161. “Ise”
Được hạ thủy năm 1916, “Ise” được giới thiệu như phiên bản nâng cấp của tàu chủ lực lớp “Fuso” và được lắp thê hai tháp pháo trên mặt cắt ngang giữa tàu. Trong thời kỳ giữa hai cuộc Chiến tranh Thế giới , tàu được hiện đại hóa, năm 1937, mạn tàu được kéo dài đến 7,6m. Sauk hi mất số lượng lớn tàu sân bay mà Hải quân Nhật đưa vào tham chiến gần Midway tháng 6 năm 1942, năm 1943, “Ise” và tàu cùng lớp “Hyuga” được đóng lại thành đa nhiệm – vừa đóng vai trò tàu chủ lực, vừa đảm nhiệm chức năng của tàu sân bay. Hai tháp pháo ở mạn tàu được tháo bỏ, trên vị trí hình vuông đó được thay bằng hang ga và boong cất cánh. Khi đó, mỗi tàu chủ lực mang theo 22 thủy phi cơ, do không thuận lợi về vị trí nên chúng cất cánh từ các máy phóng, hạ cánh xuống mặt nước và được nhấc lên trên thành bằng cần cẩu. “Ise” tham gia chiến đấu gần Midway và tại vùng vịnh Leit. Tàu bị trúng mình thủy lôi do các máy bay Mỹ rải xuống và bị loại khỏi biên chế tác chiến. Tháng 6 năm 1945, tàu bị đánh chìm tại cảnh Cure trong cuộc tấn công kéo dài hai ngày đêm của các máy bay cường kích, khi đó tàu chủ lực “Hyuga” và “Haruna” cùng tàu sân bay “Amagi” cũng bị đánh đắm. Năm 1946, “Ise” được trục vớt và tháo dỡ.
Các thông số chính:
Quốc gia sở hữu: Nhật Bản
Thủy thủ đoàn: 1376 người (tàu chủ lực); 1463 (tàu sân bay)
Lượng choán nước: 35 800 tấn (năm 1937)
Kích thước: 216x31x9,2
Tầm hoạt động: 9450 với tốc độ 16 hải lý
Bọc thép: thân: 305-127mm (12-5 inch); tháp pháo: 356-305mm; boong: 120-83mm
Trang bị: 12 pháo 356mm (14 inch) và 12 pháo 140mm (5,5 inch)
Thiết bị động lực: tuabin bốn trục 80 000 sức ngựa
Tốc độ: 25 hải lý.
