208. “Nagato”
“Nagato” và tàu cùng lớp “Mutsu” đã mở ra thời kỳ mới của tàu chủ lực với pháo 406mm (16 inch). Những khẩu pháo này, có tấm bắn xa đến 40km, được kết hợp giữa độ chính xác ca và sức công phá lớn. Cột buồm trước ba trụ nhô lên khỏi đài chỉ huy lớn, còn ống khói đầu tiên với thiết kế từ những năm 20 nhận sự uốn cong mạnh gần mạn tàu để giảm việc bị khói che khuất tầm quan sát của đài chỉ huy và trạm điều khiển trên cột buồm. Giữa những năm 1934 và 1936, trên các tàu chủ lực này đã được lắp các thiết bị động lực mới và chỉ cần một ống khói, vì thế, ống khói đầu tiên hầu như đã bị tháo bỏ. Như một tàu chỉ huy của Hạm đội Liên hợp, tàu tham chiến trong các trận đánh gần Midway và vịnh Leith. Gần cuối chiến tranh, tàu ở trong tình trạng không thể chiến đấu tại Yokosuka. Tháng 7 năm 1946, trong thời gian thí nghiệm vụ khí hạt nhân tại bãi san hô Bikini, “Nagato” được sử dụng như mục tiêu. Tàu bị hư hỏng nghiêm trọng trong lần thí nghiệm thứ hai và bị đắm ngày 29 tháng 7 năm 1946.
Các thông số chính:
Quốc gia sở hữu: Nhật Bản
Thủy thủ đoàn: 1333 người
Lượng choán nước: 32 720 tấn (hoàn toàn: 38 500 tấn)
Kích thước: 215,8x29x9
Tầm hoạt động: 9900km (5500 dặm) với tốc độ 10 hải lý
Bọc thép: thân: 305-102mm (12-4 inch + 75mm thành chắn ngư lôi); bệ súng và tháp pháo: (356-305mm (14-12 inch); boong: 196-170mm (tổng cộng)
Trang bị: 8 pháo 410mm và 12 pháo 140mm
Thiết bị động lực: tuabin bốn trục 80 000 sức ngựa
Tốc độ: 26,5 hải lý.
