Tàu tuần tra kiểu “Neustrashimưi” – Đề án 11540 “Yastreb” – Lớp Neustrashimy
Tổng số tàu đã đóng: 2+1
Các biến thể
+ 11540 “Yastreb” – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1990)
+ 11541 “Korsar” – đề án tàu tuần tra xuất khẩu với những thay đổi không đáng kể.
Khi tính toán rằng các tàu tuần tra Liên Xô trên khu vực biển đã thua kém một cách đáng kể so với các tàu cùng lớp của phương Tây về các khả năng chiến đấu (không có vũ khí đường không và tên lửa chống tàu, pháo yếu hơn), ở Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng vào giữa những năm 1970 đã bắt đầu nghiên cứu các hướng chế tài tàu tuần đa năng tương lai. Nhóm các chuyên gia, đứng đầu là thuyền trưởng cấp 3 V.P.Kyzin đã thành công khi chứng minh cho lãnh đạo viện rằng đã đến lúc thực hiện các kết quả khoa học đã nhận được. Tới thời điểm này, ở Phòng thiết kế Zelenodolsk dưới sự chỉ đạo của L.F.Fedoseev đã thực hiện các công việc thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu khoa học theo tàu chống ngầm nhỏ đề án 1154 “Yastreb”. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật của Hải quân, đưa ra năm 1972, đã nghiên cứu chế tạo tàu có lượng choán nước hoàn toàn gần 800 tấn và tốc độ tối đa 35 hải lý, được giới thiệu là sự phát triển tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124. Tổng công trình sư của tàu là N.A.Yakovlevski đã ủng hộ (tán thành) đề xuất của Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng về thiết kế lại đề án trong hướng chế tạo tàu tuần tra đa năng, mà theo các khả năng chiến đấu không thua các tàu nước ngoài tốt nhất lớp tàu chiến (“Oliver H.Perry” – Mỹ, “Bremen” – Đức và “Maestrale” – Italia).
Trong quá trình thiết kế, phạm vi nhiệm vụ của tàu được mở rộng thường xuyên, vũ khí được tăng cường do kết quả tiếp nhận toàn bộ các mẫu khí tài kỹ thuật hiện đại nhất và tăng các danh pháp của chúng, đi kèm với sự tăng lượng choán nước. Như, trong đề án phác họa được phê duyệt năm 1975, lượng choán nước hoàn toàn tăng lên 1500 tấn, còn tàu được phân loại thành tàu tuần tra chống ngầm, trong đề án kỹ thuật (năm 1976) – 1700 tấn, trong đề án kỹ thuật được hiệu chỉnh (năm 1979) – gần 2000 tấn, còn trong phiên bản với trực thăng – 2500 tấn. Tốc độ tối đa khi đó giảm xuống còn 27-28 hải lý. Khi bắt đầu từ giai đoạn này, các công việc được thực hiện dưới sự chỉ đạo của tổng công trình sư N.A.Yakovlevski. Bằng cách này, trong kết quả công việc 7 năm, tàu đề án 1154 gần theo lượng choán nước của tàu tuần tra đề án 1135. Năm 1981, nhiệm vụ kỹ chiến thuật mới đã được đặt ra cho Phòng thiết kế Zelenodolsk đề án 11540 – vẫn giữ số hiệu “Yastreb”. Năm 1982, đã có quyết định của Bộ Công nghiệp đóng tàu và Hải quân về việc nghiên cứu theo nhiệm vụ kỹ chiến thuật mới trong dạng tàu tuần tra đề án 1135 và 11351 do kết quả tiếp nhận các khí tài phòng không – chống ngầm mới, vô tuyến điện, thủy âm định vị, đồng thời tăng cường (bổ sung) các khả năng chống lại tàu nổi (tàu tuần tra đa năng, có nhiệm vụ chống ngầm, phòng không và chống tàu trong cụm tàu chiến, bảo vệ tàu vận tải và các đơn vị đổ bộ). Tháng 10 năm 1981, tương ứng với mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân liên qua đến sự thay đổi thành phần vũ khí (bổ sung tổ hợp tên lửa chống tàu “Uragan”), lượng choán nước của tàu được thiết kế được quyết định tăng lên 3500 tấn. Tổng công trình sư vẫn giữ lại như trước – N.A.Yakovlevski, giám sát viên chính từ Hải quân lúc đầu – thuyền trưởng hạng 2 V.Ya.Korsukov, sau đó – thuyền trưởng hạng 2 O.K.Korobkov.
Việc thiết kế đề án 11540 yêu cầu thực hiện hàng loạt các công việc thiết kế thí nghiệm và nghiên cứu khoa học, trong số đó theo sự giảm tiếng ồn dưới nước, đảm bảo chất lượng cơ động trên biển và khả năng điều khiển tốt. Lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu Liên Xô trong giai đoạn nghiên cứu nhiệm vụ kỹ chiến thuật và kèm theo nghiên cứu khoa học bởi tổng công trình sư N.A.Yakovlevski và giám sát viên chính – thuyền trưởng cấp 2 V.Ya.Korsukov đã sử dụng các kết quả nghiên cứu kinh tế quan sự nhận được trong hệ thống thiết kế tự động hóa (SAPR) “Chertezh” của cộng tác viên khoa học lâu cao cấp – thuyền trưởng cấp 3 V.I.Nikolski. Trong quá trình thiết kế đã thay đổi bố cục tàu: như tổ hợp tên lửa phòng không từ mạn được chuyển tới mũi, ăng ten đài thủy âm từ mũ chụp dưới sống được chuyển vào mũ chụp hình cầu ở mũi. Thành phần vũ khí đồng thời thay đổi từ thiết kế này tới thiết kế khác. Ban đầu trên tàu dự định lắp tổ hợp chống ngầm RPK-5 “Liven” (RBU-10000), hiệu quả của nó bị nhiều chuyên gia nghi ngờ. Nhưng cuối cùng, việc thiết kế tổ hợp đã dừng lại, còn “Yastreb” đã nhạn được thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 hiệu quả trong Hải quân (rõ ràng vì thể, thiết bị này trên tàu chỉ có một). Các sỹ quan Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng đã “chiến đấu” vì việc lắp trên tàu pháo 100mm AK-100. “Các nhà vũ trang” đã “cân nhắc” một cách kiên định (đặc biệt là các chuyên gia Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov). Tư lệnh Hải quân đã đặt dấu chấm cuối cùng cho cuộc tranh cãi. Đương nhiên là “một trăm”!