Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:44:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201741 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #250 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:08:58 am »

Các tàu chống ngầm nhỏ lớp MPK-15 – Đề án 204 – Lớp Poti


Tổng số tàu đã đóng: 64

Các biến thể

+ 204 – đề án cơ sở tàu chống ngầm loại nhỏ

+ 204-E – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Rumani với RBU-2500 (1967)

Sự phát triển tiếp theo của tàu nhỏ chống ngầm đề án 201 là sự chế tạo tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế nó được đưa ra vào năm 1956 cho Phòng thiết kế Zelenodolsk. Tổng công trình sư của đề án này là A.V.Kunakhovich, còn giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 2 N.D.Kondratenko. Theo so sánh, đề án này với đề án 201 lớn hơn về lượng choán nước tiêu chuẩn – 440 tấn, vũ khí của tàu chống ngầm loại nhỏ được tăng cường đáng kể.

Tàu có thiết bị năng lượng khác thường – bánh lái chân vịt, quay bằng các động cơ diesel M-504 chứa các ống với vòi phun, không khí được thổi vào đó bằng 2 máy nén tuabin khí độc lập D-2K công suất 15 000 sức ngựa, tạo thành lực kéo bổ sung. Chỉ dưới (bằng) các động cơ diesel, tốc độ là 17,5 hải lý, còn khi mở các máy nén tuabin khí, tốc độ tăng lên gấp đôi – 35 hải lý. Các động cơ kiểu tương tự được áp dụng trên tàu tuần tra đề án 35. Nhưng, như các chuyên gia đã nhấn mạnh, công suất tiêu thụ đủ cho hoạt động với tốc độ lớn với sơ đồ thiết bị năng lượng chính thường. Ngoài ra, thiết bị này đã chỉ ra là có tiếng ồn và độ phức tạp lớn trong khai thác sử dụng và không tin cậy. Mặc dù vậy, tàu đã được đóng với loạt lớn (hơn 60 tàu), còn các nhà chế tạo nó được tặng giải thưởng Lenin.

Ban đầu, nhiều ý kiến cho rằng B.K.Ilinski là nhà sáng chế thiết bị năng lượng khác thường – máy nén tuabin khí GTK-D2, tuy nhiên, trong những năm 1990 đã xuất hiện các nhà sáng chế chính thức của thiết bị năng lượng đặc biệt này. Việc chế tạo nó đã được bắt đầu từ năm 1946 sau một trong số các cuộc họp với Stalin, nơi các câu hỏi về Hải quân đã được thảo luận và cụ thể là câu hỏi về tốc độ không đạt yêu cầu (không đủ) của các tàu săn ngầm lớn và nhỏ của Liên Xô. Câu hỏi này đặc biệt thích hợp trong thông tin tình báo nhận được về các hoạt động của Mỹ trên tàu ngầm với thiết bị năng lượng hạt nhân. Cần phải tìm ra giải pháp mới nào đó. Sự hỗ trợ trong việc tìm kiếm giải pháp này để tăng cường hiệu quả có sự tham gia của cơ quan quyền lực tối cao NKVD (Dân ủy Nội vụ). Rõ rang, các cộng tác viên của họ đã nhanh chóng tìm trên Khoa vật lý Viện Hàng không Moskva được lãnh đạo bởi K.A.Putilov nhóm đứng đầu với A.V.Volkov làm việc chế tạo các động cơ phản lực cho tàu. Trong khoảng 10 ngày đã tổ chức phòng thí nghiệm với sự đứng đầu của giáo sư K.A.Putilov. Tuy nhiên, không đạt được kết quả nhanh chóng. Chỉ vào đầu những năm 1950, đã thực hiện những thí nghiệm ngoài trời đầu tiên và xuất hiện khả năng bắt đầu các công việc trên thiết bị năng lượng cho tàu chống ngầm nhỏ đề án 204. Năm 1951, Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Krưlov, như tổ chức đầu tiên (hàng đầu) thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu trong các câu hỏi đảm bảo khoa học của ngành đóng tàu, thành công trong giai đoạn kết thúc các công việc được thực hiện bởi một trong số những người lãnh đạo hàng đầu mà đại diện là B.K.Ilinski – trở thành người tiếp nhận sau khi K.A.Putilov mất và nắm bắt toàn bộ các thành quả của người tiền nhiệm.

Vũ khí chống ngầm của tàu chống ngầm nhỏ đề án 204 gồm có 4 thiết bị ngư lôi 1 ống phóng 400mm để bắn các ngư lôi chống ngầm SET-40 và 2 thiết bị RBU-6000 (trên 2 tàu đầu tiên lắp RBU-2500 cũ). Pháo gồm có 1 thiết bị pháo nòng đôi tự động 57mm AK-725 lắp trên tháp pháo, bố trí giữa tàu (tren 2 tàu đầu tiên – thiết bị mở ZiF-31) với đài ra đa định vị điều khiển “Bars”. Sơ đồ bố trí pháo không thành công này được cho rằng ở mũi tàu, vị trí đã bị tận dụng cho RBU-6000, còn ở mạn tàu – các thiết bị tiếp nhận không khí của thiết bị năng lượng chính.

Việc chiếu sáng (làm rõ) bối cánh trên mặt nước được thực hiện với sự hỗ trợ của ra đa định vị “Rubka”, còn dưới nước – với sự hỗ trợ của đài thủy âm “Hercules-2M”. Đồng thời có tổ hợp tác chiến điện tử “Bizan-4B”.

Ở phương Tây, các tàu chống ngầm nhỏ số lượng lớn của Liên Xô được gọi là “Lớp Poti”. Nhưng đã nhận ra rằng, các tàu đề án 204 được bàn giao cho Hải quân trong giai đoạn phát triển nhanh các khả năng chiến đấu của tàu ngầm và không quân và trong quá trình đóng, các tàu này đã lạc hậu rất mạnh. Vì thế, Tư lệnh Hải quân đã đưa ra mệnh lệnh bắt đầu thiết kế tàu chống ngầm mới với các khả năng chống ngầm được tăng cường (quyết định bố trí tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ) và đài thủy âm mạnh hơn đáng kể. Theo quan điểm của ông, việc này là “con ngựa làm việc của Hải quân” – tàu chống ngầm chính hoạt động ở khu vực biển gần và gần bờ, như sự phát triển và thay thế tàu chống ngầm nhỏ đề án 204. Tàu mới nhận số hiệu đề án 1124.

Các biến thể

Ba tàu trong lớp này được đóng trong những năm 1966-67 theo đề án xuất khẩu 204-E. Trên tàu lắp các thiết bị RBU-2500 cũ, còn một số hệ thống chiến đấu được lắp trong dạng giản tiện. Năm 1970, các tàu này được chuyển cho Hải quân Rumani.

Chương trình đóng tàu

Toàn bộ trên ba xưởng từ năm 1960 đến 1968 đã đóng 64 tàu đề án 204 (31 – xưởng mang tên Gorki ở Zelenodolsk; 25 – “Zaliv” ở Kerch; 11 ở xưởng Khabarovsk). Trong biên chế Hải quân, 3 tàu chống ngầm nhỏ năm 1975 được chuyển cho Hải quân Bulgaria, còn 3 tàu chống ngầm nhỏ được đóng trong năm 1966-67, theo đề án xuất khẩu 204-E năm 1970, được chuyển cho Rumani.

Tình hình đến năm 2007

Các tàu đề án 204 đã phục vụ trong toàn bộ 4 Hạm đội Liên Xô: Biển Đen – 17; Thái Bình Dương – 11; Baltic – 22; Phương Bắc – 11. Giữa những năm 1980 – đầu 1990, toàn bộ chúng bị loại khỏi biên chế, 1 số trở thành tàu thí nghiệm, 1 số - tàu huấn luyện.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #251 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:09:57 am »


Bố trí vũ khí trên tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204

1. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

2. Mũ chụp di động của đài thủy âm “Hercules-2M”

3. Ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung “Rubka”

4. Ăng ten đài ra đa định vị đạo hàng

5. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo “Bars”

6. Thiết bị pháo 2 nòng 57mm AK-725

7. Các thiết bị ngư lôi 1 ống phóng 400mm để bắn các ngư lôi chống ngầm SET-40
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #252 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:11:08 am »

Bản vẽ, hình vẽ màu tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #253 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:11:42 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ MPK-15; số hiệu xưởng 801; 15 tháng 10 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 11 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; hạ thủy 30 tháng 3 năm 1960; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1960; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; là tàu đầu tiên trong đề án; 5 tháng 6 năm 1979 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại thành tàu chống ngầm loại nhỏ huấn luyện; 31 tháng 5 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1984 giải thể.

+ MPK-16; số hiệu xưởng 802; 15 tháng 10 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 1 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1960 gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1960; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 21 tháng 5 năm 1981 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1981 giải thể.

+ MPK-72; số hiệu xưởng 803; 12 tháng 8 năm 1959 khởi công trên xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 11 tháng 1 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1971 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ MPK-75; số hiệu xưởng 804; 18 tháng 10 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 11 tháng 1 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1961; gia nhập biên chế 26 tháng 10 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 23 tháng 1 năm 1984 đến 22 tháng 5 năm 1986 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordozhonikidze tại Sevastopol trải qua đại tu; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân; 4 tháng 10 năm 1988 chuyển tới trường Hải quân Sevastopol để sử dụng trong mục đích huấn luyện.

+ MPK-88; số hiệu xưởng 805; 22 tháng 3 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 7 tháng 4 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 8 năm 1961; gia nhập biên chế 19 tháng 11 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 30 tháng 10 năm 1966 loại khỏi biên chế chiến đấu, neo đậu ở Ochakovo; 1 tháng 8 năm 1971 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 25 tháng 6 năm 1985 loại khỏi biên chế Hải quân; 4 tháng 7 năm 1985 chuyển cho trưởng Hải quân Sevastopol để sử dụng trong các mục đích huấn luyện; 1 tháng 10 năm 1985 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #254 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:11:57 am »

+ MPK-148; số hiệu xưởng 806; 22 tháng 7 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; hạ thủy 18 tháng 1 năm 1962; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1971 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 26 tháng 5 năm 1983 loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho nước ngoài.

+ MPK-58; số hiệu xưởng 807; 10 tháng 2 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1962; gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 21 tháng 9 năm 1978 đến 22 tháng 5 năm 1986 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordonikidze ở Sevastopol trải qua đại tu; 1 tháng 10 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 thagns 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ MPK-77; số hiệu xưởng 808; 3 tháng 5 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 13 tháng 10 năm 1962; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 30 tháng 10 năm 1966 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 17 tháng 12 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Hải quân Bulgaria.

+ MPK-85; số hiệu xưởng 809; 7 tháng 7 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 22 tháng 4 năm 1963; gia nhập biên chế 29 tháng 2 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới Baltic, gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể.

+ MPK-4; số hiệu xưởng 810; 3 tháng 10 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 31 tháng 5 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1963; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1963’ 18 tháng 6 năm 1964 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy từ biển Đen tới Baltic, gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; trong giai đoạn từ 21 tháng 12 năm 1967 đến 15 tháng 2 năm 1968 ở xưởng số 29 “Tosmare” ở Liepai trải qua trung tu; 1 tháng 10 năm 1972 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk (Daugavriva); 1 tháng 8 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Riga.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #255 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:12:13 am »

+ MPK-10; số hiệu xưởng 811; 23 tháng 2 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng 532 mang tên Butoma ở Kerch; 1 tháng 7 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 1 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1964; 8 tháng 7 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.

+ MPK-62; từ 1 tháng 8 năm 1986 là OS-573; số hiệu xưởng 812; 29 tháng 1 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; 19 tháng 2 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; hạ thủy 3 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 20 tháng 10 năm 1964; 26 tháng 10 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 8 tháng 4 năm 1983 đến 7 tháng 3 năm 1986 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze ở Sevastopol trải qua đại tu; sau đó, 10 tháng 7 năm 1986 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu thí nghiệm; 12 tháng 7 năm 1989 loại khỏi danh sách Hải quân và bán cho câu lạc bộ thủy thủ trẻ ở Dnepropetropavlov để sử dụng trong các mục đích huấn luyện.

+ MPK-68; số hiệu xưởng 813; 8 tháng 8 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 3 tháng 3 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 23 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ MPK-38; số hiệu xưởng 814; 29 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 12 tháng 8 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1964; gia nhập biên chế 31 tháng 5 năm 1965; 24 tháng 6 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 4 tháng 6 năm 1982 đến 1 tháng 1 năm 1985 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua đại tu, sau đó bị loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó bị xẻ kim loại ở Sevastopol.

+ MPK-19; số hiệu xưởng 815; 31 tháng 12 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân, hạ thủy 23 tháng 7 năm 1965; gia nhập biên ché 28 tháng 12 năm 1965; 15 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 10 tháng 2 đến 17 tháng 6 năm 1981 và 17 tháng 2 năm 1985 đến 1 tháng 8 năm 1986 ở “Sevmorezavod” trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #256 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:12:35 am »

+ MPK-59; số hiệu xưởng 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 3 năm 1965 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1965; gia nhập biên chế 28 tháng 3 năm 1966; 18 tháng 4 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 30 tháng 10 năm 1966 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 14 tháng 10 năm 1975 loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Hải quân Bulgaria.

+ MPK-100 số hiệu xưởng 817; 9 tháng 7 năm 1965 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 12 tháng 3 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 4 năm 1966; gia nhập biên chế 5 tháng 9 năm 1966; 15 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 31 tháng 1 năm 1975 đến 26 tháng 6 năm 1976 trên xưởng ở Kerch và từ 16 tháng 12 năm 1983 đến 22 tháng 5 năm 1986 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể.

+ MPK-109; số hiệu xưởng 818; 4 tháng 11 năm 1965 khởi công trên xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 20 tháng 4 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1966; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1966; 7 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1973 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; trong giai đoạn từ 24 tháng 8 năm 1981 đến 15 tháng 9 năm 1982 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua đại tu, sau đó bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Hải quân Bulgaria.

+ MPK-106; số hiệu xưởng 819; 30 tháng 8 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng số 532 tại Butoma tại Kerch theo đề án 204-E; hạ thủy 21 tháng 3 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1967; bán cho hải quân Rumani.

+ MPK-125; số hiệu xưởng 820; 28 tháng 2 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” mang tên Butoma ở Kerch theo đề án 204-E; hạ thủy 29 tháng 6 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1967; bán cho Hải quân Rumani.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #257 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:12:58 am »

+ MPK-128; số hiệu xưởng 821; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; 18 tháng 9 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” mang tên Butoma ở Kerch; hạ thủy 10 tháng 1 năm 1968; gia nhập biên chế 30 tháng 4 năm 1968; 23 tháng 5 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 14 tháng 11 năm 1975 đến 1 tháng 10 năm 1979 ở xưởng “Công nhân cơ khí đỏ” mang tên Gorki tại Zelenodolsk trải qua đại tu; sau đó bị loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ.

+ MPK-?; số hiệu xưởng 822; khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” mang tên Butoma ở Kerch theo đề án 204-E năm 1967; gia nhập biên chế năm 1967; bán cho Hải quân Rumani.

+ MPK-169; số hiệu xưởng 501; 15 tháng 4 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 7 tháng 4 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 15 tháng 10 năm 1961; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 27 tháng 6 năm 1974 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 28 tháng 5 năm 1980 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1980 giải thể và nhanh chóng đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Rakovaia.

+ MPK-103; số hiệu xưởng 502; 3 tháng 3 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 9 năm 1962 gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 27 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 5 tháng 7 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 8 năm 1982 giải thể và nhanh chóng đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Rakovaia.

+ MPK-107; từ 12 tháng 8 năm 1983 là SM-450; số hiệu xưởng 503; 31 tháng 7 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Khabarovsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 5 năm 1963; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 20 tháng 6 năm 1983 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí, cải tạo thành tàu mục tiêu để bảo đảm thực hiện bắn ở vịnh Razboinik trong dạng neo đậu; 19 tháng 8 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ; 30 tháng 11 năm 1988 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #258 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:05 am »

+ MPK-1; số hiệu xưởng 504; 15 tháng 12 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Khabarovsk; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 7 năm 1963; gia nhập biên chế 27 tháng 10 năm 1964; 20 tháng 11 anwm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 5 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1984 giải thể.

+ MPK-17; số hiệu xưởng 505; 8 tháng 10 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 12 tháng 8 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 18 tháng 7 năm 1964; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1965; 21 tháng 10 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 6 tháng 11 năm 1967 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 25 tháng 6 năm 1985 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1985 giải thể.

+ MPK-20; từ 12 tháng 8 năm 1983 là SM-448; số hiệu xưởng 506; 20 tháng 11 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Khabarovsk; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1965; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1965; 15 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 1 tháng 7 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Ussuri; 20 tháng 6 năm 1983 tháo niêm cất, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu để đảm bảo huấn luyện bắn; 19 tháng 8 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ; 30 tháng 11 năm 1988 giải thể và neo đậu ở vịnh Razboinik.

+ MPK-111; số hiệu xưởng 507; 30 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Khabarovsk; 26 tháng 1 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 4 năm 1966; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1966; 17 tháng 10 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 16 tháng 5 năm 1968 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1988 giải thể và nhanh chóng đưa tới khu vực bãi cạn ở vịnh Rakovaia.

+ MPK-112; số hiệu xưởng 508; 24 tháng 9 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 20 tháng 4 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 15 tháng 7 năm 1966; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1966; 14 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 17 tháng 8 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1984 giải thể và nhanh chóng đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Rakovaia.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #259 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:25 am »

+ MPK-114; số hiệu xưởng 509; 25 tháng 9 năm 1965 khởi công trên ụ xưởng 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 4 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1967; 13 tháng 10 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể.

+ MPK-134; số hiệu xưởng 510; 25 tháng 1 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 7 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1967; 26 tháng 12 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 1 tháng 7 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1986 giải thể.

+ MPK-136; số hiệu xưởng 511; 25 tháng 8 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng ở Khabarovsk số 638 mang tên Kirov; hạ thủy 12 tháng 10 năm 1967; 12 tháng 1 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1987; 11 tháng 9 năm 1968 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và nhanh chóng đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Racovaia.

+ MPK-56; số hiệu xưởng 101; 22 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; 23 tháng 10 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; hạ thủy 7 tháng 4 năm 1961; mùa hè năm 1961 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 18 tháng 10 năm 1973 đến 24 tháng 4 năm 1974 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakov trải qua trung tu; 5 tháng 6 năm 1979 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1979 giải thể và tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-79; số hiệu xưởng 102; 13 tháng 2 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; 19 tháng 8 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 340 “Công nhân cơ khí đỏ” mang tên Gorki tại Zelenodolsk thuộc Cộng hòa Xô viết Tartastan; hạ thủy 7 tháng 6 năm 1961 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 3 tháng 9 năm 1974 đến 6 tháng 1 năm 1975 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyankovo trải qua trung tu; 31 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM