Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:35:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201726 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #150 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2012, 12:15:46 am »


Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 1135

1. Mũ chụp ăng ten đài thủy âm “Titan-2”

2. Thiết bị phóng 4 ống tổ hợp tên lửa chống ngầm RPK-3 “Metel”

3. Ổ lắp khí tàu nạp đạn tên lửa chống ngầm

4. Thiết bị phóng cơ động 2 thùng của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

5. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

6. Trạm ăng ten hệ thống điều khiển tên lửa phòng không “Osa-M”

7. Các khí tài quan sát quang điện MT-45

8. Các trạm ăng ten hệ thống “Musson” điều khiển tổ hợp tên lửa chống tàu “Metel”

9. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi “Vaigach”

10. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp MR-310 “Angara-A”

11. Các thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm

12. Đài ra đa định vị MR-105 “Turel” điều khiển bắn pháo 76,2mm

13. Thiết bị pháo đa năng 76,2mm AK-726

14. Các rãnh rải mìn

15. Buồng đài thủy âm lai “Vega”

16. Các thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-16
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #151 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2012, 12:16:08 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ
(* - các tàu còn trong biên chế)

+ “Bditelnưi”; số hiệu xưởng 151; 21 tháng 7 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kalinigrad); 20 tháng 12 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 3 năm 1970; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1970; 20 tháng 2 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14 tháng 6 – 20 tháng 7 năm 1972 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập và Siri; 5-9 tháng 10 năm 1973 và 20-24 tháng 7 năm 1974 tới thăm Gdưnia (Ba Lan); 4-9 tháng 1 năm 1979 và 5-9 tháng 10 năm 1989 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 19-27 tháng 7 năm 1980 – tới Sentsin (Ba Lan); 15-21 tháng 4 năm 1981 – tới Havana (Cuba); 15-20 tháng 6 năm 1991 – tới Amsterdam (Hà Lan); năm 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân và huấn luyện chống ngầm; năm 1988 – giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện phòng không; tháng 6 năm 1993 tham gia cuộc diễn tập của các nước NATO “Baltops-93” trên biển Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng có thánh Andrei; 31 tháng 7 năm 1996 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 7 năm 1997 giải thể và cuối năm 1997 bán cho công ty quần đảo Virgin tháo kim loại.

+ “Bodrưi”; số hiệu xưởng 152; 20 tháng 12 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 1 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad); hạ thủy 28 tháng 4 năm 1971; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 14 tháng 2 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14 tháng 6 – 29 tháng 7 năm 1972 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập và Siri; 31 tháng 10 năm 1974 nhận giải thưởng của Bộ quốc phòng Liên Xô “vì sự dũng cảm và quả cảm của người lính”; 27 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1975 tới thăm Gdưnia (Ba Lan); 7-10 tháng 8 năm 1981 – tới Helsinki (Phần Lan); 12-18 tháng 6 năm 1982 – tới Luanda (Angola); 25 tháng 6 – 2 tháng 7 năm 1982 – tới Lagos (Nigeria); 5-8 tháng 10 năm 1984 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); năm 1988 nhận giải thưởng Tư lệnh Hải quân về huấn luyện phòng không; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 17 tháng 7 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1997 giải thể.

+ “Dostoinưi”; số hiệu xưởng 11; 11 tháng 8 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” ở Kerch; 5 tháng 2 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 5 năm 1971; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 28 tháng 4 năm 1972 sau cuộc hành quân liên hạm đội từ Sevastopol tới biển Bắc và gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1993 giải thể.

+ “Svirepưi”; số hiệu xưởng 153; 15 tháng 6 năm 1970 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribltic (Kaliningrad); 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 1 năm 1971; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1972; 31 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 20-24 tháng 7 năm 1974 và 19-23 tháng 7 năm 1983 tới thăm Gdưnia (Ba Lan); 22-27 tháng 8 năm 1976 và 15-21 tháng 4 năm 1981 – tới Havana (Cuba); 5-10 tháng 10 năm 1978 tới Rostoc (Đông Đức); 26-30 tháng 5 năm 1983 – tới cảng Tunis (Tuynidi); 11-15 tháng 6 năm 1984 – tới Helsinki (Phần Lan); năm 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; năm 1988 – giải thưởng về huấn luyện phòng không; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 31 tháng 12 năm 1993 giải thẻ và năm 1994 bán cho công ty Anh để tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #152 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2012, 12:27:36 am »

+ “Sinưi”; số hiệu xưởng 154; 20 tháng 10 năm 1970; ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 3 năm 1971 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kalinigrad); hạ thủy 29 tháng 8 năm 1972; gia nhập 30 tháng 6 năm 1973; 16 tháng 7 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 5-9 tháng 10 năm 1973; 27 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1975 tới thăm Gdưnia (Ba Lan); 22-27 tháng 8 năm 1976; 11-15 tháng 10 năm 1985 – tới Havana (Cuba); 10-14 tháng 10 năm 1988 – tới Praia (Cabo-Verde); 5-9 tháng 10 năm 1989 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); năm 1978 và năm 1983 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 28 tháng 3 – 4 tháng 4 năm 1984 tham gia chiến dịch diễn tập Hải quân “Atlantic-84”; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 12 tháng 3 năm 1990 ở xưởng tại Pribaltic trải qua đại tu; 30 tháng 6 năm 1994 do không đủ tài chính bị loại khỏi Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể và năm 1994-1995 ở xưởng “Yantar” bị tháo kim loại.

+ “Doblestnưi”; số hiệu xưởng 12; 30 tháng 11 năm 1970; khởi công trên xưởng “Zaliv” ở Kerch; 5 tháng 2 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 22 tháng 2 năm 1973; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1973; 17 tháng 2 năm 1974 sau cuộc hành quân xuyên hạm đội từ Sevastopol tới biển Bắc gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; năm 1979 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; từ 19 tháng 6 năm 1991 nằm ở xưởng số 35 ở Murnamsk để đại tu; 3 tháng 7 năm 1992 do không có tài chính nên bị loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1993 giải thể; 18 tháng 7 năm 1995 bán cho công ty trung gian của Mỹ để tháo kim loại.

+ “Strozhevoi”; số hiệu xưởng 155; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 7 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad); hạ thủy 21 tháng 3 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1973; 7 tháng 12 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 8 tháng 11 năm 1975 trên tàu chống ngầm lớn xảy ra binh biên của một bộ phận thủy thủ chống lại chính quyền với mục đích gây chú ý trên thế giới nhưng đã bị dập tắt; 10 tháng 11 năm 1975 ghi tên vào biên chế phân hạm đội Camchatca; đầu năm 1976 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Phi từ Baltic tới Petropavlovsk-Camchatca; 5-9 tháng 10 năm 1974 tới thăm Rostoc (Đông Đức); 10-15 tháng 9 năm 1980 thực hiện chuyến công tác tới Massaua (Etiopia); năm 1981, 1982 và 1983 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; từ 21 tháng 4 năm 1987 đến 14 tháng 11 năm 1994 ở “Dalzavod” tại Vladivostoc trải qua đại tu; cuối những năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Razumnưi”; số hiệu xưởng 156; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 6 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng “Yantar”ở Pribaltic tại Kaliningrad; hạ thủy 20 tháng 7 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1974; 15 tháng 11 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1975 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi từ Baltic tới Petropavlovsk-Camchatca; 11 tháng 6 năm 1975 ghi tên vào biên chế hải đoàn Camchatca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 15-24 tháng 8 năm 1978 tới thăm Aden (Nam Yemen); năm 1981, 1983 và 1986 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 16 tháng 3 năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể và neo đậu ở vịnh Zavoiko.

+ “Razyzshi”; số hiệu xưởng 157; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; 28 tháng 9 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic ở Kaliningrad; hạ thủy 22 tháng 7 năm 1974; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1974; 14 tháng 2 năm 1975 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi từ Baltic tới Bladivostoc gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 10-17 tháng 11 năm 1976 tới thăm Port-Lui (Mavriki); 10-14 tháng 10 năm 1981 – tới Đà Nẵng (Việt Nam); từ tháng 11 năm 1981 ddeens tháng 4 năm 1983 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô ở Vladivostoc trải qua trung tu; 17 tháng 11 năm 1983 khi đang trực chiến ở phía Bắc biển Arav va chạm với tàu khu trục Mỹ “Faif”, kết quả là thân tàu bị hư hại không lớn; năm 1984 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 29 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể và 6 tháng 10 năm 1994 bán cho công ty Hàn Quốc tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #153 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2012, 12:27:53 am »

+ “Druzhnưi”; số hiệu xưởng 158; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 10 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic ở Kaliningrad; hạ thủy 22 tháng 1 năm 1975 gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1975; 25 tháng 10 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 25-30 tháng 8 năm 1978 tới thăm Goeteborg (Thụy Điển); 4-9 tháng 10 năm 1979; 9-14 tháng 8 năm 1982 – tới Rostoc (Đông Đức); 7-10 tháng 8 năm 1981 – tới Helsinki (Phần Lan); 26-30 tháng 5 năm 1983 tới cảng Tunis (Tuynidi); 1-5 tháng 6 năm 1993 – tới Cadis (Tây Ban Nha); năm 1981 và 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện phòng không; năm 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 28 tháng 3 – 4 tháng 4 năm 1984 tham gia chiến dịch “Atlantic-84” của Hải quân; từ 1 tháng 7 năm 1988 đến 21 tháng 1 năm 1992 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic trải qua đại tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; tháng 9-10 năm 1994 tham gia cuộc tập trận cùng các nước NATO “Cooperative-94”; cuối năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Deyatelnưi”; số hiệu xưởng 13; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách; 21 tháng 6 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” ở Kerch; hạ thủy 5 tháng 4 năm 1975; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1975; 19 tháng 2 năm 1976 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 30 tháng 6 – 4 tháng 7 năm 1977 tới thăm cảng Tunis; 25-30 tháng 7 năm 1981 – tới Tripoli (Libia); 11-15 tháng 8 năm 1989 – tới Varna (Bulgaria); năm 1978 và 1988 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân vầ huấn luyện chống ngầm; từ năm 1991 nằm ở xưởng số 91 (Sevastopol) để đại tu; 10 tháng 7 năm 1995 do không có tài chính nên bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1995 giải thể; 6 tháng 4 năm 1997 kéo tới “Gryadusi” ở Thổ Nhĩ Kỳ để tháo kim loại.

+ “Zharki”; số hiệu xưởng 711; 6 tháng 10 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 16 tháng 4 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; hạ thủy 3 tháng 11 năm 1975; gia nhập biên chế 29 tháng 6 năm 1976; 11 tháng 8 năm 1976 sau cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới biển Bắc gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 12 tháng 7 năm 1983 khi đang trải qua đại tu ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad bị cháy nặng do đám cháy xuất hiện trong kết quả cháy nhiên liệu và giẻ trong buống máy mạn tàu; năm 1984 sửa chữa và trang bị lại theo đề án 11353; 5-22 tháng 6 năm 1991 tham gia chiến dịch tìm kiếm – chống ngầm của Hạm đội Biển Bắc ở Đông Bắc Đại Tây Dương và biển Na Uy; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô thành cờ thành Andrei; từ 25 thagns 5 năm 1993 dến 1996 ở xưởng số 35 ở Murmansk để trung tu; năm 1996 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; cuối những năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Retivưi”; số hiệu xưởng 712; 6 tháng 10 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 6 năm 1976 khởi công trên ụ xướng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; hạ thủy 14 tháng 8 năm 1976; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1976; 5 tháng 2 năm 1977 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi từ Baltic tới Petropavlov-Camchatca gia nhập biên chế phân hạm đội Camcahtca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 30 tháng 10 năm 1978 tham gia tìm kiếm máy bay Mỹ “Orion” và phi hành đoàn bị rơi gần bờ biển Camchatca; năm 1980, 1986 và 1992 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1995 giải thể; 7 tháng 9 năm 1996 bán cho công ty Hàn Quốc để tháo kim loại.

+ “Đoàn viên thanh niên cộng sản Leningrad”; từ 15 tháng 2 năm 1992 là “Legki”; số hiệu xưởng 713; 22 tháng 4 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; 8 tháng 8 năm 1974 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 4 năm 1977; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1977; 29 tháng 11 năm 1977 sau cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới biển Bắc, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; năm 1979, 1994, 1995, 1996 và 1997 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; từ 27 tháng 10 năm 1988 đến 22 tháng 1 năm 1991 ở xưởng số 35 tại Murmansk trải qua nâng cấp theo đề án 11352 và đại tu; 23-26 tháng 3 năm 1994 tham gia cuộc diễn tập phối hợp với các tàu Hải quân Na Uy và Anh “Pormor-94” ở biển Na Uy; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 12-16 tháng 7 năm 1993 thăm Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ) với Tư lệnh Hải quân trên tàu; 24-25 tháng 10 năm 1994 – tới Kirkenes (Na Uy).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #154 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2012, 12:28:14 am »

+ “Bezzavetnưi”; số hiệu xưởng 14; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 28 tháng 5 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” ở Kerch; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1977; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 ghi nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 10-13 tháng 8 năm 1979 tới thăm Varna (Bulgaria); 26-31 tháng 3 năm 1987 – tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 12 tháng 2 năm 1988 đẩy lùi sự xâm nhập vào khu vực lãnh hải Liên Xô gần bờ biển Krưm của tàu tuần dương tên lửa Mỹ “Yorktown”; năm 1988 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 14 tháng 7 năm 1997 giải thể; 1 tháng 8 năm 1997 bán cho Hải quân Ucraina và đổi tên thành U134 “Dnipropetropavlovsk”; 8 tháng 9 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân Nga.

+ “Letuchsi”; số hiệu xưởng 714; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; 9 tháng 3 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; hạ thủy 19 tháng 3 năm 1978; gia nhập biên chế 10 tháng 8 năm 1978; 20 tháng 9 năm 1978 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi đã tới Petropavlov-Camchatca, gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 13-17 tháng 12 năm 1981 tới thăm Maputa (Mozambic) và tháng 12 năm 1981 ghé vào Victoria (quần đảo Seisel); trong giai đoạn từ tháng 5 năm 1987 đến tháng 10 năm 1991 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1992 và 1999 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm.

+(*) “Pưlki”; số hiệu xưởng 715; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; 6 tháng 5 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1978; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1978; 24 tháng 1 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới Sevastopol, ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; 10-14 tháng 10 năm 1983 tới thăm Pirei (Hy Lạp); 18-23 tháng 7 năm 1986 – tới Zeebrugg (Bỉ); từ 19 tháng 12 năm 1987 đến 9 tháng 7 năm 1993 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic nâng cấp theo đề án 11352, sau đó quay trở lại biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm.

+ “Zadornưi”; số hiệu xưởng 716; 16 tháng 5 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 11 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; hạ thủy 25 tháng 3 năm 1979; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1979; 13 tháng 9 năm 1979 sau cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới biển Bắc, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 28 tháng 12 năm 1984 – 2 tháng 1 năm 1985 và 3-7 tháng 11 năm 1988 tới thăm Havana (Cuba); 2-6 tháng 5 năm 1984 – tới cảng Algie (Algieri); trong giai đoạn 11 tháng 6 năm 1990 đến 23 tháng 5 năm 1996 ở xưởng “Phương Bắc” tại Leiningrad trải qua đại tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1997 và 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; tháng 5 năm 1997 tham gia cuộc diễn tập phối hợp với tàu chiến Hariq uân Anh “Iron Duke” trên biển Barents; loại khỏi biên chế Hải quân Nga và giải thể.

+ “Bezukoriznennưi”; số hiệu xưởng 15; 16 tháng 5 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 7 năm 1978 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” tại Kerch; hạ thủy 3 tháng 6 năm 1979; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1979; 3 tháng 3 năm 1987 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 27 tháng 9 – 2 tháng 10 năm 1981 tới thăm Dzhezair (Algieri); 26-31 tháng 3 năm 1987 – tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 15-19 tháng 8 năm 1991 – tới Constants (Rumani); năm 1994 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện pháo; 14 tháng 7 năm 1997 giải thể; 1 tháng 8 năm 1997 bán cho Hải quân Ucraina và đổi tên thành U133 “Mokolaiv”; 8 tháng 9 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân Nga.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #155 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2012, 12:28:28 am »

+(*) “Ladnưi”; số hiệu xưởng 16; 17 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách Hải quân; 25 tháng 5 năm 1979 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” ở Kerch; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1980; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1980; 25 tháng 2 năm 1981 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 7-10 tháng 8 năm 1981 tới thăm Varna (Bulgaria); 18-22 tháng 6 năm 1996 – tới Pirei (Hy Lạp); năm 1991 và 1993 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện pháo; năm 1994 tham gia cuộc diễn tập hỗn hợp với các tàu hải quân NATO “Breeze-94”; 8 tháng 5 năm 1995 – tham gia cuộc duyệt binh Hải quân quốc tế ở Saint Peterburg kỷ niệm 50 năm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei.

+ “Pưtlivưi”; sô hiệu xưởng 717; 17 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 2  năm 1979 dừng đóng trên xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; không được khởi công.

+ “Porưvistưi”; số hiệu xưởng 17; 21 tháng 5 năm 1980 khởi công trên xưởng “Zaliv” ở Kerch; 28 tháng 5 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hairq uân; hạ thủy 16 tháng 5 năm 1981; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1981; 9 tháng 2 năm 1982 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 18 tháng 9 năm 1983 đến 27 thagns 2 năm 1984 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi từ Sevastopol tới Vladivostoc; ghé vào Luanda (Angola) từ 12 đến 20 tháng 11 năm 1983; 8-13 tháng 12 năm 1983 – tới Victoria (quần đảo Seisel); 5-10 tháng 4 năm 1987 tới thăm Madras (Ấn Độ); từ 21 tháng 9 năm 1983 đến 27 tháng 2 năm 1984 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 13-17 tháng 8 năm 1985 và 14-18 tháng 8 năm 1990 tới thăm Wonsan (Cộng hòa nhân dân Triều Tiên); 5-10 tháng 4 năm 1987 – tới Colombo (Sri Lanca); 25-30 tháng 11 năm 1987 – tới Aden (Nam Yemen); năm 1984 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện phòng không và chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 8 tháng 5 năm 1992 loại khỏi biên chế chiến đấu thành tàu dự bị loại 2 và neo đậu ở Vladivostoc; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 25 tháng 11 năm 1994 bán cho câu lạc bộ Hải quân “Vostoc” để sử dụng cho mục đích huấn luyện; 15 tháng 12 năm 1994 giải thể; 20 tháng 3 năm 1997 bị cháy lớn khi đỗ gần tường xưởng số 178 ở vịnh Sừng Vàng (Vladivostoc).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #156 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2012, 12:28:48 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 2810

+ hoàn toàn: 3200

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 123 (113)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 14,2 (13,2)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 7 (4,48)

Các thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – khí M07

+ 2 tuabin khí hành trình M-62, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820)

+ 2 tuabin khí tăng lực M-8K, tổng công suất, sức ngựa (kW): 36 000 (26 460)

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 32

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 4000 (14)

+ 1600 (31)

Thời gian hoạt động, ngày: 10

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 192 (22)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #157 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2012, 12:29:17 am »

Vũ khí

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa chống ngầm điều khiển RPK-3 “Metel” hoặc YRK-5 “Rastrub-B”: 1x4

+ tên lửa chống ngầm điều khiển 85-P hoặc 85-RU (SS-N-14 “Silex”): 4

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng ZiF-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 40

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm ChTa-53-1135: 2x4

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch: 1x12

+ RGB-60: 96

Mìn

+ có thể mang theo mìn ở boong trên: 16…20.

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-35”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp: 1x”Volga” (Palm Frond) hoặc “Vaigach” (Don Key hoặc Don 2) hoặc (Spin Trough)

Đài thủy âm

+ MG-332 “Titan-2” (Bull Nose)

+ MG-325 “Vega” (Mare Tail) – lai hoặc

+ Tổ hợp thủy âm “Zvezda-MG” chỉ có trên “Zharki”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Start” (2 Bell Shroud”; 2 Bell Squat)

+ BAT-1 đài bảo vệ thủy âm

Các tổ hợp bắn nhiễu: 4x16 thiết bị phóng PK-16 hoặc 8x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” trên 1 tàu

Đài phát hiện vết rẽ nước: 2xSOKS

Các khí tài quang điện: 2xMT-45 (Tee Plinth)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Musson” (Eye Bowl) cho tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel”

+ 1x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo 76,2mm

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikel”/”Khrom” (High Pole B).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #158 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:33:30 am »

Tàu tuần tra “Delfin” – Đề án 1159/1159-T – Lớp Koni


Tổng số tàu đã đóng: 6/6

Các biến thể

+ 1159 (lớp Koni-I) – đề án cơ sở sản xuất loạt của tàu tuần tra xuất khẩu (1975)

+ 1159 (lớp Koni-II) – phiên bản sử dụng ở khu vực nhiệt đới (1980)

+ 1159-TR (lớp Koni-II) – phiên bản biến thể cho Hải quân Libia trang bị tên lửa chống tàu (1985).

Sau những năm 1960, việc xuất khẩu các tàu tuần tra có lượng choán nước thấp của Liên Xô được mở rộng đáng kể - đã quyết định bắt đầu thiết kế tàu tuần tra chuyên dành cho xuất khẩu. Năm 1968 ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã bắt đầu chế tạo tàu, nhận số hiệu đề án 1159 theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật được Hải quân đưa ra.Tổng công trình sư của đề án là Yu.A.Nikolski, giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 2 A.P.Demeshkevich.

Khi thiết kế trong cấp độ đáng kể đã tận dụng kinh nghiệm chế tạo tàu tuần tra đề án 159 và tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124. Thiết bị năng lượng chính là 3 trục và thực tế là lặp lại hoàn toàn hệ thống của đề án 1124, nhưng với sự thay động cơ diesel tốc độ cao trên các trục bên cùng số (công suất) vòng quay thấp hơn. Trên trục giữa là động cơ tuabin khí tăng lực M8B công suất 18 000 sức ngựa. Tốc độ hoàn toàn (tối đa) của tàu tuần tra là 29 hải lý, tốc độ tìm kiếm nằm trong giới hạn 20-24 hải lý. Tầm bơi xa ở tốc độ 14 hải lý là 2000 dặm, khả năng cơ động trên biển theo các điều kiện bơi an toàn – sóng cấp 8-9, còn khi sử dụng vũ khí – sóng cấp 5.

Vũ khí chính gồm tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ 8E10 (phiên bản xuất khẩu của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”, thiết bị phóng 2 bệ với sơ số đạn 20 tên lửa phòng không điều khiển), 2 pháo tổng hợp 2 nòng 76,2mm AK-726 (theo 1 ở mũi và 1 ở mạn tàu), số lượng tương tự pháo phòng không tự động 30mm AK-230 và 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 (cơ số đạn 12 bom chìm phản lực RGB-60). Ngoài ra, có các máy rải bom và rãnh để tiếp nhận rải mìn. Lượng choán nước hoàn toàn – 1760 tấn, thủy thủy đoàn – 110 người, thời gian hoạt động theo trữ lượng thực phẩm là 10 ngày.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #159 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:34:29 am »

Các biến thể


Ngoài đề án cơ sở, ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã chế tạo tàu tuần tra đề án 1159-T sử dụng ở khu vực nhiệt đới. Sáu tàu này đã được đóng cho Algieri và Cuba (ở phương Tây chúng nhận tên gọi lớp Koni-II). Trong đó, các tàu được quân đội Nam Tư (đề án 1159) và Algieri (đề án 1159-T) sử dụng đã được trang bị bổ sung  4 thiết bị phóng 1 thùng cho tên lửa chống tàu P-20 – lắp ở mạn tàu. Một số tàu nhận vũ khí – 2 thiết bị 4 ống phóng MT-4US để phóng tên lửa phòng không điều khiển kiểu “Strela-3”.

Thêm 2 tàu được đóng cho Libia theo đề án 1159-T được thiết kế lại đáng kể (lớp Koni-III). Chúng khác biệt ở lượng choán nước tăng, thay đổi thiết kế thượng tầng và xuất hiên 2 thiết bị phóng đôi cho tên lửa chống tàu P-20M, bố trí theo thành tàu gần thượng tầng mũi.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên trong đề án 1159 nhận tên gọi “Delfin” được đóng năm 1975 trên xưởng mang tên Gorki ở Zelenodolsk (số 340). Tổng công từ năm 1975 đến năm 1987 đã đóng 6 tàu đề án 1159 (phương Tây gọi là lớp Koni), và cùng số lượng tàu theo đề án 1159-T và 2 theo đề án 1159-TR.

Tình hình đến năm 2008

Ban đầu toàn bộ các tàu tuần tra đề án 1159 đồng thời gian nhập biên chế Hải quân Liên Xô và chỉ sau đó mới được mang đi xuất khẩu. Hai tàu đề án 1159 được bán cho Cộng hòa dân chủ Đức trong những năm 1978-78 (nhận tên gọi “Rostoc” và “Berlin”) và thêm một tàu vào năm 1985 (“Halle”); 2 – Nam Tư trong những năm 1980-82 (“Split”, “Kopar”)’ 1 theo đề án 1159-T – Algieri năm 1980 (“Mourad Rais”) và 2 vào năm 1982-85 (“Rais Kellich”, “Rais Korfou”); 2 – Cuba năm 1981-84 (“Mariel”, tàu số 356) và 1 vào năm 1988 (“Monkada”). Hai tàu đề án 1159-T được bán cho Libia năm 1986-87 (“Al Hani” và “Al Qirdabiyan”).

Sau khi thống nhất nước Đức trong năm 1990, toàn bộ 3 tàu tuần tra đề án 1159 trong Hải quân Đông Đức bị loại khỏi biên chế và tháo dỡ. Hai trong số 3 tàu của Cuba trong đề án 1159-T bị loại khỏi biên chế năm 1996-97. Từ năm 1993, các tàu tuần tra của Nam Tư “Split” và “Kopar” dược đổi tên thành VPB-31 “Beograd” và VPN-32 “Podgorica” (cả 2 đều còn trong biên chế). Năm 1997, tàu chiến Algieri đề án 1159-TR “Rais Korfou” đã được đưa tới cảng tại Kronshtadt để sửa chữa và nâng cấp – đã hoàn thành trong năm 2000.

Tàu đầu tiên trong đề án 1159 – “Delfin” – được sử dụng trong Hải quân Liên Xô chỉ trong vai trò tàu huấn luyện các thủy thủ đoàn nước ngoài và chuyên gia (chuyên viên). Sau khi kết thúc chương trình xuất khẩ, tàu này được bán cho Hải quân Bulgari năm 1991 và đổi tên thành “Smeli”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM