sau cùng của các tàu tuần tra đề án 42 là biển Caspi). Các thiết kế thân tàu được thế tạo theo tiêu chuẩn độ vững chắc của năm 1944. Sự thiếu boong mũi đã mang tới khả năng sử dụng hợp lý hơn vật liệu thân tàu để đảm bảo độ vững chắc chung của nó. Chi tiết này có ý nghĩa quan trọng sau đó, cũng như trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại đã xuất hiện rằng toàn bộ các tàu nổi của Liên Xô đóng sau năm 1917 có thân yếu. Tốc độ nhận được trong các thí nghiệm là cao hơn tốc độ theo thiết kế ở tốc độ tối đa là 29,56 hải lý. Các thí nghiệm cơ động trên biển được diễn ra trong sóng biển cấp 6 và gió cấp 8…9 vào 28 tháng 3 năm 1951 ở vịnh Gdansk. Chúng đã chỉ ra rằng ở tốc độ gần 24 hải lý, khi mất tốc độ di chuyển 0,5 hải lý, độ rung bên thành giảm thấp hơn so với tàu khu trục đề án 30-bis. Sự làm tràn hoàn toàn không có, còn sự văng không lớn chỉ được quan sát trong sự ngẫu nhiên. Các phần tử (yếu tố) cơ động của tàu là rất tốt. Như đường kính vòng hồi chuyển (vòng quay) tổng cộng 4,7 chiều dài tàu. Việc này đạt được nhời sự xuất hiện 2 tay lái. Trong giai đoạn thí nghiệm xưởng và cấp nhà nước, do sự dụng trên phần cuối mạn tàu đã phát hiện các vết nứt trong khung và cách ngăn ở khung sườn số 168-179. Sự khắc phục các lỗi được thực hiện theo hương lắp cố định bổ sung ở khu vực khung 145-170, tương ứng với các bản vẽ được phối hợp với Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên A.A.Krưlo và 1 Viện nghiên cứu khoa học trung ương thuộc Bộ quốc phòng.

Việc bố trí thiết bị cơ khí được thực hiện theo dạng tuyến với sự bố trí trong 4 khoang. Trong vai trò các động cơ chính sử dụng 2 tổ hợp tuabin răng cưa tổng công suất 28 000 sức ngựa trong cấu tạo 2 thân. Hai nồi hơi chính dạng tam giác KV-42 đảm bảo tổng lượng sản xuất hơi nước 146 tấn hơi nước trong áp suất làm việc 28kg/cm2 và nhiệt độ hơi nước quá nhiệt 370 độ. Sự thổi hơi – quạt vào buồng nồi hơi đóng. Tầm bơi xa ở tốc độ 13,7 hải lý khi nhiên liệu dự trữ đủ là 300 tấn là 2810 tấn, còn trong trữ lượng tiêu thụ lớn nhất trong 360 tấn là 3300 dặm.

Trên tàu lắp 4 thiết bị pháo B-34USM 100mm đa năng và 4 pháo tự động 37mm trong 2 thiết bị (nòng pháo) kép V-11M. Khi bắn, các cơ chế các thiết bị pháo hoạt động đạt yêu cầu, tuy nhiên, có chỗ (điểm) chất kìm cháy không hoàn toàn, phần thừa rơi vào bộ phận hộp nòng pháo, do đó khi nạp đạn tiếp sau đó sẽ không tới được vị trí cho phép bắn. Để điều khiển hỏa lực hệ thống pháo chính và pháo (súng) tự động đã lắp hệ thống khí tàu điều khiển bắn “Zenit-42”. Trên tàu lắp tạm thời (do hệ thống SVP-42 chưa được phổ biến) trạm dẫn bắn pháo SVP-29-PLM, có nhiều nhược điểm (do tàu tuần tra này chỉ có trạm dẫn bắn với máy đo xa quang học, còn đài ra đa định vị chưa được lắp). Thiết bị ngư lôi 3 ống phóng được lắp trên tàu đảm bảo bắn các ngư lôi khí – hơi bắn thẳng kiểu 53-58U và 53-39 vào các mục tiêu nổi. Nếu trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các tàu khu trục Liên Xô thậm chí tổng cộng một vài lần vũ khí ngư lôi để chống các mục tiêu nổi thì giả thiết rằng, các tàu tuần tra sẽ có thể sử dụng chúng trong chiến tranh tương lai theo mọi cự ly là sai lầm. Trên tàu, lần đầu tiên trong giai đoạn thiết kế đã bố trí 2 máy phóng bom phản lực RBM. Chúng có góc nâng (tầm) coosd dịnh 45 độ và tầm bắn tổng cổng 260 mét. Liên quan đến việc này, ủy ban nhà nước đã tỏ ra lo ngại rằng do bán kính vòng (2 cabeltov) và tầm bắn gần của RBM (1,4 cabeltov) có khẳ năng tàu lọt vào khu vực nổ của loạt bom, nếu nó di chuyển tốc độ lớn. Ủy ban đã tính toán hoàn thiện hợp lý thiết bị phản lực, làm cho nó được bắn, ổn định theo hóc phóng và với sự thực hiện bắn theo các thông tin của đài thủy âm (GAS) – 11 cabeltov (20km). Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không “Gyuis-1M4” có tầm phát hiện mục tiêu trên không kiểu máy bay ném bom hạng nhẹ ở tầm cao 3000 mét – 25 cab (46km). Đài thủy âm “Tamir-5M” có những thông số đặc thù của nó, tầm phát hiện mục tiêu tàu ngầm ở tốc độ 16 hải lý là 16 cab, còn ở tốc độ 18 hải lý – 11,7 cab. Sự phê bình (khiển trách) nghiêm trọng duy nhất là tổ hợp nhận dạng (phân loại) “Fakel-M” – không được ủy ban tiếp nhận. Nguyên nhân là, các khí tài trả lời (đáp) của tổ hợp này hoạt động từ hoạt động của các đài trực thuộc nó và phát ra mã tín hiệu trong không khí mà không có sự hỏi từ bên ngoài! Toàn bộ vũ khí và trang bị có thể được sử dụng không hạn chế khi sóng biển cấp 4 và với sự hạn chế không lớn ở sóng biển cấp 6.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #99 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 12:17:06 am »

Trong kết luận cuối cùng, ủy ban Nghiệm thu nhà nước cho tàu đầu tiên thuộc đề án 42 đã nhấn mạnh: tàu hoàn toàn đáp ứng nhiệm vũ chiến dịch – chiến thuật; không có sự tiêu phí trữ lượng choán nước khi xuất hiện trữ lượng ổn định có thể đảm bảo khi cần thiết lắp trên tàu thiết bị V-11M bổ sung thứ 3; tàu tuần tra đề án 42 hoàn toàn đáp ứng khả năng cơ động trên biển, di chuyển và điều khiển tốt trên sóng; dòng thời có tầm bơi xa lớn, có thể sử dụng thành công trên các mặt trận biển Bắc và Viễn Đông. Tuy nhiên, 3 tàu cuối cùng trong số chúng đã kết thúc sự phục vụ ở biển Caspi vào những năm 1990.


Mặc dù toàn bộ các kết quả tích cực nhận được trong các thí nghiệm, tàu tuần tra đề án 42 đã được đóng loạt hạn chế trên một xưởng. Nguyên nhân của việc không đóng số lượng lớn các tàu này có thể tìm được đủ nhiều, và trước hết là quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô I.V.Stalin. Quyết định này có nhiều lý do. Một số tài liệu không tìm được và chỉ còn lại là những đoạn hồi ức rời rạc của lãnh đạo trong những năm đó. Trước hết là sự phát triển quan điểm về lớp tàu này từ phía các lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao đang được tiếp tục. Một lần nữa, xuất hiện câu hỏi mà không có câu trả lời rõ ràng trong giai đoạn này: “các tàu này sẽ bảo vệ những đoàn vận tải nào?”. Toàn bộ sự phát triển công nghiệp Liên Xô trong những năm sau chiến tranh một lần nữa được định hướng “tuyến phòng ngự vòng tròn của đế quốc và sự tự chủ hoàn toàn của nhà nước”. Còn đối với việc tuần tra và bảo vệ các đoàn tàu không lớn hoạt động gần bờ têu cầu các tàu kích thước nhỏ hơn. Cuối cùng, trong sự liên qua đến kỹ thuật, các tàu này hầu như không hoàn thiện do thiết bị năng lượng chính cũ với sự thổi vào nồi hơi và vũ khí chống ngầm tương đối yếu. Trong trường hợp này, theo mệnh lệnh cá nhân I.V.Stalin đã bắt đầu thiết kế nhiệm vụ kỹ chiến thuật cho tàu tuần tra mới với lượng choán nước hoàn toàn 1200 tấn – đề án 50.

Chương trình đóng tàu

Tàu tuần tra đầu tiên được khởi công ở xưởng “Yantar” thuộc Bộ Công nghiệp đóng tàu (số 820) 17 tháng 8 năm 1949, hạ thủy 11 tháng 9 năm 1950, gia nhập biên chế 29 tháng 6 năm 1951. Năm 1953 cũng trong xưởng này đã đóng giới hạn toàn bộ loạt 8 tàu.

Tình hình đến năm 2005

Tàu tuần tra “Grif” và “Krechet” ban đầu – năm 1952-53 gia nhập biên chế lực lượng biên phòng Bộ An ninh Liên xô và phục vụ trên biển Barents trong vai trò tàu tuần tra chống ngấm. Hai tàu đến khi loại khỏi biên chế trong những năm 1970 được sử dụng ở biển Caspi trong vai trò huấn luyện. Ba tàu tuần tra chuyển thành tàu huấn luyện, 1 – doanh trại nổi. Tàu đầu tiên trong đề án – “Sokol” còn nằm trong biên chế đến năm 1986, các tàu còn lại bị loại trong những năm 1960-70.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM