Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:28:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 202038 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #160 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:35:32 am »


Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 1159

1. Thiết bị pháo đa năng 76,2mm AK-726

2. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

3. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Turel”

4. Đài ra đa định vị đạo hàng

5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Rubka”

6. Đài tác chiến điện tử “Bizan-4”

7. Pháo phòng không tự động nòng đôi 30mm AK-230

8. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Vưmpel”

9. Đài dẫn bắn tên lửa phòng không

10. Thiết bị phóng không cố định của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ

11. Các rãnh rải mìn

12. Máy bảo vệ thủy âm lai

13. Các máy rải bom

14. Mũ chụp đài thủy âm dưới sống tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #161 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:35:54 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Delfin”; số hiệu xưởng 201; 25 tháng 5 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 4 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng “công nhân kim khí Đỏ” ở Zelenodolsk thuộc nước cộng hòa Xô viết tự trị Tartastan; hạ thủy 19 tháng 7 năm 1975 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1975; 12 tháng 3 năm 1976 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen để huấn luyện các thủy thủ đoàn cho các tàu xuất khẩu; từ 19 tháng 6 năm 1979 đến 7 tháng 8 năm 1979 và từ 13 tháng 6 năm 1988 đến 12 tháng 3 năm 1990 trải qua trung tu ở “Sevmorezavod” ở Sevastopol; 11 tháng 2 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Hải quân Bulgaria và đổi tên “Smeli”; 1 tháng 6 năm 1991 giải thể.

+ “Nerpa”; số hiệu xưởng 202; 2 tháng 10 năm 1974 ghi tên vào danh sách Hải quân; 22 tháng 10 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1977 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1977 và đồng thời gian nhập biên chế Hạm đội Baltic; 25 tháng 7 năm 1978 bán cho Hải quân Đông Đức, đổi tên “Rostoc” (số hiệu 141); 10 tháng 7 năm 1978 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 3 tháng 10 năm 1990 chuyển sang phục vụ Hải quân Cộng hòa liên bang Đức nhưng không gia nhập biên chế mà sau đó bị tháo kim loại.

+ “Kerchet”; số hiệu xưởng 203; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; 19 tháng 1 năm 1977; khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk; hạ thủy 3 tháng 7 năm 1978 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1978 và đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 10 tháng 5 năm 1979 bán cho Hải quân Đông Đức, đổi tên “Berlin” (142); 31 tháng 5 năm 1979 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 15 tháng 8 năm 1979 giải thể; 3 tháng 10 năm 1990 phục vụ dưới cờ Hải quân Cộng hòa liên bang Đức nhưng không gia nhập biên chế và sau đó tháo kim loại.

+ “Sokol”; số hiệu xưởng 204; 14 tháng 4 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; tháng 1 năm 1978 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk; hạ thủy 21 tháng 4 năm 1979 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1979 và đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 2 năm 1980 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Hải quân Nam Tư và đổi tên “Split” (VPB-31); 1 tháng 6 năm 1980 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #162 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:36:08 am »

+ SKR-481; số hiệu xưởng 205; 25 tháng 12 năm 1979 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk; 21 tháng 5 năm 1981 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 24 tháng 12 năm 1981; mùa xuân năm 1982 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1982 và đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 10 tháng 2 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 1 tháng 12 năm 1982 giải thể; 5 tháng 12 năm 1982 bán cho Hải quân Nam Tư, đổi tên “Kopar” (VPB-32).

+ SKR-149; số hiệu xưởng 206; 29 tháng 2 năm 1984 ghi tên vào danh sách Hải quân; 8 tháng 4 năm 1983 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí” ở Zelenodolsk; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1984; nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 25 tháng 6 năm 1985, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 23 tháng 11 năm 1985 bán cho Hải quân Đông Đức và đổi tên “Halle”; 14 tháng 3 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 1 tháng 5 năm 1986 giải thể; 3 tháng 10 năm 1990 chuyển sang quân đội Cộng hòa liên bang Đức nhưng không gia nhập biên chế và sau đó bị tháo kim loại.

+ SKR-482; số hiệu xưởng 250; 22 tháng 1 năm 1979 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 6 năm 1978 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk theo đề án 1159-T; hạ thủy 12 tháng 1 năm 1980; mùa xuân năm 1980 di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới biển Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1980, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 11 tháng 12 năm 1980 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, 20 tháng 12 năm 1980 bán cho Hải quân Algieri, đổi tên “Mourad Rais” (190); 1 tháng 8 năm 1981 giải thể.

+ SKR-28; số hiệu xưởng 251; 17 tháng 7 năm 1979 khởi công trên xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk theo đề án 1159-T; 19 tháng 2 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 21 tháng 6 năm 1980, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 9 năm 1981 bán cho Hải quân Cuba, đổi tên “Mariel” (350); 29 tháng 4 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 30 tháng 6 năm 1982 giải thể; năm 1997 tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #163 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:36:27 am »

+ SKR-35; số hiệu xưởng 252; 19 tháng 2 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hải quân; 11 tháng 6 năm 1980 khởi công ở xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” tại Zelenodolsk theo đề án 1159-T; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1981 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1981, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 3 năm 1982 bán cho Hải quân Algieri và đổi tên “Rais Kellich” (902); 29 tháng 4 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 30 tháng 6 năm 1982 giải thể.

+ SKR-471; số hiệu xưởng 253; 24 tháng 4 năm 1981 khởi công trên xưởng “công nhân kim khí Đỏ” ở Zelenodolsk theo đề án 1159-T; 8 tháng 2 năm 1982 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1982 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 17 tháng 8 năm 1983, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 8 tháng 2 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; tháng 2 năm 1984 bán cho Hải quân Cuba và nhận số 356; 1 tháng 5 năm 1984 giải thể; giữa những năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân Cuba; tháng 8 năm 1996 bán cho công ty tư nhân và bị đắm gần bờ biển quần đảo Caiman; hiện nay được sử dụng như mục đích tham quan của những người thích chèo thuyền.

+ SKRR-129; số hiệu xưởng 254; 7 tháng 7 năm 1982 khởi công ở xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” tại Zelenodolsk theo đề án 1159-T; 19 tháng 1 năm 1983 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 11 tháng 11 năm 1983, mùa xuân năm 1984 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 8 năm 1984, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; tháng 1 năm 1985 bán cho Hải quân Algieri, đổi tên “Rais Korfou” (903); 8 tháng 1 năm 1985 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 1 tháng 10 năm 1985 giải thể; trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2000 trải qua sửa chữa và nâng cấp ở Kronshtadt.

+ SKR-451; số hiệu xưởng 257; 11 tháng 4 năm 1986 ghi tên vào danh sách Hải quân; 6 tháng 5 năm 1986 khởi công ở xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” tại Zelenodolsk theo đề án 1159-T; hạ thủy 3 tháng 5 năm 1987 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1987, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 9 tháng 2 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Hải quân Cuba và đổi tên “Monkada” (353); 1 tháng 7 năm 1988 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #164 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:36:46 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 1515

+ hoàn toàn:  1670

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 96,51 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 12,56 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,06 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí – diesel

+ 1 tuabin khí tăng lực M-8B, công suất, sức ngựa (kW): 18 000 (13 230)

+ 2 động cơ diesel tốc độ quay trung bình, tổng công suất, sức ngựa (kW): 18 000 (14 230)

3 trục; 3 chân vịt bánh lái

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 29,5

+ tiết kiệm năng lượng: 14…14,5

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2000 (14)

Thời gian hoạt động: 10 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 96…110 (9…10).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #165 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:37:08 am »

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu P-20 (chỉ có trên 5 tàu): 4x1

+ tên lửa chống tàu P-20 (SS-N-2S “Styx”): 4

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng Zif-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 8E10: 1x2

+ tên lửa phòng không điều khiển 9M33 (SA-N-4 “Gecko”): 20

+ thiết bị phóng MT-4US của tổ hợp tên lửa phòng không “Strela-3” (trên 1 số tàu): 2x4

+ tên lửa phòng không điều khiển 9M32M (SA-N-5 “Grail”): 16

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

+ thiết bị pháo phòng không 30mm AK-230: 2x2

Chống ngầm

+ RBU-6000: 2x12

+ cơ số đạ RGB-60: 120

+ máy rải bom: 2

+ bom chìm BB-1: 12

Mìn

+ mìn mang theo trên boong trên: 14.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #166 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 12:37:26 am »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-302 “Rubka” (Strut Curve)

Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Don-2” (Don II)

Đài thủy âm: - (dưới sống)

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Bizan-4” (Watch Dog)

+ các máy bảo vệ thủy âm

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x(Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Schreech) cho pháo

+ 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo phòng không

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: -.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #167 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 11:58:24 pm »

Tàu tuần tra kiểu “Neustrashimưi” – Đề án 11540 “Yastreb” – Lớp Neustrashimy


Tổng số tàu đã đóng: 2+1

Các biến thể

+ 11540 “Yastreb” – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1990)

+ 11541 “Korsar” – đề án tàu tuần tra xuất khẩu với những thay đổi không đáng kể.

Khi tính toán rằng các tàu tuần tra Liên Xô trên khu vực biển đã thua kém một cách đáng kể so với các tàu cùng lớp của phương Tây về các khả năng chiến đấu (không có vũ khí đường không và tên lửa chống tàu, pháo yếu hơn), ở Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng vào giữa những năm 1970 đã bắt đầu nghiên cứu các hướng chế tài tàu tuần đa năng tương lai. Nhóm các chuyên gia, đứng đầu là thuyền trưởng cấp 3 V.P.Kyzin đã thành công khi chứng minh cho lãnh đạo viện rằng đã đến lúc thực hiện các kết quả khoa học đã nhận được. Tới thời điểm này, ở Phòng thiết kế Zelenodolsk dưới sự chỉ đạo của L.F.Fedoseev đã thực hiện các công việc thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu khoa học theo tàu chống ngầm nhỏ đề án 1154 “Yastreb”. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật của Hải quân, đưa ra năm 1972, đã nghiên cứu chế tạo tàu có lượng choán nước hoàn toàn gần 800 tấn và tốc độ tối đa 35 hải lý, được giới thiệu là sự phát triển tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124. Tổng công trình sư của tàu là N.A.Yakovlevski đã ủng hộ (tán thành) đề xuất của Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng về thiết kế lại đề án trong hướng chế tạo tàu tuần tra đa năng, mà theo các khả năng chiến đấu không thua các tàu nước ngoài tốt nhất lớp tàu chiến (“Oliver H.Perry” – Mỹ, “Bremen” – Đức và “Maestrale” – Italia).

Trong quá trình thiết kế, phạm vi nhiệm vụ của tàu được mở rộng thường xuyên, vũ khí được tăng cường do kết quả tiếp nhận toàn bộ các mẫu khí tài kỹ thuật hiện đại nhất và tăng các danh pháp của chúng, đi kèm với sự tăng lượng choán nước. Như, trong đề án phác họa được phê duyệt năm 1975, lượng choán nước hoàn toàn tăng lên 1500 tấn, còn tàu được phân loại thành tàu tuần tra chống ngầm, trong đề án kỹ thuật (năm 1976) – 1700 tấn, trong đề án kỹ thuật được hiệu chỉnh (năm 1979) – gần 2000 tấn, còn trong phiên bản với trực thăng – 2500 tấn. Tốc độ tối đa khi đó giảm xuống còn 27-28 hải lý. Khi bắt đầu từ giai đoạn này, các công việc được thực hiện dưới sự chỉ đạo của tổng công trình sư N.A.Yakovlevski. Bằng cách này, trong kết quả công việc 7 năm, tàu đề án 1154 gần theo lượng choán nước của tàu tuần tra đề án 1135. Năm 1981, nhiệm vụ kỹ chiến thuật mới đã được đặt ra cho Phòng thiết kế Zelenodolsk đề án 11540 – vẫn giữ số hiệu “Yastreb”. Năm 1982, đã có quyết định của Bộ Công nghiệp đóng tàu và Hải quân về việc nghiên cứu theo nhiệm vụ kỹ chiến thuật mới trong dạng tàu tuần tra đề án 1135 và 11351 do kết quả tiếp nhận các khí tài phòng không – chống ngầm mới, vô tuyến điện, thủy âm định vị, đồng thời tăng cường (bổ sung) các khả năng chống lại tàu nổi (tàu tuần tra đa năng, có nhiệm vụ chống ngầm, phòng không và chống tàu trong cụm tàu chiến, bảo vệ tàu vận tải và các đơn vị đổ bộ). Tháng 10 năm 1981, tương ứng với mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân liên qua đến sự thay đổi thành phần vũ khí (bổ sung tổ hợp tên lửa chống tàu “Uragan”), lượng choán nước của tàu được thiết kế được quyết định tăng lên 3500 tấn. Tổng công trình sư vẫn giữ lại như trước – N.A.Yakovlevski, giám sát viên chính từ Hải quân lúc đầu – thuyền trưởng hạng 2 V.Ya.Korsukov, sau đó – thuyền trưởng hạng 2 O.K.Korobkov.

Việc thiết kế đề án 11540 yêu cầu thực hiện hàng loạt các công việc thiết kế thí nghiệm và nghiên cứu khoa học, trong số đó theo sự giảm tiếng ồn dưới nước, đảm bảo chất lượng cơ động trên biển và khả năng điều khiển tốt. Lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu Liên Xô trong giai đoạn nghiên cứu nhiệm vụ kỹ chiến thuật và kèm theo nghiên cứu khoa học bởi tổng công trình sư N.A.Yakovlevski và giám sát viên chính – thuyền trưởng cấp 2 V.Ya.Korsukov đã sử dụng các kết quả nghiên cứu kinh tế quan sự nhận được trong hệ thống thiết kế tự động hóa (SAPR) “Chertezh” của cộng tác viên khoa học lâu cao cấp – thuyền trưởng cấp 3 V.I.Nikolski. Trong quá trình thiết kế đã thay đổi bố cục tàu: như tổ hợp tên lửa phòng không từ mạn được chuyển tới mũi, ăng ten đài thủy âm từ mũ chụp dưới sống được chuyển vào mũ chụp hình cầu ở mũi. Thành phần vũ khí đồng thời thay đổi từ thiết kế này tới thiết kế khác. Ban đầu trên tàu dự định lắp tổ hợp chống ngầm RPK-5 “Liven” (RBU-10000), hiệu quả của nó bị nhiều chuyên gia nghi ngờ. Nhưng cuối cùng, việc thiết kế tổ hợp đã dừng lại, còn “Yastreb” đã nhạn được thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 hiệu quả trong Hải quân (rõ ràng vì thể, thiết bị này trên tàu chỉ có một). Các sỹ quan Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng đã “chiến đấu” vì việc lắp trên tàu pháo 100mm AK-100. “Các nhà vũ trang” đã “cân nhắc” một cách kiên định (đặc biệt là các chuyên gia Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov). Tư lệnh Hải quân đã đặt dấu chấm cuối cùng cho cuộc tranh cãi. Đương nhiên là “một trăm”!
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #168 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2012, 11:59:12 pm »


Viện Hải quân số 1 đã kiên trì việc lắp trên tàu tuần tra mới thiết bị tuabin khí – diesel. Một cách công bằng, khi cho rằng giải pháp này – tối ưu nhất và “kéo” sau đó dạng thiết bị này trên các tàu mới khác. Tuy nhiên, trong phương án cuối cùng đã diễn ra sự tiếp nhận sơ đồ tuabin khí – khí theo hệ thống đề án 1135 với các động cơ hành trình và tăng lực. Việc này thực tế là khi đó không một nhà sản xuất động cơ diesel hay tuabi khí nào muốn thiết kế bộ truyền động và thiết bị trong tổ hợp. Dần dần, lượng choán nước của tàu đạt 3200 tấn. Việc này được đánh giá là tiêu cực trong khả năng đóng loạt tàu số lượng rất lớn.

Tàu đề án 11540 có kiến trúc nửa thùng với thượng tầng dày và thành nổi ở phần sau mũi tàu tương đối cao (có độ cao tương đối lớn). Toàn bộ thiết kế thân tàu được chế tạo bằng thép – lần đầu tiên sau 30 năm (tàu cuối cùng có thường tầng thép là tàu khu trục đề án 57-bis). Sự tăng cường khả năng cơ động trên biển được thực hiện nhờ các máy chống rung với bánh lái không cố định, đồng thời các sống má tàu. Các thiết bị hàng hóa khô và đảm bảo sự sống để tiếp nhận trên biển từ các tàu hỗ trợ cũng đã được tính toán.

Vũ khí tên lửa của tàu dự kiến tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” trong thành phần thiết bị 4 ống phóng, bố trí ngang trạm đo xa ở giữa tàu, tổ hợp tên lửa phòng không đa kênh tự vệ “Kinzhal” với trạm quan sát ổn định ở mũi, 2 modul chiến đấu tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” trên thượng tầng mũi, tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vodopad-NK” và 1 RBU-6000 “Zapad” để tiêu diệt tàu ngầm. Trong đó, các tên lửa tổ hợp “Vodopad-NK” được bắn từ các thiêt sbij phóng tổng hợp cố định (để bắn tên lửa chống ngầm và ngư lôi), lắp 3 thiết bị theo mỗi thành tàu. Sự mở rộng khả năng chống ngầm được tăng cường nhớ sự xuất hiện trên thành trực thăng Ka-27 đóng căn cứ thường xuyên – có hang ga để bố trí. Pháo gồm có thiết bị pháo 100mm AK-100 với đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực MR-145 “Lev”. Các khí tài phát hiện mục tiêu được giới thiệu là đài ra đa định vị ba tọa độ “Fregat-MA” với ra đa chủ động mảng pha và tổ hợp thủy âm “Zvezda-1” với ăng ten trong mũ chụp hình cầu ở mũi tàu và ăng ten lai bố trí ở mạn tàu. Sự không (kịp) chuẩn bị tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” để cung cấp cho tàu đầu tiên đã dẫn tới việc rằng tàu tuần tra sẽ bơi mà không có tên lửa chống tàu, mặc dù trên vị trí thiết bị phóng có bệ chuẩn bị sẵn, còn trong chính tàu tuần tra – các vị trí dự trữ cho các trạm chiến đấu và khí tài.

Từ khi bắt đầu xuất hiện, tàu tuần tra “Yastreb” đã nhận được số lượng lớn những yếu tố không thiện cảm như giữa các đại diện ngành công nghiệp, như Hải quân và các tổ chức thiết kế khác nhau. Việc này dẫn đến việc thiết kế tàu và sự chế tạo nó bằng kim loại bị trì hoãn (“đóng băng”) rất lớn. Thêm vào đó, 10 năm trước, đối với toàn bộ các chuyên gia đã giữ lại câu đố tại sao chương trình đóng tàu đề án 11540 mới nhất đã bắt đầu được triển khai, và mặc dù trong sự hạn chế tài chính, đã bắt đầu đóng tàu tuần tra đề án mới. Sự hợp tác cũ của các xưởng đã bị đổ vỡ, thiếu các nỗ lực chế tạo làm mới và toàn bộ trong tình trạng, khi các khả năng nâng cấp lớn của đề án 11540 hoàn toàn không đòi hỏi. Hiện nay, nhiều quan điểm nghiêng về trước hết là sự quảng bá hoặc các giải pháp khác trong việc chấp nhận thiệt hại của Hải quân khi chiều theo nghành công nghiệp: đề án càng lớn, khả năng nuôi sống thiết kế càng lớn. Ngoài ra, “Yastreb”, cũng như việc “chạy theo giá thành” cho các tàu lớn hơn, việc đóng tàu càng thuận lợi hơn cho ngành công nghiệp.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #169 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2012, 12:08:26 am »


Hình dáng thượng tầng tàu tuần tran "Neushtrashimưi" từ thành bên trái



Modul bắn tổ hợp "Kortik" trên tàu tuần tra "Neushtrashimưi"



Thượng tầng mạn tàu tuần tra "Neushtrashimưi". Nhìn thấy rõ nắp các thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu đa năng "Vodopad-NK" và tổ hợp pháo - tên lửa phòng không "Kortik"



Hình dáng trên trạm ăng ten tàu tuần tra "Neustrashimưi". Hàng trước - đài ra đa định vị điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không "Kinzhal", đằng sau đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp và đài các khí tài tác chiến điện tử
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM