Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:26:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201714 lần)
0 Thành viên và 6 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #320 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2012, 12:18:59 am »

Các thông số kỹ thuật

Lượng dãn nước, tấn: 5000

Chiều dài, mét: 120

Chiều rộng, mét: 16,5

Lượng mớn nước trung bình, mét: 3,6

Tốc độ tối đa, hải lý: 18

Thiết bị năng lượng chính: diesel 10D49

Tầm bơi xa ở tốc độ 16 hải lý, dặm: 3500.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #321 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2012, 12:04:44 am »

Đề án 11437 – tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Ulianovsk”

Các công việc thiết kế trên tàu chở máy bay đa năng đầu tiên với thiết bị động lực hạt nhân được bắt đầu năm 1973 bằng việc nghiên cứu tàu sân bay đề án 1153 – dự định bố trí các máy bay khởi động (cất cánh) với sự hỗ trợ của máy phóng – các máy bay tiêm kích Mig-23K và máy bay cường kích Su-25K. Lượng dãn nước của tàu là 80 000 tấn và số lượng cụm các máy bay – 70.

Cái chết của Bộ trưởng Quốc phòng – Nguyên soái Grechko, úng hộ đề án này và sau đó, tiếp nhận vị trí này là Nguyên soái Ustinov, người không ủng hộ nó đã dẫn tới việc dừng và hủy bỏ việc thực hiện đề án năm 1983.

Việc thiết kế tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đề án 1143.7 “Ulianovsk” được bắt đầu ở Phòng thiết kế Neva năm 1984 dưới sự chỉ đạo của L.V.Belov (sau đó thay bằng Yu.M.Varfolomeev). Khi thiết kế đã tính toán kinh nghiệm thiết kế tàu sân bay đề án 1160. Dự định đóng 4 tàu. Mùng 4 tháng 10 năm 1988, tàu đầu tiên “Ulianosk” (số hiệu xưởng 107) được đưa vào danh sách tàu Hải quân và 25 tháng 11 khởi công trên xưởng đóng tàu biển Đen số 444 ở Nikolaev. Theo kế hoạch, tàu sẽ gia nhập biên chế năm 1995.

So với các tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay khác, “Ulianovsk” khác biệt ở thiết bị động lực hạt nhân, tăng các kích thước boong bay, bàn lấy đà (góc dốc 14 độ) và 2 máy phóng hơi nước (chiều dài 90 mét). Tàu có thân thành cao, chế tạo từ théo theo hệ thống ghép bộ dọc. Thân tàu được chia thành 20 khoang kín nước. Thượng tầng (“quần đảo”) được bố trí theo thành bên phải. Hệ thống bọc thép gồm có sự bảo vệ (phòng thủ) dạng hình hộp các kho đạn và phòng thủ chống ngư lôi. Thiết bị năng lượng gồm 4 tuabin và 4 lò phản ứng nhiệt công suất 305MW. Dự kiến có lắp các nồi hơi hỗ trợ (phụ), có khả năng hãm các lò phản ứng, đảm bảo tốc độ tàu 10 hải lý. Nguồn năng lượng điện được cung cấp từ máy phát điện công suất 27 000kW. Trên boong tàu có thể triển khai tới 70 máy bay và trực thăng: 20 Mig-29K, 25 Su-33, 8 Yak-44, Ka-27PL, 2 Ka-27PS. Để bảo vệ các khí tài bay dưới boong có hang ga kích thước 175x32x7,9. Trên boong bay, chúng được nâng lên khi có sự hỗ trợ của 3 thang nâng tải trọng 50 tấn (2 theo thành bên phải, 1 theo thành bên trái). Ở phần mạn tàu bố trí hệ thống hạ cánh bằng quang điện “Luna”.

Vũ khí của tàu gồm có 16 thiết bị phóng tên lửa chống tàu “Granit”, 4 thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không SM-9, 8 thiết bị phóng “Kortik” (sau đó là “Palash”), 2 thiết bị phóng bom phản lực RUB-12000, 8 thiết bị pháo 6 nòng 30mm AK-630M. Trong thành phần trang thiết bị điện tử gồm có: Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Tron-Diplomant”, tổ hợp đa năng “Mars-Passat”, đài ra đa định vị ba tọa độ “Podberezovik”, đài ra đa định vị phát hiện các mục tiêu tầm thấp “Potkat-M”, tổ hợp đạo hàng “Adromeda”, hệ thống liên lạc vũ trụ “Tsentavr”, đài ra đa định vị điều khiển bay “Rezistor” và hệ thống dẫn bắn cho máy bay tiêm kích “Gazon”, đài tác chiến điện tử “Sozvezdie-BR”, đài thủy âm “Zvezda-M1”.

Với sự xuất hiện của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Ulianosvk”, ngành đóng tàu Liên Xô đã đạt tới trình độ thế giới. Theo hiệu quả chiến đấu, tàu có thể ngang với các tàu sân bay Mỹ lớp “Nimitz” và vượt trội đáng kể tàu sân bay Pháp “Charles De Gaulle”.

Thân tàu đã được đóng gần xong hoàn toàn, nhưng sau khi ngừng cung cấp tài chính mùng 1 tháng 11 năm 1991 đã dừng đóng (20% về kỹ thuật) và loại khỏi danh sách tàu Hải quân. Mùng 5 tháng 2 năm 1992, theo mệnh lệnh của Tổng thống Ukraina Kravchuc đã bắt đầu theo thân tàu của nó thành kim loại trên ụ (hoàn thành 29 tháng 10). Tàu thứ hai cũng được nấu chảy và tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #322 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:16 am »

Các thông số kỹ chiến thuật

Lượng choán nước, tấn: 85 000

Theo các thông tin khác

+ tiêu chuẩn, tấn: 60 000

+ hoàn toàn, tấn: 79 758

Chiều dài, mét: 323,7 – theo rãnh mớn nước: 302,6 mét

Chiều rộng, mét: 39,5

Lượng mớn nước, mét: gần 10,7

Chiều dài boong bay, mét: 323,7

Chiều rộng boong bay, mét: 75,5

Thiết bị năng lượng

Kiểu: thiết bị năng lượng hạt nhân (4 lò phản ứng, 4 tuabin hơi nước)

Số lượng trục: 4

Công suất: gần 240 000 sức ngựa

Tốc độ, tầm bơi xa

Tốc độ: 30 hải lý

Tầm bơi xa: -

Thời gian hoạt động: -.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #323 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:41 am »

Vũ khí

Gần 80 (theo các thông tin khác 60-85)

Các máy bay và trực thăng: Su-27, Su-25, Ka-32, Yak-44 cảnh báo sớm

Thiết bị phóng tên lửa chống tàu “Granit”: 16

Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không SM-9: 4x6 (192 tên lửa)

Thiết bị pháo 6 nòng 30mm AK-630M” 8

Tổ hợp “Kortik”: 8 (mỗi tổ hợp gồm 2 pháo 30mm và tên lửa phòng không 3M-88, cơ số đạn 256 tên lửa; 48 000 đạn)

Thiết bị phóng tổ hợp chống ngầm và ngư lôi RPK-5/Udav-1: 2 (60 tên lửa)

Máy phóng: 2

Thông tin khác

Thủy thủ đoàn

+ sỹ quan và thủy thủ: gần 2300

+ phi công và nhân viên kỹ thuật phục vụ: gần 1500.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #324 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2012, 12:02:54 am »

Tàu chở vũ khí lớp “Aleksandr Brưkin” – Đề án 11570 – lớp Brykin


Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: không có.

Đầu những năm 1980, để vận chuyển các loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa của các tàu tuần ngầm tuần dương nguyên tử mang tên lửa chiến lược thế hệ thứ 3, ở Phòng thiết kế “Korall” tại Sevastopol đã thiết kế tàu vận tải tên lửa mới đề án 11570. Yêu cầu trên các tàu mới của lớp này là rất lớn, bởi vì các tàu vận tải được đóng trước đó thuộc các đề án 323, 771-B và 1150 đã khong đảm bảo hoạt động với các tên lửa đạn đạo liên lục địa hạng năng mới, gia nhập trang bị các tàu ngầm Liên Xô.

Tàu vận tải đề án 11570 có thể đồng thời vận chuyển 16 tên lửa đạn đạo của tàu ngầm cho tới tên lửa nhiên liệu rắn lớn R-39, nằm trong trang bị của tàu ngầm tuần dương mang tên lửa đạn đạo đề án 941 (“Taifun” – “Typhoon”). Để vận chuyển tên lửa, nó được trang bị cần cẩu 125 tấn (bố trí ở giữa tàu) và 2 cần cẩu phụ - tải trọng tương ứng 12 và 9 tấn. Trên cần cẩu lắp thiết bị tự động hóa đặc biệt (tương đồng với thiết bị lắp trên tàu vận tải đề án 1791), đảm bảo vận tải không bị va chạm các tên lửa khi tác động của sóng làm rung rắc (tròng trành) tàu ngầm và tàu vận tải. Trong vai trò vũ khí phòng thủ tự vệ trên tàu bố trí 2 thiết bị giá phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không mang vác kiểu “Strela-3” (hoặc “Igla-1”), đồng thời 4 pháo tự động 30mm AK-630 với 2 trạm điều khiển ra đa định vị. Trong vai trò phòng thủ thụ động có các tổ hợp bắn nhiễu PK-2 và PK-10.

Đáng chú ý rằng, các tàu vận tải vũ khí Liên Xô được giới thiệu là tốt chỉ khi tiếp nhận trong các trạm căn cứ phân tán và trên các bến đỗ tàu trong vai trò phương tiện vận tải đạn hoặc trong dạng các trạm (căn cứ) chứa đạn nổi. Ngoài ra, mục đích chính của tàu vận tải vũ khí – đảm bảo cho tàu ngầm hạt nhân tuần dương mang tên lửa đạn đạo. Chúng khác biệt một cách nguyên tắc theo các nhiệm vụ này với các tàu cùng lớp thuộc Hải quân Mỹ, nơi nhiệm vụ của chúng, về cơ bản để đảm bảo cho các tàu nổi và ngoài ra, còn khả năng cung cấp đạn khi hoạt động trên biển. Việc thiết kế tàu vận tải tương tự cho Hải quân Liên Xô được thực hiện trong những năm 1980, nhưng do Liên Xô tan rã, việc đóng không được tiếp tục.

Chương trình đóng tàu

Theo đề án 11570, vào năm 1986 ở xí nghiệp đóng tàu Admiraltei tại Leningrad đã chỉ đóng được 1 tàu vận tải vũ khí, nhận tên gọi “Aleksandr Brưkin” – ngoài ra, tới khi Liên Xô tan rã không kịp đóng thêm. Ở phương Tây, tàu nhận tên gọi – lớp Aleksandr Brykin.

Tình hình đến năm 2009

Sau khi đóng và thí nghiệm, tàu vận tải vũ khí “Aleksandr Brưkin” năm 1987 được bàn giao cho Hạm đội Phương Bắc, nơi đảm bảo vận tải tên lửa cho các tàu ngầm đề án 941.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #325 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:13 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng dãn nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 8235

+ hoàn toàn: 11 440

Các kích thước chính, mét



+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 159,1 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 23 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 5,5

Thiết bị năng lượng chính: diesel

+ 2 động cơ diesel, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820)

+ các máy phát điện – diesel, công suất, kW: 3x-

2 trục, 2 bánh lái chân vịt, thiết bị lái ở mũi

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 16,5

+ tiết kiệm năng lượng: 15

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 6000 (15)

Thời gian hoạt động, ngày: 30

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 148 (-)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #326 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:40 am »

Tải trọng (khối lượng tải) và các thiết bị vận tải

+ tải trọng nâng, tấn: -

+ số lượng và lớp (loại) đạn: 16 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa

+ Các thiết bị nâng: cần cẩu: 1-125 tấn/1-12 tấn/1-9 tấn

Vũ khí

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng MT-4US thuộc tổ hợp tên lửa phòng không “Strela-3” hoặc “Igla-1”: 2x4

+ tên lửa phòng không điều khiển 9M32M hoặc 9M313 (SA-N-5 “Grail”): 16

Pháo

+ pháo tự động 6 nòng 30mm AK-630: 4x6

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung: 1xMR-750 “Fregat-MA” (Half Plate Alpha)

Đài ra đa định vị đạo hàng: 2x”Nayada” (Nayada)

Các khí tài tác chiến điện tử: “Start” (2 Bell Shroud; 2 Bell Squat)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x 2 thiết bị phóng PK-2 (ZiF-121)

+ 4x 10 thiết bị phóng PK-10

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo 30mm

Các khí tái thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: (Salt Pot; Long Head).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #327 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2012, 12:30:12 am »

Đề án 904 “Orlenok” (đại bàng nhỏ) – tàu đệm khí động vận tải đổ bộ


Lần đầu tiên trên thế giới, các tàu đệm khí động đóng loạt được đóng ở Liên Xô và gọi tên là “Orlenok”. Ngoài Liên Xô, loại vũ khí này đã và tới thời điểm này không có ở một nước nào trên thế giới. Tàu đệm khí động duy nhất này được chế tạo bởi công trình sư thiên tài của Liên Xô Rotislav Evgenievich Alekseev.

“Đại bàng nhỏ” được thiết kế và đóng như khí tài vận tải đổ bộ để vận chuyển nhanh chóng các khí tài kỹ thuật bánh hơi, bánh xích và bộ đội tới các khu vực chiến sự, đồng thời làm nhiệm vụ đổ bộ. Đây là tàu bay thực sự có khả năng bay và hạ cánh trên sóng biển, và cả trên bờ biển không được chuẩn bị sẵn. Nó là bước tiến khổng lồ - mang tính cách mạng trong ngành Hải quân. Tốc độ cao đảm bảo nhanh chóng vận chuyển các đơn vị bộ đội và tấn công bất ngờ mà các tàu đổ bộ thường không đạt tới (không thực hiện) được. Các bãi chướng ngại vật chống ngầm và bãi mìn không cản trở được “Orlenok” (nó bay qua chúng), và để đánh chiếm căn cứ quân sự của địch được bảo vệ tốt trên bờ, nó không thay thế được một cách đơn giản. “Orlenok” không sợ bão, không sợ băng – nó bay trên chúng, còn khi cần thiết có thể thực hiện việc hạ cánh trên chúng, đảm bảo khả năng khai thác sử dụng quanh năm. Nó không bị gây trở ngại bởi các cửa sông hay bãi đá gần bờ cũng như các bãi nông, mà ở đó có thể làm vỡ các tàu thường. Việc đổ bộ có thể thực hiện khắp nơi – từ vùng Sừng Châu Phi tới các rặng san hô tới hai bờ biển Bắc Mỹ. Theo ý kiến các phi công quân sự, một trong số các ưu điểm chính của tàu đệm khí động là khả năng sống còn – sân bay thường ở dưới máy. Trên các thí nghiệm, tàu đệm khí động đã hạ cánh thậm chí trên đá, nhưng nó cất cánh và tới căn cứ mà không xảy ra tai nạn. Các đặc điểm này: thoát khỏi mặt nước khi ở tốc độ thấp (do kết quả thổi), lưỡng cư (đất liền, nước, không khí) không lắc khi bị tác động của sóng và nhiễu động khí quyển, giảm sự tiêu tốn nhiên liệu so với máy bay, trực thăng hoặc tàu trên đệm không khí; đồng thời khả năng bị phát hiện thấp bởi ra đa định vị và khả năng bay trên tốc độ của máy bay làm cho thiết bị này trở thành duy nhất theo các khả năng này. Theo nguyên nhân này, trong các cuộc diễn tập, toàn bộ trung đoàn máy bay tiêm kích Mig-23 không thể tiêu diệt các tàu đệm khí động bay tầm thấp bằng các tên lửa. Các tàu đệm khí động được đảm bảo an toàn một cách tối đa thậm chí khi hỏng các động cơ, thiết bị năng lượng và hệ thống; không có độ cao rơi và sự xuất hiện “đệm màn” không cho phép chạm (tiếp xúc) bề mặt (đất) tới khi đạt được tốc độ thấp nhất. Trong cùng thời gian đó, chúng có thể dễ dàng vượt qua các chướng ngại vật bên cạnh cũng như ở trên, khi thực hiện bay trên đất bằng hoặc khu vực ngập nước. Các tàu đệm khí động – những lãnh chúa (vị chúa, chúa tể) thực sự của không gian rộng lớn: sông, hồ, sa mạc, đài nguyên – nơi chúng tự do hoàn toàn.

Tàu đệm khí động vận tải đổ bộ “Orlenok” được đóng theo sơ đồ máy bay. Đây là ba động cơ máy bay cánh đơn với cánh đuôi dạng chữ T và thân – tàu. Thân được sử dụng để bố trí trên đó tải trọng hữu ích, phi hành đoàn, vũ khí, các động cơ khởi động và các hệ thống trên tàu. Thân có chiều dài 58 mét, chiều cao 16 mét, khối lượng 120 tấn và sải cánh 31 mét. “Orlenok” có tốc độ tối đa 400km/h và ví dụ tổng cộng trong khoảng 1 tiếng có thể vượt qua biển Caspi, có khả năng cất cánh từ sóng cao 1,5 mét, khi sóng biển cấp 4. Tải trọng có ích được bố trí trong khoang vận tải – chiều dài 28 mét, rộng 3,4 mét và cao 4,5 mét. Tải trọng – 20 tấn, tương đương với 1 đại đội Hải quân đánh bộ (150-170 người) với trang bị đầy đủ hoặc 2 xe bọc théo (BTR, BMP, BMD, BRDM) với kíp xe. Lính đổ bộ có thể ở trên thành trong thời gian tính bằng phút và trên tốc độ tối đa đạt được tầm xa 2500km. “Orlenok” chạy đã trong nửa phút và đạt chiều cao tối ưu. Khi cần thiết, khí tài có khả năng bay như máy bay, trên độ cao 6km. Nó có đặc điểm tính cơ động cao so với các tàu đệm không khí, không tính máy bay – bán kính quay 90 độ - trên “Orlenok” tổng cộng 50 mét.

Việc tiếp nhận và đổ bộ của “Orlenok” có thể thực hiện trực tiếp trên bờ - di chuyển lên bờ và khi chạy ngược ra biển trên đáy được cố định dưới gầm. Sau khi tàu đệm khí động rời khỏi bờ, mở các khóa đặc biệt và bộ phận mũi mở và quay góc 92 độ về bên phải – quanh các bản lề thân. Sau đó, qua cửa được hình thành, thang được hạ xuống – theo đó các phương tiện vũ khí kỹ thuật từ buồng vận tải được đổ ra. Trong bộ phận quay của thân bố trí cabin phi hành đoàn và thiết bị súng máy. Việc ra vào của phi hành đoàn được thực hiện qua các cửa, bố trí theo thành trên cánh. Lối thoát khẩn cấp – qua cửa trên nóc cabin phi công. Phi hành đoàn gồm chỉ huy, phi công số 2, thợ máy, hoa tiêu, nhân viên vô tuyến và xạ thủ súng máy. Khi vận chuyển lính đổ bộ, trong thành phần phi hành đoàn bổ sung thêm 2 nhân viên kỹ thuật.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #328 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2012, 12:37:30 am »

Thiết bị động lực của “Orlenok” gồm 2 động cơ 2 kỳ tuabin phản lực cất cánh NK-8-4K (lực kéo tĩnh lực tối đa của mỗi động cơ trong điều kiện tiêu chuẩn – 10,5 tấn) và động cơ tuabin cánh quạt hành trình NK-12MK (lực kéo tĩnh lực tối đa trong điều kiện tiêu chuẩn – 15,5 tấn). Toàn bộ 3 động cơ được giới thiêu là biến thể cho tàu biển các động cơ hàng không được sản xuất hàng loạt. Trên thành đồng thời có thiết bị động lực hỗ trợ (phụ) TA-6A. Để giảm chạy đà trong thời gian khởi động tiếp nhận sự thổi các luồng phản lực từ các động cơ ở mũi (khởi động, cất cánh), bố trí dưới cánh tàu đệm khí động. Sau khi thoát khỏi bề mặt (nước, đất), các động cơ cất cánh tắt và “Orlenok” tiếp tục bay trên động cơ hành trình ở đằng sau, làm quay 2 động cơ cánh quạt đồng trục đường kính 6 mét. Khi cần thiết tăng lực kéo trong khi bay (trong chế độ bay tuần tra), các động cơ khởi động được mở và với sự hỗ trợ của các vòi phun quay, các luồng phản lực hướng lên trên cánh. Để bảo vệ khỏi muối biển – nhanh chóng phủ toàn bộ các bộ phận của động cơ và làm giảm hệ số hoạt động hiệu quả, các động cơ khởi động cùng với các bộ gom không khí được thiết kế “giấu” trực tiếp trong thân, ở bộ phận mũi (quay) của tàu đệm khí động. Các động cơ được lắp theo thành, còn các bộ gom không khí được bố trí đặc biệt trước đèn cabin phi công để ngăn bụi nước và bụi vào trong động cơ, trong thời gian hoạt động trên biển hoặc trên bộ. Động cơ hành trình được nâng cao tối đa so với mặt nước và bố trí trên cánh đuôi thẳng, giải quyết tối ưu vấn đề với muối biển. Đồng thời, động cơ tuabin cánh quạt siêu mạnh NK-12 với các cánh quạt đồng trục được tiếp nhận trên các máy bay ném bom chiến lược và máy bay vận tải hạng nặng.

Tàu lượn được chế tạo từ hợp kim AMg-61. Trong các thiết bị và tổ hợp riêng, tiếp nhận thép. Sơ đồ bố cục chung của tàu đệm khí động được hình thánh với sự tính toán các chế độ di chuyển chuyên môn hóa – tự dốc và rời lên bờ, chế độ: bơi, lướt, nảy theo bánh lái sóng và bay ổn định. Sóng lớn tạo thành tải trọng va đập lớn lên thành thủy phi cơ. Vì thế, khi thiết kế “Orlenok” đã tăng cường đáy bằng các biện pháp tương ứng. Nó được tạo thành bởi hệ thống đáy lướt dọc và ngang. Ngoài ra, để giảm tải lắp thiết bị trượt – giảm chấn (giảm sóc). Ở phần trước thân là thiết bị trượt – giảm sóc mở mũi, còn khu vực trung tâm khối lượng là thiết bị trượt – giảm sóc chủ yếu (chính). Thiết bị trượt – giảm sóc được giới thiệu là đáy lướt giảm sóc và nghiêng của thân lướt. Nó được chế tạo trong dạng tấm phẳng, được cố định bằng các bản lề sườn trước vào đáy thân và với cột chống – bộ giảm sóc theo chiều dài tấm phẳng. Chiều dài, góc nghiêng và sự giảm sóc của thiết bị trượt – giảm sóc được tính toán một cách tỷ lệ hợp lý bằng cách tính chiều cao sóng khi tàu đệm khí động cất hạ cánh. Các thiết bị trượt – giảm sóc có thể được sử dụng để khởi động tàu đệm khí động từ băng đá – tuyết. Việc lắp thiết bị trượt – giảm sóc tốt thay thế toàn bộ khả năng tạo thành hệ thống khí động học và các chế độ di chuyển của tàu đệm khí động. Các lực thủy lực tạo ra bởi thiết bị trượt – giảm sóc có tính chất tổng hợp (động lực) với các lực khí động học của cánh, cho phép liên kết toàn bộ các phần tử khí động lực của tàu đệm khí động trong một tổ hợp thống nhất để cùng tạo thành lực nâng và điều khiển di chuyển. Bàn trượt phẳng, nối tiếp tới đường bao thân, tạo thành bề mặt dựa giảm sóc. Do kết quả tăng góc trược của thiết bị trượt – giảm sóc, sự nổi lên của thân và nâng tiếp theo trên mặt nước phù hợp khoảng 20-40% so với tốc độ bắt đầu bay, tương ứng, thân trên tốc độ cao được bảo vệ khỏi tác động (các cú đập) của sóng. Sự giảm sóc của thiết bị trượt – giảm sóc mang tới khả năng theo dõi sự biến động của sóng trên tốc độ cao, giảm tải trọng và tạo ra khả năng chuyển chế độ bơi sang chế độ bay. Thiết bị trượt – giảm sóc cho phép trong khi bay tiếp xúc với bề mặt nước một cách an toàn – tàu đệm khí động có thể “cắt” ngọn sóng một cách đúng nghĩa. Khả năng chuyển an toàn trong khi bay tới chế độ lướt dẫn tới giảm bán kính quay vòng 2-3 lần, so với sự quay, rẽ trong chế độ bay. Trong chế độ trượt, có thể thực hiện sự quay bằng với sự trượt, an toàn hơn khi so sánh với sự quay trong chế độ bay với độ nghiêng. Các tính năng lưỡng cư bổ sung được đảm bảo bằng gầm bánh hơi, bố trí trên thiết bị trượt – giảm sóc. Nó cho phép tàu đệm khí động thực hiện khả năng di chuyển ra khu vực nước, trong đó từ trên bờ không được chuẩn bị sẵn và di chuyển theo đường bộ. Gầm gồm có các giá hai bánh hơi ở mũi và trụ chính 10 bánh hơi. Bánh xe – không hãm, bánh mũi – quay, hệ thống treo độc lập. Sự thu bánh mũi được thực hiện bằng cách thu vào thân, còn các bánh chính với sự hỗ trợ của các xi lanh thủy lực nghiêng vào thiết bị trượt – giảm sóc chính. Các cánh cửa gấp không có, thiết bị trượt – giảm sóc ở vị trí thu gọn phủ từng phần đáy gầm. Gầm cùng với thiết bị trượt – giảm sóc (ở mũi và chính) và bằng phương pháp thổi đảm bảo khả năng di chuyển trên mọi loại nền đất.

Cánh có bố cục khí động học được tối ưu hóa. Ở cuối các bánh có lắp phao, đóng vai trò vòng đĩa đệm khí động lực và lướt. Dọc mép sau bố trí các cánh đuôi – cánh phụ 5 khối. Dọc mép trước bố trí trên bề mặt cánh dưới (gần cuối) là các lá chắn khởi động đặc biệt. Trục quay của lá chắn đi qua theo các mép trước của chúng. Các góc nghiêng: cánh đuôi – cánh phụ - từ -10 đến 42 độ, lá chắn khởi động – 70 độ. Sự cơ động cánh được sử dụng khi khởi động để tạo thành đệm khí – không khí, nâng tàu đệm khí động khỏi mặt nước. Khi bơi, mép sau của cánh nằm trên nước. Để cất cánh, các động cơ khởi động ở mũi mở ra, các luồng phản lực từ đó hướng về dưới cánh. Phi công hạ các cánh đuôi và lá chắn, chặn khí làm thủng các mép trước và sau. Áp suất khí tăng dưới cánh và nâng tàu đệm khí động lên khỏi mặt nước. Thiết kế cánh gồm có cánh giữa và 2 đế, dạng cấu trúc lõm. Trong phần cuối cánh bố trí các thùng nhiên liệu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #329 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2012, 12:37:45 am »

Cánh đuôi dạng chữ T được tiếp nhận với mục đích giảm ảnh hưởng của máy bay tới các tính năng bền vững và điều khiển tàu đệm khí động. Các kích thước tương đối lớn của hệ thống ổn định được giải thích bằng sự cần thiết đảm bảo độ ổn định bay trên các độ cao khác nhau. Các bánh lái cao – 4 khối, bánh dẫn hướng – 2 khối. Cánh đuôi đứng được giới thiệu là khối duy nhất với thân. Trên cánh đuối được cố định động cơ hành trình, lắp các đèn dẫn đường và các ăng ten hệ thống kỹ thuật vô tuyến.

Các hệ thống của tàu đệm khí động được giới thiệu là sự hỗn hợp của trang thiết bị tàu biển và máy bay. Trên tàu đệm khí động có tổ hợp đạo hàng của tàu biển “Ekran” với đài ra đa định vị quan sát. Hệ thống điều khiển – thủy lực. Hệ thống tự động kiểm soát di chuyển được sử dụng trong thiết bị tự lái. Với sự hỗ trợ của nó, việc lái có thể thực hiên bằng tay cũng như trong chế độ tự động. Ở cuối mũi trên thân lắp ăng ten đài ra đa định vị đạo hàng cảnh báo va chạm – “Ekran-4” với khả năng giải quyết cao. Ăng ten nhìn của đài ra đa định vị được bố trí trên bộ phận trên thân, sau thiết bị súng máy. Hệ thống thủy lực đảm bảo chức năng các bề mặt lái, sự cơ động cánh, thu/thả gầm và thiết bị trượt – giảm sóc, quay bộ phận mũi thân trên các khớp bản lề. Hệ thống điện đảm bảo cho các thiết bị lái – dẫn đường, thông tin liên lạc vô tuyến, trang bị kỹ thuật điện, đồng thời hệ thống điều khiển. Tàu đệm khí động được trang bị tổ hợp hoàn toàn các đèn dẫn đường của tàu biển. Trong bộ phận quay của thân trên khoang mũi bố trí thiết bị mỏ neo – lai dắt, cho phép thực hiện các hoạt động cứu nạn trực tiếp trên mặt nước. Mỏ neo được thu vào trong lỗ. Trên thành tàu đệm khí động có các bè bơm hơi cứu nạn và các thuyền máy bơm hơi.

Vũ khí gồm có thiết bị súng máy phòng thủ “Utes-M”.

Các mũ chụp vô tuyến trong suốt của các ăng ten được chế tạo từ các vật liệu composite. Sự bảo vệ tàu bay khỏi sự ăn mòn được đảm bảo bởi lớp phủ điện hóa. Phận dưới nước được sơn bằng sơn đặc biệt, ngăn chặn các sinh vật biển bám vào đáy.

Màu sơn: bộ phận nổi của thân, gồm có cánh đuôi – xám; phần chìm của thân tàu – xanh lá cây – sẫm; các mũ chụp ăng ten đài ra đa định vị - xám sang; vạch mớn nước, số hiệu chiến thuật – trắng; cánh chân vịt, nòng súng máy, máy nhìn, vòi phun động cơ, hốc các vòi phun động cơ mũi – đen; đầu mút vòng đệm – đỏ; phần cuối các cánh chân vịt – làng. Hai bên thành, trên cánh đuôi đứng có sơn cờ Hải quân Liên Xô/Nga.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM