Các tàu chống ngầm nhỏ lớp MPK-15 – Đề án 204 – Lớp Poti
Tổng số tàu đã đóng: 64
Các biến thể
+ 204 – đề án cơ sở tàu chống ngầm loại nhỏ
+ 204-E – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Rumani với RBU-2500 (1967)
Sự phát triển tiếp theo của tàu nhỏ chống ngầm đề án 201 là sự chế tạo tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế nó được đưa ra vào năm 1956 cho Phòng thiết kế Zelenodolsk. Tổng công trình sư của đề án này là A.V.Kunakhovich, còn giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 2 N.D.Kondratenko. Theo so sánh, đề án này với đề án 201 lớn hơn về lượng choán nước tiêu chuẩn – 440 tấn, vũ khí của tàu chống ngầm loại nhỏ được tăng cường đáng kể.
Tàu có thiết bị năng lượng khác thường – bánh lái chân vịt, quay bằng các động cơ diesel M-504 chứa các ống với vòi phun, không khí được thổi vào đó bằng 2 máy nén tuabin khí độc lập D-2K công suất 15 000 sức ngựa, tạo thành lực kéo bổ sung. Chỉ dưới (bằng) các động cơ diesel, tốc độ là 17,5 hải lý, còn khi mở các máy nén tuabin khí, tốc độ tăng lên gấp đôi – 35 hải lý. Các động cơ kiểu tương tự được áp dụng trên tàu tuần tra đề án 35. Nhưng, như các chuyên gia đã nhấn mạnh, công suất tiêu thụ đủ cho hoạt động với tốc độ lớn với sơ đồ thiết bị năng lượng chính thường. Ngoài ra, thiết bị này đã chỉ ra là có tiếng ồn và độ phức tạp lớn trong khai thác sử dụng và không tin cậy. Mặc dù vậy, tàu đã được đóng với loạt lớn (hơn 60 tàu), còn các nhà chế tạo nó được tặng giải thưởng Lenin.
Ban đầu, nhiều ý kiến cho rằng B.K.Ilinski là nhà sáng chế thiết bị năng lượng khác thường – máy nén tuabin khí GTK-D2, tuy nhiên, trong những năm 1990 đã xuất hiện các nhà sáng chế chính thức của thiết bị năng lượng đặc biệt này. Việc chế tạo nó đã được bắt đầu từ năm 1946 sau một trong số các cuộc họp với Stalin, nơi các câu hỏi về Hải quân đã được thảo luận và cụ thể là câu hỏi về tốc độ không đạt yêu cầu (không đủ) của các tàu săn ngầm lớn và nhỏ của Liên Xô. Câu hỏi này đặc biệt thích hợp trong thông tin tình báo nhận được về các hoạt động của Mỹ trên tàu ngầm với thiết bị năng lượng hạt nhân. Cần phải tìm ra giải pháp mới nào đó. Sự hỗ trợ trong việc tìm kiếm giải pháp này để tăng cường hiệu quả có sự tham gia của cơ quan quyền lực tối cao NKVD (Dân ủy Nội vụ). Rõ rang, các cộng tác viên của họ đã nhanh chóng tìm trên Khoa vật lý Viện Hàng không Moskva được lãnh đạo bởi K.A.Putilov nhóm đứng đầu với A.V.Volkov làm việc chế tạo các động cơ phản lực cho tàu. Trong khoảng 10 ngày đã tổ chức phòng thí nghiệm với sự đứng đầu của giáo sư K.A.Putilov. Tuy nhiên, không đạt được kết quả nhanh chóng. Chỉ vào đầu những năm 1950, đã thực hiện những thí nghiệm ngoài trời đầu tiên và xuất hiện khả năng bắt đầu các công việc trên thiết bị năng lượng cho tàu chống ngầm nhỏ đề án 204. Năm 1951, Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Krưlov, như tổ chức đầu tiên (hàng đầu) thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu trong các câu hỏi đảm bảo khoa học của ngành đóng tàu, thành công trong giai đoạn kết thúc các công việc được thực hiện bởi một trong số những người lãnh đạo hàng đầu mà đại diện là B.K.Ilinski – trở thành người tiếp nhận sau khi K.A.Putilov mất và nắm bắt toàn bộ các thành quả của người tiền nhiệm.
Vũ khí chống ngầm của tàu chống ngầm nhỏ đề án 204 gồm có 4 thiết bị ngư lôi 1 ống phóng 400mm để bắn các ngư lôi chống ngầm SET-40 và 2 thiết bị RBU-6000 (trên 2 tàu đầu tiên lắp RBU-2500 cũ). Pháo gồm có 1 thiết bị pháo nòng đôi tự động 57mm AK-725 lắp trên tháp pháo, bố trí giữa tàu (tren 2 tàu đầu tiên – thiết bị mở ZiF-31) với đài ra đa định vị điều khiển “Bars”. Sơ đồ bố trí pháo không thành công này được cho rằng ở mũi tàu, vị trí đã bị tận dụng cho RBU-6000, còn ở mạn tàu – các thiết bị tiếp nhận không khí của thiết bị năng lượng chính.
Việc chiếu sáng (làm rõ) bối cánh trên mặt nước được thực hiện với sự hỗ trợ của ra đa định vị “Rubka”, còn dưới nước – với sự hỗ trợ của đài thủy âm “Hercules-2M”. Đồng thời có tổ hợp tác chiến điện tử “Bizan-4B”.
Ở phương Tây, các tàu chống ngầm nhỏ số lượng lớn của Liên Xô được gọi là “Lớp Poti”. Nhưng đã nhận ra rằng, các tàu đề án 204 được bàn giao cho Hải quân trong giai đoạn phát triển nhanh các khả năng chiến đấu của tàu ngầm và không quân và trong quá trình đóng, các tàu này đã lạc hậu rất mạnh. Vì thế, Tư lệnh Hải quân đã đưa ra mệnh lệnh bắt đầu thiết kế tàu chống ngầm mới với các khả năng chống ngầm được tăng cường (quyết định bố trí tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ) và đài thủy âm mạnh hơn đáng kể. Theo quan điểm của ông, việc này là “con ngựa làm việc của Hải quân” – tàu chống ngầm chính hoạt động ở khu vực biển gần và gần bờ, như sự phát triển và thay thế tàu chống ngầm nhỏ đề án 204. Tàu mới nhận số hiệu đề án 1124.
Các biến thể
Ba tàu trong lớp này được đóng trong những năm 1966-67 theo đề án xuất khẩu 204-E. Trên tàu lắp các thiết bị RBU-2500 cũ, còn một số hệ thống chiến đấu được lắp trong dạng giản tiện. Năm 1970, các tàu này được chuyển cho Hải quân Rumani.
Chương trình đóng tàu
Toàn bộ trên ba xưởng từ năm 1960 đến 1968 đã đóng 64 tàu đề án 204 (31 – xưởng mang tên Gorki ở Zelenodolsk; 25 – “Zaliv” ở Kerch; 11 ở xưởng Khabarovsk). Trong biên chế Hải quân, 3 tàu chống ngầm nhỏ năm 1975 được chuyển cho Hải quân Bulgaria, còn 3 tàu chống ngầm nhỏ được đóng trong năm 1966-67, theo đề án xuất khẩu 204-E năm 1970, được chuyển cho Rumani.
Tình hình đến năm 2007
Các tàu đề án 204 đã phục vụ trong toàn bộ 4 Hạm đội Liên Xô: Biển Đen – 17; Thái Bình Dương – 11; Baltic – 22; Phương Bắc – 11. Giữa những năm 1980 – đầu 1990, toàn bộ chúng bị loại khỏi biên chế, 1 số trở thành tàu thí nghiệm, 1 số - tàu huấn luyện.