Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:14:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201758 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #100 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 12:18:17 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Sokol”; số hiệu xưởng 100; từ 17 tháng 9 năm 1971 là UTS-256; 26 tháng 3 năm 1949 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 17 tháng 8 năm 1949 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kalinigrad; hạ thủy 11 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế 4 tháng 12 năm 1952; và 27 tháng 12 năm 1952 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 tháng 6 năm 1955 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và cùng trong mùa hè này đã đi theo đường thủy nội bộ từ Baltic tới biển Trắng; 17 tháng 2 năm 1961 loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất ở vịnh Dolgo-Zapad (cảng Granit) trong dạng neo đậu; 30 tháng 5 năm 1967 tháo niêm cất và quay trở lại biên chế; 18 tháng 8 năm 1971 lần thứ 2 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí, cải tạo thành tàu huấn luyện và neo ở vịnh Ura (càng Vidiaevo); 20 tháng 6 năm 1986 loại khỏi danh sách Hải quân và mang đi tháo dỡ, 1 tháng 10 năm 1988 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ “Berkut”; số hiệu xưởng 101; từ 27 tháng 8 năm 1965 là UTS-7; 8 tháng 12 năm 1948 ghi tên vào danh sách Hải quân và 25 tháng 4 năm 1950 khởi công ở ụ trong xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 2 tháng 4 năm 1951; gia nhập biên chế 10 tháng 5 năm 1952 và 11 tháng 6 năm 1952 gia nhập đơn vị Hải quân số 4; mùa hè năm 1955 di chuyển theo tuyến đường thủy trong nước từ biển Baltic tới Barents và 19 tháng 9 năm 1955 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc; 2 tháng 8 năm 1965 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu huấn luyện, đưa đi neo đậu ở Severodvinsk; 26 tháng 10 năm 1965 loại khỏi danh sách Hải quân và đưa đi tháo dỡ; năm 1966-1967 tháo kim loại ở Murmansk.

+ “Kondor”; số hiệu xưởng 102; 8 tháng 12 năm 1948 ghi tên vào danh sách Hải quân và 28 tháng 6 năm 1950 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 5 năm 1951; gia nhập biên chế 10 tháng 5 năm 1952; 11 tháng 6 năm 1952 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; mùa hè năm 1955 di chuyển theo đường thủy trong nước từ Baltic tới Barents; 19 tháng 9 năm 1955 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 26 tháng 1 năm 1970 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo vũ khí và tháo dỡ; 30 tháng 1 năm 1969 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ “Grif”; số hiệu xưởng 103; từ 29 tháng 9 năm 1965 là “Soviet Azerbaizan”; từ 21 tháng 12 năm 1977 là PKZ-26; 8 tháng 12 năm 1948 ghi tên vào danh sách Hải quân; 18 tháng 9 năm 1950 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 3 tháng 9 năm 1951;13 tháng 10 năm 1952 chuyển vào biên chế lực lượng biên phòng thuộc Bộ An ninh để sử dụng trong vai trò tàu tuần tra chống ngầm, gia nhập biên chế 25 tháng 10 năm 1952 và gia nhập biên chế lực lượng biên phòng Litov, tháng 6 năm 1953 di chuyển tới Leningrad tới Kubishinskaia Salma (vịnh Kolsk) và chuyển vào biên chế vào lực lượng tàu tuần tra biên phòng thuộc Bộ An ninh ở Karelia; tham gia bảo vệ biên giới và nghề cá gần bờ bán đảo Kolsk trên biển Barents; 23 tháng 12 năm 1953 loại khỏi danh sách tàu biên phòng thuộc Bộ An ninh và 24 tháng 12 năm 1953 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 10 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Dolgo-Zapad ở dạng neo đậu; 31 tháng 8 năm 1964 tháo niêm cất và trở lại biên chế; mùa hè-thu năm 1965 di chuyển theo đường thủy nội bộ từ biển Trắng tới biển Caspi và 27 tháng 11 năm 1965 chuyển sang biên chế Hạm đội Kaspi; từ 25 tháng 2 năm 1970 ở trong Trường đại học Hải quân Kaspi mang tên S.M.Kirov và sử dụng như tàu huấn luyện; 2 tháng 12 năm 1977 lần thứ 2 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành doanh trại nổi; 21 tháng 5 năm 1981 loại khỏi danh sách Hải quân và đưa đi tháo dỡ; 1 tháng 7 năm 1977 bị giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #101 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 12:41:36 am »

+ “Orlan”; số hiệu xưởng 105; từ 15 tháng 12 năm 1966 là “Soviet Turmenistan”; 8 tháng 12 năm 1948 ghi tên vào danh sách Hải quân; 30 tháng 4 năm 1951 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 9 tháng 5 năm 1952; gia nhập biên chế 17 tháng 3 năm 1953 và 23 tháng 3 năm 1953 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 tháng 6 năm 1955 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa hè năm 1955 chuyển theo đường biển từ Baltic tới biển Trắng; 31 tháng 12 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 31 tháng 10 năm 1965 tháo niêm cất và trở lại biên chế; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Severodvinsk tới Bacu và 31 tháng 8 năm 1966 chuyển vào biên chế Hạm đội Caspi; từ 25 tháng 2 năm 1970 nằm trong trường đại học Hải quân mang tên S.M.Kirov và sử dụng trong vài trò tàu huấn luyện; 22 tháng 11 năm 1976 loại khỏi biên chế Hải quân và tháo vũ khí, tháo dỡ kim loại; 10 tháng 2 năm 1977 giải thể.

+ “Lev”; số hiệu xưởng 106; từ 17 tháng 9 năm 1971 là UTS-257; 13 tháng 1 năm 1950 ghi tên vào danh sách Hải quân và 30 tháng 4 năm 1951 khởi công ở ụ trong xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 24 tháng 5 năm 1952; gia nhập biên chế 17 tháng 3 năm 1953; 23 tháng 3 năm 1953 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 tháng 6 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc và theo hệ thống đường thủy từ Baltic tới biển Trắng mùa hè năm 1955; 27 tháng 1 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 1 tháng 4 năm 1964 tháo niêm cất và trở lại biên chế; từ 30 tháng 7 năm 1969 đến 15 tháng 7 năm 1971 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) trải qua đại tu, sau đó ghi tên vào Hạm đội Baltic; 18 tháng 8 năm 1971 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí, cải tạo thành tàu huấn luyện và đưa đi neo đậu ở Baltic.

+ “Tirg”; số hiệu xưởng 107; 13 tháng 1 năm 1950 ghi tên vào danh sách Hải quân và 1 tháng 7 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 29 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế 25 tháng 4 năm 1953; 29 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 tháng 6 năm 1955 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa hè năm 1955 di chuyển theo đường thủy từ Baltic tới biển Trắng; 1 tháng 3 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 15 tháng 10 năm 1970 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 18 tháng 9 năm 1974 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo vũ khí, tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1974 giải thể và tháo kim loại ở Murmansk.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #102 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 08:15:43 pm »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 1339

+ hoàn toàn: 1679

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 96,1 (90)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 11 (10,3)

+ lượng mớn nước tối đa (trung bình): 3,96 (3,14)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 2 nồi hơi nước KV-42, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính, tổng công suất, sức ngựa (kW): 27 820 (20 450)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x-

2 trục; 2 chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 29,6

+ tiết kiệm năng lượng: 13,7

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3300 (13,7)

Thời gian hoạt động, ngày: 10

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 211 (14).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #103 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 08:22:33 pm »

Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 100mm B-34USM: 4x1

+ thiết bị pháo 37mm V-11M: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm TTA-533-42: 1x3

Chống ngầm

+ RBM: 2x4

+ BMB: 4x1

+ bom chìm RBM/BPS: -

+ máy rải bom: 2

Mìn

+ mìn trên boong trên: -

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Zveno-42”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp: 1x”Rif-1”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao: 1x”Gyuis-1”

Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x-

Đài thủy âm: “Tamir-5N”

Các khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1x cho pháo chính (trong thành phần trạm dẫn bắn)

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xSVP-29-RLM hoặc

+ 1xSVP-42

+ 1xRAS-U

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: “Fakel-M”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #104 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 12:03:22 am »

Tàu tuần tra kiểu “Gornostai” – Đề án 50 – Lớp Riga


Tổng số tàu đã đóng: 68

Các biến thể

+ 50 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1954)

+ 50-PLO – các tàu nâng cấp tăng cường vũ khí chống ngầm (1959-60)

Mặc dù có các kết quả tích cực nhận được trong các thí nghiệm, dòng tàu tuần tra đầu tiên sau chiến tranh – đề án 42 đã được đóng số lượng hạn chế, còn theo chỉ thị cá nhân của I.V.Stalin, đã bắt đầu thiết kế nhiệm vụ kỹ chiến thuật của tàu tuần tra mới với lượng choán nước hoàn toàn 1200 tấn – đề án 50.

Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã ép Bộ công nghiệp đóng tàu và Bộ Hải quân thiết kế đề án 50 của tàu tuần tra mới và đóng tàu đầu tiên trong các thời gian sau:

+ kết thúc thiết kế đề án phác thảo (phác họa) vào tháng 9 và trình Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô vào tháng 10 năm 1950.

+ kết thúc thiết kế đề án kỹ thuật trong tháng 2 và trình Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô vào tháng 3 năm 1951.

+ bắt đầu đóng tàu đầu tiên vào quý II năm 1951 và đưa nó vào các thí nghiệm cấp nhầ nước trong quý III năm 1952.

Toàn bộ các công việc được giao cho Phòng thiết kế trung ương số 820. Trong tháng 7-8 năm 1950 đã thực hiện sự phối hợp các câu hỏi kỹ thuật khác nhau, cho phép đảm bảo nhận được lượng choán nước đã đề ra và chất lượng tàu cần thiết. Tuy nhiên, trong các kích thước được giao đã không thành công hoàn toàn khi thực hiện các yêu cầu theo độ ổn định trong gió. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi bố trí theo tuyến thẳng của thiết bị năng lượng chính có thể đảm bảo lượng choán nước ở mức độ đã đề ra. Trong quá trình nghiên cứu đã tính toán kết hợp sơ đồ  từ 2 thiết bị máy – nồi hơi. Đối với nó, các nồi hơi đã được chế tạo ở phòng thiết kế nồi hơi được biệt với sự thổi vào các buồng đốt kiểu KVG-57/28. Các nồi hơi với sự tuần hoàn tự nhiên, thẳng với bề mặt tản nhiệt rộng, ống dẫn khói một chiều, thiết bị tăng nhiệt hai mặt. Nhiệt độ hơi nước quá nhiệt được tiếp nhận ở mức độ vừa phải (370 độ), còn áp suất làm việc – 28kg lực/cm2. Sơ đồ (hệ thống) cấu trúc nồi hơi trên tàu mới được đặt trong cơ sở chế tạo nồi hơi kích thước nhỏ công suất cao cho mọi lớp tàu nổi đóng sau chiến tranh. Nhiệm vụ quan trong nhất sau đó nhằm tăng công suất buồng đốt với sự tăng sự tải nhiệt lên 3 lần đã được giải quyết. Sau nhiều lần tranh cãi, đã quyết định tiếp nhận sự bố trí theo tuyến dọc thiết bị năng lượng chính.

Các phương án vũ khí khác biệt lớn so với đề án 42 đã được nghiên cứu. Như dự định thay 2 thiết bị pháo B-34USM ở mũi bằng 1 thiết bị pháo nòng đôi dạng đóng (kín) cùng cỡ nòng 100mm như B-34USM. Việc thiết kế thiết bị này được thực hiện khi đó ở Phòng thiết kế số 172. Đồng thời làm các thí nghiệm thay thể MBY-200 thành MBU-600 và pháo tự động 37mm thành 25mm. Toàn bộ vũ khí của tàu chỉ khác với đề án 42 ở sự giảm số lượng thiết bị pháo B-34USM từ 4 xuống 3., số lượng ống phóng thiết bị ngư lôi từ 3 xuống 2 và giảm cơ số đạn pháo 15%.

Đề án phác họa được thực hiện ở phân nhánh Phòng thiết kế Trung ương số 820 đúng thời hạn. Trong quá trình nghiên cứu, Bộ trưởng Hải quân – Đô đốc A.G.Golovko dã phê duyệt đề xuất thay 4BMB-1 thành 4 BMB-2. Lượng choán nước tiêu chuẩn, nhận được trong đề án phác thảo là 1059 tấn.  Trong đề án kỹ thuật, khối lượng lượng choán nước tiêu chuẩn tăng lên 1068 tấn. Trong quá trình nghiên cứu đề án kỹ thuật, đã xuất hiện vấn đề rằng tàu không thể đảm bảo duy trì và sử dụng cơ số đạn pháo trong sự tương ứng chính xác với thiết kế ban đầu. Do khối lượng bổ sung mà tàu nhận được, thậm chí trong lượng choán nước tiêu chuẩn đang có, đã xuất hiện khả năng tiếp nhận gần gấp 2 lần nhiên liệu (trong lượng choán nước lớn nhất) và đạt được tầm bơi xa gần 2000 dặm. Sự chỉ trích chỉ nhắm vào sự xuất hiện thiết bị ngư lôi 2 ống thay cho 3 ống như truyền thống. Cuối cùng, khi phê duyệt đè án kỹ thuật đã tiếp nhận quyết định bắt buộc Phòng thiết kế 700 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu theo đơn đặt của Viện ngư lôi Hải quân thuộc Bộ Hải quân thiết kế trong năm 1951 đề án kỹ thuật thiết bị ngư lôi 3 ống phóng một cách phù hợp với tàu đề án 50.

Tổng công trình sư tàu tuần tra đề án 50 lúc đầu là D.D.Zhucovski, sau đó là V.I.Neganov và trong giai đoạn cuối cùng từ cuối năm 1953 là B.I.Kupenski, giám sát viên từ phía Hải quân là thuyền trưởng cấp 1 V.S.Avdeev.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #105 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 01:01:18 am »

Tàu đề án 50 đồng thời như tàu tuần tra đề án 42 có boong trơn với chiều cao mạn tàu dọc, 1 ống khói với 1 cột buồm và 2 thượng tầng. Sự hình thành các bộ phận cứng mũi tàu so với đề án tàu tuần tra 42 được mài sắc đáng kể, theo quan điểm các chuyên gia, sẽ giảm đáng kể sự biến dạng. Bộ phận cứng này được sử dụng bởi tổng công trình sư cuối cùng trong các đề án của mình sau đó. Theo toàn bộ các buồng và trạm chiến đấu, ngoại trừ kho bom số 6, buồng chuẩn úy và buồng lái được đảm bảo bằng đường giao thông kín, không thường xuyên đối với các tàu không lớn này. Giáp chống mảnh đạn dày 7-8mm được bọc quanh các buồng thiết bị năng lượng chính, khoang truyền động và lá chắn thiết bị pháo. Toàn bộ thân tàu – được hàn điện ngoài trừ sự liên kết của boong trên với các tấm tháo rời. Theo các kết quá thí nghiệm, độ cứng cục bộ và toàn diện được đánh giá đạt yêu cầu. Độ rung phần sau mạn tàu trong toàn bộ quá trình di chuyển được đánh giá thấp hơn so với tàu khu trục đề án 30 và đảm bảo tiêu chuẩn tạm thời.

Trong các thí nghiệm vận động, tàu trong lượng choán nước tiêu chuẩn 1134 tấn đạt tốc độ trung bình 29,5 hải lý khi chân vịt quay 386 vòng/phút. Tàu đồng thời như tàu tiền nhiệm, có 2 bánh lái, nhưng chân vịt do đường kính lớn (số vòng quay giảm), hiện tại kém do tuyến chính. Điểm này làm giảm điều kiện di chuyển của tàu theo hệ thống nước nội địa và làm cho tàu nguy hiểm khi bơi ở bãi bồi và cửa sông. Kết quả thực hiện các thí nghiệm cơ động trên biển trong tình trạng sóng biển cấp 4, 5 và 6 đã đưa đến kết luận rằng khi sóng biển cấp 4, tốc độ của tàu và sự sử dụng bất kỳ khí tài kỹ thuật và chiến đầu nào đều không bị hạn chế. Khi sóng biển lớn, tốc độ tàu giảm còn 23 hải lý (cấp 6). Trong tình trạng biển cấp 6, pháo chính chỉ có thể sử dụng ở tốc độ 16 hải lý, sử dụng vũ khí ngư lôi, chống ngầm và bom chìm – không thể.

Đánh giá chung về chất lượng cơ động và khả năng đi biển của tàu là đạt yêu cầu. Khả năng đi biển của tàu theo việc sử dụng vũ khí được đánh giá cao ở cấp 4, mặc dù khi sóng biển cấp 6 vẫn có thể sử dụng pháo chính.

Tổ hợp tuabin răng cưa của tàu TV-9 được giới thiệu là tuabin một (thuận) dòng phản lực – chủ động 1 thân công suất 10 000 sức ngựa. TV-9 có thể khởi động trong tình trạng nguội. Trong giai đoạn thực hiện các thí nghiệm cấp nhà nước của loạt tàu, đã phát hiện sự gãy cánh làm việc. Ủy ban đặc biệt dưới sự chỉ đạo của giáo sư M.I.Grinberg đã giải thích rằng sự gãy trên do giao động cộng hưởng trong chuyển động (tiến và lùi). Xưởng – nhà sản xuất và phòng thiết kế tuabin đã tiếp nhận điện thế tăng cường so với các tuabin cho tàu biển trước đó không đảm bảo về thiết kế, chất lượng công nghệ trong chế tạo. Tháng 4 và 9 năm 1954, đã tiếp nhận mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, trong việc khắc phục các lỗi tuabin TB-9. Liên quan với đó đã áp dụng sự hạn chế tạm thời tốc độ tối đa ở 25 hải lý. Sự hạn chế này được bỏ năm 1955. Tuy nhiên sau đó không tiến hành sửa chữa với các tuabin này.

Trên tàu lắp 3 pháo 100mm B-34USMA.Việc dẫn bắn pháo được thực hiện tự động với sự hỗ trợ điều khiển từ xa hoặc bằng tay. Đây là lần đầu tiên, pháo đa năng của Liên Xô có sự dẫn bắn tự động từ xa từ trạm đo xa (PUS “Sfera-50”). Những điểm đặc biệt của thiết bị pháo không có, nhưng cũng như trên đề án 42, rãnh dẫn hướng trong quá trình khai thác sử dụng bị cong (võng, oằn xuống), còn máy đẩy vỏ đạn không thường xuyên đảm bảo đẩy vỏ đạn. Để điều khiển bắn pháo 100mm đã lắp trạm quan sát ổn định (SVP) SVP-42-50 phối hợp với ăng ten đài ra đa định vị “Yakor”. Tầm bắn của pháo theo mục tiêu trên biển là 180 cabetov, còn vào mục tiêu trên không là 165 cabeltov. Thiết bị ngư lôi 2 ống phóng được lắp trên tàu được sử dụng để bắn thẳng ngư lôi khí kiểu 53-38, 53-39, 53-ZEU, 53-51. Điểm mới trong trang bị vô tuyến điện của tàu theo so sánh với đề án 42 là sự tiếp nhận đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi kiểu “Lin”, có thể phát hiện máy bay tầm thấp và đài thủy âm “Pegas-2”. Khi tốc độ của tàu gần 20 hải lý, đài thủy âm có khả năng phát hiện tàu ngầm ở độ sâu tiềm vọng trên tầm xa 14 cabeltov, còn mìn neo – 7 cabeltov (theo các điều kiện kỹ thuật đề ra là 3 cabeltov).

Mặc dù còn nhiều nhược điểm, xuất hiện trong thiết bị năng lượng chính TV-9 do nứt, gãy, việc đóng các tàu đề án 50 đã được thông qua nhanh chóng. Cuối năm 1958 đã đóng xong tổng cộng loạt 68 tàu. So sánh tàu tuần tra đề án 50 những dòng đầu tiên với các tàu cùng lớp ở nước ngoài đã chỉ ra rằng nếu theo chất lượng di chuyển, các tàu Liên Xô vượt trội nhưng thua kém đáng kể về tầm bơi xa. Việc này được giải thích rằng do các tàu Liên Xô không được sử dụng để hộ tống các đoàn tàu vận tải trên đại dương. Đánh giá toàn phần vũ khí chỉ ra răng tàu tuần tra đề án 50 nằm trong câp độ tàu tuần tra “Battler” đóng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai và thua kém tàu tuần tra lớp “Daily” đóng trong những năm 50 (đều của Mỹ). Theo vũ khí pháo, nếu chỉ xét về tầm bắn tối đa và thời gian bắn loạt theo phút, thì tàu đề án 50 thua kém không nhiều tàu nước ngoài, tuy nhiên, thiết bị tháp pháo của chúng cho phép sử dụng pháo trong các điều kiện rung lắc và sóng biển mạnh hơn. Cuối cùng, các pháo tự động 76mm trên tàu lớp “Daily” hiệu quả cao hơn đáng kể các thiết bị pháo B-34USMA khi bắn mục tiêu trên biển. Theo vũ khí chống ngầm, sự vượt trội của “Daily” là đáng kể. Như thiết bị ngư lôi của nó dược sử dụng để bắn các ngư lôi tự dẫn bắn, bom phản lực Mk108 có tầm bắn hiệu quả 4,5 cabeltov và tốc độ bắn 12 phát/phút, còn đài thủy âm lắm trên tàu có tầm phát hiện tàu ngầm hơn 30 cabeltov. Chỉ có các tàu được nâng cấp theo đề án 50-PLO, vũ khí chống ngầm và các khí tài đảm bảo mới ít nhiều đáp ứng được yêu cầu thời gian đó, nhưng ở các cường quốc Hải quân đã xuất hiện các tàu khác với khả năng chống ngầm còn lớn hơn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #106 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 01:19:24 am »

Các biến thể


Thực tế toàn bộ các tàu tuần tra đề án 50 thuộc Hải quân Liên Xô trong những năm 1959-60 được nâng cấp theo đề án 50-PLO. Trên các tàu này tăng cường vũ khí chống ngầm: máy phóng bom MBU-200 được thay bằng RBU-2500, thiết bị ngư lôi 2 ống phóng thay bằng thiết bị ngư lôi TTA-53-50 3 ông phóng để bắn các ngư lôi chống ngầm tự dẫn bắn; đài thủy âm “Pegas-2” – thành “Pegas-3”. Các tàu loạt trước có đài ra đa định vị “Gyuis-1M4” – sau đó thay bằng đài ra đa định vị “Fut-N”. Đài ra đa định vị điều khiển bắn “Yakor” trong thành phần trạm quan sát ổn định SVP-42-50 đã được thay bằng đài ra đa định vị “Yakor-M2”, đài ra đa định vị “Lin” – đài ra đa định vị “Neptun-N”. Liên quan với sự thay vũ khí đã thay đổi tải trọng hiện tại. Để tăng cường độ vững chắc theo chuẩn phương tây, trên các tàu tuần tra loạt sau cùng đã nâng cấp – bố trí tải trọng dằn rắn.

Tàu tuần tra “Đoàn viên thanh niên cộng sản Archangel” trong năm 1973-74 đã trải qua sửa chữa với sự nâng cấp và tháo thiết bị ngư lôi.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên trong đề án 50 được khởi công trên ụ xưởng số 445 (hiện nay là xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev 20 tháng 12 năm 1951 và nhận tên gọi “Gornostai”; hạ thủy 30 tháng 7 năm 1952. Tiếp nhận vào biên chế Hải quân sau thí nghiệm kéo dài chỉ vào 30 tháng 7 năm 1954. Tổng cộng đến năm 1958 đã đóng 68 tàu: xưởng số 445 (61 chiến sĩ công xã) ở Nikolaev – 20 tàu, trên xưởng số 820 (“Yantar”) ở Kalininrad – 41, xưởng số 199 (mang tên Lenkom – đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin) ở Komsomol-na-Amur – 7. Đây là chương trình đóng tàu tuần tra lớn đầu tiên trong Hải quân Liên Xô, sau tàu khu trục 30-bis – dòng tàu thứ 2 trong Hải quân Liên Xô theo tính toán các tàu có lượng choán nước hơn 1000 tấn. Ngoài ra, 4 tàu theo các tài liệu Liên Xô đã bán cho Trung Quốc.

17 tàu trong biên chế Hải quân Liên Xô đã bán cho các nước: Bulgaria, Indonesia, Phần Lan. Ngoài các tàu này, theo giấy phép của Liên Xô, đã đóng thêm 5 tàu ở Trung Quốc, được người Trung Quốc trang bị lại thành tàu tên lửa.

Tình hình đến năm 2005

Các tàu cuối cùng trong lớp bị loại trong những năm 1990-91.

Trong thời gian phục vụ, một số tàu đã có mặt trong khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ hỗ trợ các lực lượng vũ trang Ai Cập và Siry.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #107 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 01:23:34 am »

Các bản vẽ tàu tuần tra đề án 50





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #108 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 01:25:13 am »

Bản vẽ màu và hình vẽ tàu tuần tra đề án 50







Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #109 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 01:29:53 am »


Phân bố vũ khí trên các tàu tuần dương đè án 50 (trên) và đề án 50-PLO (dưới)

1. Thiết bị pháo đa năng 100mm B-34USM

2. Máy phóng bom phản lực MBU-200

3. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500

4. Trạm quan sát ổn định SVP-42-50 với đài ra đa định vị “Yakor”

5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N”

6. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Gyuis-1M4”

7. Thiết bị ngư lôi 533mm 3 ống phóng TTA-53-50 để bắn ngư lôi chống ngầm

8. Thiết bị ngư lôi 533mm 2 ống phóng DTA-53-50 để bắn ngư lôi chống tàu

9. Thiết bị pháo phòng không 37mm V-11

10. Rãnh dẫn hướng cho mìn

11. Các thiết bị bảo vệ thủy âm lai
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM