Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:47:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201745 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #210 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2012, 12:03:42 am »

+ “Shkval”; số hiệu xưởng 60; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 5 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế 14 tháng 6 năm 1974; 16 tháng 7 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1978 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 26 tháng 9 năm 1978 đến 22 tháng 2 năm 1980 và từ 12 tháng 12 năm 1980 đến 18 tháng 7 năm 1985 ở xưởng số 179 ở Ust-Dvinsk trải qua trung tu; 1 tháng 10 năm 1988 loại khỏi biên ché chiến đấu, niêm cất trong dạng neo đậu lúc đầu ở Liepai, năm 1992 ở Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; sau năm 1999 loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Zarya”; số hiệu xưởng 61; 18 tháng 10 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 18 tháng 5 năm 1974; gia nhập biên chế 28 tháng 9 năm 1974; sau cuộc di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Trắng, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; năm 1982 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 11 tháng 9 năm 1986 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; từ 10 tháng 8 năm 1988 neo đậu ở vịnh Saida; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dowxl 1 tháng 9 năm 1944 giải thể.

+ “Metel”; số hiệu xưởng 62; 19 tháng 2 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad;; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 10 tháng 8 năm 1974 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Trắng để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 8 tháng 12 năm 1974; 23 tháng 10 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; năm 1982 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 28 tháng 9 năm 1990 đến 27 tháng 8 năm 1992 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyask trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 16 tháng 3 năm 1998 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể.

+ “Shtorm”; số hiệu xưởng 63; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 10 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy 3 tháng 3 năm 1975; gia nhập biên chế 15 tháng 6 năm 1975; 21 tháng 7 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1983, 1985 và 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; từ 3 tháng 3 năm 1993 ở xưởng số 33 ở Baltic để đại tu; 16 tháng 3 năm 1998 do không có tài chính đã bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể và sau đó tháo kim loại ở xưởng “Litan”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #211 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2012, 12:03:54 am »

+ “Raduga”; số hiệu xưởng 64; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 16 tháng 1 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy 20 tháng 6 năm 1975; gia nhập biên chế 1 tháng 12 năm 1975; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1983, 1985 và 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; trong giai đoạn từ 11 tháng 10 năm 1991 đến 1 tháng 10 năm 1993 ở xưởng số 33 tại Baltic trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 12 năm 1994 giải thể.

+ “Tsiklon”; số hiệu xưởng 1001; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 22 tháng 9 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng tại Vladivostoc; hạ thủy 24 tháng 5 năm 1977; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 4 tháng 7 năm 1987 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 17 tháng 1 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể và neo đậu ở hồ Bogorodskoe (Petropavlocv-Camchatca), ở đó bị chìm do các bộ phân thân đáy bị xuống cấp nặng; năm 1998 được trục vớt và sau đó tháo kim loại ở xưởng số 49.

+ “Veter”; số hiệu xưởng 69; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 2 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy 21 tháng 4 năm 1978; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1978; 23 tháng 11 năm 1978 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Trắng, gia nhập Hạm đội Phương Bắc; năm 1980 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 9 tháng 10 năm 1986 tới 27 tháng 2 năm 1987 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyask trải qua trung tu; 1 tháng 12 năm 1987 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất trong dạng neo đậu lúc đầu ở vịnh Dolgo-Zapad; từ 10 tháng 8 năm 1988 ở vịnh Saida; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1995 giải thể.

+ (*) “Aisberg”’ số hiệu xưởng 71; 14 tháng 4 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; 11 tháng 11 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hajthuyr 20 tháng 4 năm 1979; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1979; 1 tháng 12 năm 1979 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Trắng, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 20 tháng 9 năm 1989 đến 14 tháng 11 năm 1990 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyask trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei.

+ “Musson”; số hiệu xưởng số 1003; 14 tháng 7 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng tại Vladivostoc; 14 tháng 4 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 7 năm 1981; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1981; 9 tháng 2 năm 1982 gia nhập biên chế hạm đội Thái Bình Dương; 16 tháng 4 năm 1987 bị đắm ở biển Nhật Bản do trúng tên lửa chống tàu huấn luyện khi xử lý nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu (39 người hy sinh); 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #212 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2012, 12:04:17 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 610

+ hoàn toàn: 700

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 59,3 (54)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 11,8 (8,86)

+ lượng mớn nước lớn nhất: 3,02

Thiết bị năng lượng chính: diesel

+ 3 động cơ diesel M-507, tổng công suất, sức ngựa (kW): 30 000 (22 050)

3 trục; 3 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 35

+ tiết kiệm năng lượng: 12

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 4000 (12)

Thời gian hoạt động: 10 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 60 (9).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #213 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2012, 12:04:46 am »

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng KT-120-1234 cho tổ hợp tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit”: 2x3

+ tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit” (SS-N-9 “Siren”): 6

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng ZiF-123 cho tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 1x2

+ tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 20

Pháo

+ pháo 57mm AK-725: 1x2

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Titanit” (Band Stand) đồng thời để chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu

+ 1x(Peel Pair)

Các khí tài tác chiến điện tử: “Zaliv” (4 Bell Tap)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x16 thiết bị phóng PK-16

+4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” – không phải trên toàn bộ

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Titanit” (Band Stand) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Malakhit”

+ 2x(Fish Bowl) chỉ thị mục tiêu ngoài cho tổ hợp tên lửa chống tàu

+ 1x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+ 1xMR-103 “Bars” (Muff Cob) cho pháo 57mm

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: (High Pole; Square Head; Spar Stump).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #214 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:52:05 pm »

Tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm MRK-5 – Đề án 1240 “Uragan” – Lớp Sarancha


Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: không có.

Cuối những năm 1950 – đầu 1960, ở Liên Xô, nhiều chuyên gia có uy tín đã say mê một cách quá đáng các tàu với các nguyên tắc giữ vững động lực học (KDPP) khi tính toán rằng với sự hỗ trợ của nguyên tắc giữ vững động lực học sẽ thành công trong chế tạo các tàu với các tính năng chiến đấu mới một cách nguyên tắc. Sự thôi miên về tốc độ lớn là mạnh, rằng công thức sinh ra trong Chiến tranh Thế giới thứ hai đã bị lãng quên: “không thể chạy thoát khỏi máy bay”. Họ cho rằng, để giải quyết các nhiệm vụ đổ bộ, chống ngầm và tấn công, tốc độ cao đạt được bởi sự giữ vững nguyên tắc động lực sẽ mang tới hiệu quả đáng kể và ở thời điểm đó, ít người nghi ngờ về điều này.

Phù hợp với đó, các công việc về tàu tên lửa nhỏ và xuồng máy tên lửa đã được thực hiện theo ba hướng chính: các tàu cánh ngầm (KPK); các tàu trên đệm không khí (KVP); các tàu – thủy phi cơ (KEP). Các công việc theo toàn bộ các hướng này thực tế đã được bắt đầu một cách đồng thời từ cuối những năm 50.

Các kết quả nhận được nhanh chóng hơn cả là theo tàu cánh ngầm, bởi vì các tàu này ở một số nước đã được sản xuất. Các cánh ngầm được tiếp nhận trên chúng có thể phân chia thành ba loại chính:

+ bề mặt nước giao chéo, có sự tự ổn định do tính toán thay đổi lực nâng khi thay đổi diện tích ngập nước của chúng

+ (bề mặt) ngập nước thấp (nông), có sự tự ổn định do tính toán thay đổi lực nâng khỏi ảnh hưởng (tác động) bề mặt nước

+ (bề mặt) ngập nước sâu với sự ổn định bắt buộc (cưỡng bức) do tính toán tiếp nhận hệ thống điều khiển lực nâng của chúng (AUPK).

Hai mẫu thiết bị cánh đầu tiên được tiếp nhận rộng rãi trong ngành đóng tàu quân sự và thế giới trong những năm 1960 và 1970, tuy nhiên, các tàu cánh ngầm này không có khả năng đi biển đảm bảo yêu cầu và cùng với đó, không nhận được sự phổ biến tiếp theo. Sự tiếp nhận chính của tàu cánh ngầm với bề mặt ngập nước thấp và bề mặt nước bắt chéo bằng cánh trong hàng hải dân sự được sử dụng trên các tuyến giao thông trên sông, hồ và biển gần bờ: đây là các tàu dân sư Liên Xô lớp “Raketa” và “Kometa”, xuồng máy Thụy Điển “Supramar”, xuồng máy quân sự, đã được đóng ở Đức từ trong giai đoan Chiến tranh Thế giới thứ hai (VS-6, VS-7, TS-6, VS-8), các xuồng máy biên phòng Liên Xô đề án 125-A…

Sự quan tâm lớn hơn cả của các chuyên gia quân sự nhờ khả năng duy trì tốc độ cao khi song biển lớn đáng kể là các tàu trên hệ thống điều khiển cánh đồng tự động. Trong những năm 1960 – 1970, ở nước ngoài, chủ yếu là Mỹ, đã bắt đầu thực hiện các nghiên cứu rộng rãi về xử lý di chuyển trên các cánh ngầm ngập nước sâu với sự tiếp nhận hệ thống điều khiển tự động.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #215 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:52:38 pm »

Tháng 7 năm 1963, theo sáng của Phòng thiết kế số 5 (hiện nay là Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz”) với sự tham gia của các chuyên gia Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ quốc phòng, Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov, Viện khí động lực trung ương, Viện hàng không Moskva và Viện nghiên cứu khoa học “Elektropribor” đã cùng tiến hành cuộc hội thảo khoa học, làm việc về các vấn đề hệ thống điều khiển cánh ngầm tự động. Trong cuộc hội thảo này đã xác định danh sách và mức độ tham gia của các tổ chức khác nhau trong các cuộc thí nghiệm, liên quan với chế tạo tàu chiến với hệ thống điều khiển cánh ngầm tự động. Sau cuộc hội thảo, bằng kết quả nhận được, tương ứng với Quyết định của Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu, tháng 2 năm 1964, Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz” đã được giao nhiệm vụ thiết kế tàu thí nghiệm trên hệ thống điều khiển cánh ngầm tự động dưới mã số “Uragan”. Tổng công trình sư của đề án là V.M.Burlakov, giám sát viên chính từ Hải quân – A.A.Ostashko (theo các tài liệu khác – Thuyền trưởng cấp 1 A.I.Kosorukov). Ban đầu, đề án được thiết kế như phiên bản tàu tên lửa loại nhỏ “Ovod” (đề án 1234) và mang số hiệu 1234-AUPK. Tuy nhiên, tháng 11 năm 1966, liên quan với sự khác biệt đáng kể về nhiệm vụ kỹ chiến thuật chính so với đề án 1234, nhó nhận số hiệu mới 1240.

Đề án rất phức tạp và số lượng lớn các vấn đề lần đầu phải giải quyết. Cũng trong năm 1964, đã tiếp nhận quyết định của Bộ Công nghiệp đóng tàu về thiết kế tàu thí nghiệm của Hải quân phiên bản dân sự trên hệ thống điều khiển cánh ngầm tự đọng “Typhoon” (đề án 1233). Bởi vì nhà thiết kế thuyền “Typhoon” cũng được giao cho Phòng thiết kế “Almaz”, thời gian thiết kế nó nhanh hơn so với “Uragan”, ban đầu dự kiến xử lý các câu hỏi khí động lực của các cánh ngầm, hình dáng than, nguyên tắc truyền động công suất từ động cơ tới động cơ, xử lý hệ thống điều khiển tự động cánh ngầm trên “Typhoon”, khi tính toán mô hình bán thiên tàu cánh ngầm “Urgan”. Trong mức độ cao nhất, việc này không làm được thành công, tuy nhiên bộ phận các câu hỏi được xử lý trong đề án 1233, như hệ thống điều khiển tự động cánh ngầm, các bộ truyền động góc công suất từ động cơ tới bánh lái chân vịt, hệ thống thủy lưc…. đã chỉ ra có ích đối với thiết kế tàu cánh ngầm Uragan.

Do đề án 1240 là tàu chiến, trên tàu, theo nhiệm vụ kỹ thuật được giao cho Viện nghiên cứu khoa học trung ương thuộc Bộ quốc phòng, cần thiết bị trí các loại vũ khí pháo, tên lửa (chống tàu và phòng không) hiện đại (vào thời kỳ đó), đồng thời trang bị vô tuyến điện. Vũ khí gồm có 2 thiết bị phóng đôi tên lửa chống tàu “Malakhit”, với tổ hợp chỉ thị mục tiêu “Dubrava”. Tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” và pháo tự động 6 nòng 30mm AK-630M với đài ra đa định vị điều khiển “Vưmpel”. Toàn bộ hàng loạt với các yêu cầu tầm bơi xa, tốc độ di chuyển và khả năng cơ động trên biển đã dẫn tới rằng lượng choán nước hoàn toàn theo thiết kế của tàu đã hơn 400 tấn. Các tàu với sự tự động điều khiển cánh ngầm có lượng choán nước như vậy trong lịch sử ngành đóng tàu thế giới thực tế còn chưa có.

Các tính toán đã chỉ ra rằng để đảm bảo mở chế độ hoạt động trên cánh ngầm yêu cầu công suất động cơ lớn đáng kể, không thể thực hiện (không thể chấp nhận) được đối với bộ truyền động góc thường tương tự của tàu cánh ngầm “Typhoon”. Vì thế đối với tàu tương đối không lớn này, lần đầu tiên đã thiết kế và tiếp nhận các động cơ tuabin khí M-10 (trên cơ sở động cơ hàng không NK-12) công suất 18 000 sức ngựa, còn để đảm bảo truyền động công suất – truyền động góc khác thường với sự chia đôi công suất trên các chân vịt kéo và đẩy bố trí trên một khoang.

Trong mục đích đơn giản hóa tối đa khả năng của tàu, Phòng thiết kế Hải quân trung ương đã thực hiện tiếp nhận hàng loạt các giải pháp phi truyền thống và các thiết kế mới. Như, trong vai trò vật liệu than mới đã sử dụng vật liệu mới theo thời gian đó – hợp kim magie-nhôm có độ cứng cao AMg-62T1, không yêu cầu nhiệt luyện sau khi hàn, từ đó đặc biệt đối với tàu này đã chế tạo các tấm ép theo công nghệ hàng không. Thiết bị cánh được chế tạo từ hợp kim titan 48OTZV (các cánh titan trên tàu cánh ngầm nước ngoài không được tiếp nhận). Các hệ thống tàu và ống xả nước được chế tạo từ hợp kim titan, ống dẫn nước ngọt và ống quạt – từ AMg. Để giảm khối lượng các dây cáp và thiết bị điện, trên tàu lần đầu tiên tiếp nhận mạng điện mang theo với dòng điện ba pha 380V và tần số 400Hz. Đặc biệt đối với tàu đã thiết kế nguồn năng lượng điện được đơn giản hóa (làm nhẹ) – các máy phát điện tuabin khí GTG-100.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #216 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:53:38 pm »

Đặc biệt đáng chú ý, tổ hợp lớn các công việc theo lựa chọn, xử lý và bố trí trên tàu các thiết bị cánh và hệ thống điều khiển cánh ngầm. Đã tiếp nhận hệ thống thiết bị cánh mũi mới, có ngoài các cánh có độ ngập nước sâu và các bộ phận cắt chéo bề mặt nước, cho phép “bảo hiểm” hệ thống tự động và giảm xác suất các tình huống tai nạn khi hệ thống gặp sự cố bất ngờ trong thời gian tàu di chuyển bằng cánh ngầm. Tới thời điểm đó, các tính toán đã chỉ ra rằng đối với sự ổn định khi di chuyển cho tàu có lượng choán nước này trên sóng là không đủ lực từ các cánh tà. Vì thế đã tiếp nhận giải pháp thiết kế khác thường – tiếp nhận hoàn toàn các cánh ngầm quay, cho phép tăng một số lần lực sử dụng để ổn định khi di chuyển.

Để kiểm tra các hệ thống thiết kế mới này, đồng thời nâng cấp hoàn toàn hệ thống khí động lực của tàu tương lai đã xây dựng mô hình tự hành LK-12, các thí nghiệm của nó đã chứng minh tính chính xác của các giải pháp đã lựa chọn.

Nhưng các vấn đề mà với nó, đã diễn ra sự va chạm cho nhà thiết kế khi thiết kế thiết bị cánh, có vẻ như không chỉ các câu hỏi về hệ thống khí động lực. Lượng mớn nước của tàu cùng với cánh ngầm là hơn 8 mét, vì thế, với mục tiêu tăng cường sự định chuẩn, đảm bảo khả năng di chuyển của tàu tới bến đỗ ở các khu vực nước nông nhất, đồng thời cho khả năng xem xét và sửa chữa các thiết bị cánh mà không phải đưa tàu lên ụ, cần thiết giải quyết vấn đề nâng chúng – như cánh ngầm mũi cũng như mạn tàu, có khối lượng tương ứng 17 và 23 tấn. Khi đó, cần thiết các cánh ngầm mạn tàu thực hiện hoạt động trên các bánh lái của tuyến trục, không xâm phạm tuyến hệ thống thủy lực, dầu, nước xả từ thân tàu tới các cánh. Bởi vì khi nâng các thiết bị cánh, tàu cần thiết di chuyển, ngoài ra, với sự tăng đáng kể khi nâng cánh bằng bộ hứng gió (buồm) đã tính toán thiết bị năng lượng hỗ trợ, gồm 2 tổ hợp DRA-211 công suất mỗi tổ hợp 1100 sức ngựa và 2 động cơ phụt nước. Bằng thiết bị này, tàu có thể di chuyển như nâng cũng như hạ các thiết bị cánh với tốc độ 8 hải lý và thực hiện cơ động trong các điều kiện khó khăn.

Khi tính toán rằng bằng các bộ dẫn động của hệ thống và thiết bị nhiều số trên tàu đề án 1240 đã tiếp nhận các xi lanh thủy lực, trên đó sử dụng hệ thống thủy lực rất lớn, ngoài ra, để đảm bảo cần thiết hoạt động nhanh của các cánh ngầm và cánh tà, áp suất trong các hệ thống thủy lực lần đầu tiên lên đến 200 atm. Đồng thời lần đầu tiên đối với tàu có lượng choán nước này, liên quan với độ bão hòa năng lượng cao và cần thiết tiếp nhận các giải pháp linh hoạt khi tốc độ di chuyển cao, đã thiết kế hệ thống điều khiển tự động hòa thiết bị năng lượng chính và hỗ trợ với sự kiểm soát tập trung và bằng tài liệu chỉnh lý các tham số kỹ thuật chính (hệ thống “Dvina”).

Sự phức tạp và bão hòa của tàu bằng các mẫu vũ khí và khí tài kỹ thuật mới nhất, đồng thời hướng tới (trong mục đích giảm khối lượng) giảm tối đa số lượng thủy thủ đoàn đã ảnh hưởng tới nguyên tắc thành lập thủy thủ đoàn. Yêu cầu cao, theo so sánh với các tàu có lượng choán nước tương tự, trình độ cá nhân, liên quan với đó, đã thực hiện tăng cường tỷ lệ sỹ quan và quân nhân nghĩa vụ cao cấp. Ngoài ra, trong mục đích thực hiện hiệu quả các công việc xem xét, sửa chữa và thao tác sau khi hoạt động đã dẫn tới thành lập đội bảo đảm kỹ thuật trên bờ, đóng trên ụ nổi được xây đặc biệt dành cho “Uragan”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #217 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:54:12 pm »

Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu, thực hiện thí nghiệm và bàn giao tàu tên lửa loại nhỏ thí nghiệm đề án 1240 “Uragan” được thực hiện ở xưởng Hải quân Neva thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu, tới năm 1970, gia nhập xưởng Primorsk tại Leningrad. Để thực hiện việc đóng tàu trên xưởng đã hoàn thành tái cấu trúc hàng loạt các bộ phận khác, như đóng nhà triền mới, đồng thời thực hiện hàng loạt các công việc trang bị công nghệ, trong đó có xây dựng thiết bị hạ thủy tàu.

Tàu duy nhất thuộc đề án 1240, nhận tên gọi chiến thuật MRK-5, được khởi công, sau đó hạ thủy năm 1973. Việc đóng tiếp diễn ra khó khăn và lâu dài, chỉ tới năm 1976, nó mới được đưa tới các thí nghiệm, còn gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977. Ở phương Tây, tàu tên lửa loại nhỏ này nhận tên gọi lớp Sarancha.

Tình hình đến năm 2008

Tàu tên lửa loại nhỏ “Uragan” được đóng năm 1976, và sau khi gia nhập biên chế năm 1977, hoàn thành chương trình thí nghiệm đã di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Đẹn, ở đó, trong thời gian vài năm đã trải qua khai thác sử dụng thí nghiệm. Dự kiến sử dụng tàu như tàu thí nghiệm và chỉ theo các kết quả thí nghiệm sẽ tiếp nhận việc chế tạo hàng loạt tàu cánh ngầm. Tàu ên lửa loại nhỏ đã chứng tỏ khả năng cơ động trên biển tốt và tốc độ cao – 60 hải lý.

Việc chế tạo tàu này là thành công lớn của Liên Xô trong lĩnh vực đóng tàu với nguyên tắc hoạt động mới. Tuy nhiên khối lượng lớn các vấn đề phức tạp tập trung trên 1 con tàu không thể không ảnh hưởng tới số phận của nó. Sự phức tạp trong bảo dưỡng kỹ thuật, việc xử lý không đảm bảo các mẫu khí tài kỹ thuật riêng đã hạn chế sử dụng nó trong biên chế chiến đấu của Hải quân. Hệ thống cánh với sự điều khiển tự động hóa đã chỉ ra rất cồng kềnh vào không đáng tin cậy. Năm 1990, tàu bị loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó bị tháo kim loại.

Các tàu lớp này sau đó ở Liên Xô không nhận được sự phát triển tiếp.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ MRK-5; số hiệu xưởng -; khởi công năm 1973 ở xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy năm 1973; đưa vào thí nghiệm năm 1976; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977; sau khi kết thúc chương trình thí nghiệm đã di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Đen; 24 tháng 11 năm 1979 tới Sevastopol và gia nhập biên chế tiểu đoàn 116 tàu tên lửa thuộc lữ đoàn độc lập số 41 thuộc Hạm đội Biển Đen; năm 1990 bị loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; năm 1992 bị đắm sau đám cháy ở vịnh Strelets; sau đó được trục vớt và tháo kim loại ở Sevastopol.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #218 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:59:14 pm »

Bản vẽ thiết kế tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm đề án 1240




Bố cục các khoang tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm đề án 1240

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #219 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:21 am »






Tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm MRK-5 đề án 1240 gần bến đỗ ở Sevastopol; 6 tháng 9 năm 1990
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM