Có câu "ai ơi bưng bát cơm đầy". Nay chả ai mong cơm đầy, chỉ mong cơm vơi thôi, cõ lẽ vì vậy mà cách làm cơm nhiều người quên phéng. À, mà cơm là món chủ lực, khi tôi mời bác Dân Ngốc về nhà đãi tiệc thì tôi nói "mời bác về nhà tôi xơi cơm", rồi bảo người nhà: "làm cơm mời bác Ngốc", chứ tôi tuy ếch nhưng không bao giờ mất lịch sự đến mức "mời bác về nhà tôi ăn thịt", "mời bác về nhà tôi chén tiệc" cả. Tôi có kiếm được món trân hào xyz cũng: "mời bác về nhà tôi xơi cơm, nhân tiện có cái đuôi con xyz", chứ không "mời bác về nhà tôi gặm đuôi con xyz, rồi tiện thể đánh 3 bát cơm".
(Dưng cơ mà nói đãi bôi đấy, không có cơm đâu nhé, có can rượu đây. Duy trên đời có thằng bợm coi khinh cơm: "mời bác về nhà tôi xơi chén rượu", trên cả thánh hiền quân tử. Tuy nhiên, chả mấy lúc thằng bợm dám nói thẳng lòng mình như thế.)
Ôi trời, muốn có cơm phải có gạo, muốn có gạo phải có thóc. Thôi, xin đủ, đừng bắt tôi nói chuyện từ thóc trở về trước nhé.
Thóc muốn thành cơm trước phải thành gạo. Biết nói thế nào đây ?? nói theo ngôn ngữ hiện đại vậy. Thóc là quả của cây lúa, cây lúa là giống cây một là mầm, hạt thóc có 4 phần, mầm lúa (mày), vỏ quả (trấu), hột lúa (hột-hạt, tiếng Bắc Nam, tức là phần cần chén, gạo đó, hạt của "quả lúa"), và màng hạt (cám). Chế thóc thành gạo là lấy "gạo đó, hạt của quả lúa" từ thóc và các phần trên.
Công nghệ ngày nay là "xay" và "đánh bóng". "Xay" tách "trấu", "mày", "cám" còn "đánh bóng" là công đoạn của tô tồn i phếch, làm đẹp, chuyên môn hoá, cả "xay" và "đánh bóng" chả ai quan tâm, trừ "cơm". Đây là nói chuyện xửa xưa, ai cũng phải làm, ai cũng phải biết.
Ngày xửa, cứ vài nhà có một cái cối xay, một cái cối giã. Mỗi nhà bỏ tiền sở hữu và duy trì các cái đó, đều được làng xóm nhờ vả. Ngảy xửa, sống trong làng xóm, đó cũng là mộc cách để nợ nần nhau chút tình.
Cối xay là của chung, nhưng nhà nào cũng phải có nong, nia, sàng, cùng thúng mủng vân vân để mà đem đến, không ai cho mượn những đồ đó cả. "
Cối xay" cùng "
nong", "
nia", "
sàng" sẽ bóc "
trấu" ra khỏi "
thóc". "
Thúng" và "
mủng" thì công dụng giống "
thùng" ngày nay, chỉ để đựng. "
Mủng" chỉ là cái "
thúng" xấu rách.
Cối xay là một thiết bị xay

. Nó là cái cối xay (

) có hai thớt trên dưới, được người quay bằng giằng đẩy kéo. Cối làm bằng đất sét nện khô chặt, có các răng bằng tre, bố trí 2 thớt giống cái cối xay bôt nước đó.
Nong, nia, mẹt giống nhau chỉ khác nhau công dụng kích thước. Chúng đều là những đồ đựng như cái mâm, tròn, dẹt, đan bằng tre có thể có cạp mây. "Nong" to nhất, dùng đặt dưới cối xay mà hứng thóc gạo trấu. "Nia" bé hơn, "mẹt" bé nữa. Cái "Sàng" là cái lưới mắt to, cũng đan bằng tre, kích thước có thể bằng cái nia hay cái mẹt, động tác sàng là động tác sử dụng cái "sàng", đặt thóc gạo lên đó, lắc cho hạt nhỏ rơi xuống, hạt to ở lại, dùng để đãi thóc khỏi đất cát, đãi "gạo" khỏi "tấm", thường lắc theo vòng tròn, cái tâm vòng tròn thóc lúa đảo đó sạch nhất và thường được lấy tay bốc ra cho nhanh. "Sẩy" là sùng cái "nia" làm xiếc, hất lúa gạo lên hứng rơi xuống, để thổi bay trấu hay thóc lép, tách hạt nhẹ hạt nặng như "gạo" hay "tấm", hay thóc chưa lột vỏ. Cái nong cái nia cũng được dùng đựng đồ phơi.
Ừm, cối xay, cho thóc vào cối xay, rồi quay cối xay ù ù, trấu và gạo có vỏ cám rơi xuống nong, sàng sẩy cho sạch, được một thứ gạo là "lức", gạo này còn nguyên cả "mày" với "cám", ăn không ngon nhưng giầu vitamin, dùng để trường thọ chống ung thư. Sao lại không ngon, nó còn có các mô cây, gây "chát", chưa đủ cho canh cá nhưng làm "cơm không lành". Bùn cừi, vợ chồng trẻ cho nhau ăn thứ này là bát đũa sứt mẻ, nhưng vợ chồng già tìm mua cho nhau lại hổng có.
Cối xay có "tỷ lệ bắn trúng" cùi lắm, nhưng nhờ sàng sẩy khéo léo, thóc chưa tuột vỏ lại quay lại cối xay, còn lức sang cối giã. Trấu nhẹ nhất thì động tác sẩy cho đi trước, sau đó các hạt thóc chưa tuột vỏ đi sau. Động tác "sẩy" thường do người đan bà khoẻ mạnh làm, họ tỳ nia vào bụng, hất khối gaọh thóc khá nặng, hạt nhẹ văng ra trước, hết lượt vỏ trấu thì tách tiếp thóc. Ừm, cả sàng, dần, sẩy hầy như do phụ nữ làm.
Cối giã cổ nhất giống trên trống đồng, nhưng cối giã sau này có dạng bập bênh. Người giã gạo dùng chân đạp cối làm bật cái chầy của cối lên, nó rơi xuống "phục ùng", rồi người giã bám vào sợi dây hay thanh tre chăng ngang để tự kéo mình lên "ẽo kẹt", thế là "phục ùng ẽo kẹt", triền miên hết đêm này sang năm khác ở nhà đàn bà chăm chỉ. Gạo giã càng lâu vỏ cám càng mòn nhiều, gạo càng trắng bóng và nấu đỡ chát, "mày" cũng văng ra rơi vào "bột cám", làm hạt gạo bao giờ cũng lõm một góc.
"Vỏ cám" và "mày" lúc giã tan thành bột, được "dần" bỏ đi, dần là cái lưới nhưng mau hơn "sàng", lấy gạo lại, bỏ bột cám và tấm xướng dưới, tấm là loại gạo xay giã không may vỡ vụn thành mảnh nhỏ chứ không nguyên hạt gạo. Cám là đồ xưa dùng cho lợn, tấm là thứ gạo bán rẻ tiền nhưng vẫn đủ chất dinh dưỡng, chỉ ăn không ngon, nên Cô Tấm mới lấy được Hoàng Tử.
Dần xong, lại sẩy nhẹ, thế là được thứ gạo sạch trắng bóng. Cám dùng cho lợn, tấm được lấy ra khỏi cám nhờ mẹt, mẹt là cái đồ đựng dẹt như nong nia nhưng bé hơn, kích thước bằng dần, dùng sẩy nhẹ hơn nong nia, tách được tấm ra khỏi cám hay tấm ra khỏi gạo.
Còn, "nghề hàng sáo", "nhà hàng sáo" là dân mua thóc chế thành gạo bán. Lờ lãi chả bao nhiêu, nhưng có cám nuôi lợn, tấm nấu cháo. (Ngày nay, cháo là món ăn quá sang hơn cơm, chứ xưa, cháo là đồ ăn lót lòng hoặc đói quá không đủ gạo nấu cơm).
Việc chế lúa thành gạo gắn liền với cây tre và tình vợ chồng. Trừ cái cối giã, tất cả mọi đồ đều làm bằng tre. Cái cối xay phải thuê ông thợ, còn đâu đều do người đàn ông đan. Các động tác khéo như sàng, sẩy, dần... đều do phụ nữ. Động tác tốn lực nhất là xay do đàn ông.
Giã gạo cũng nữ, người nữ luôn biết giã mạnh hay nhẹ, lúc nào dừng để có thứ gạo thơm ngon nhất.
Người đàn ông cuối cùng biết đan mà tớ biết là một anh rể của bản Suối Hấu.
Cối giã làm bằng đá, mòn dần, rồi thủng, đường dừng để xếp thành "cầu ao". "Cầu ao" không phải là cầu mà là bậc lên xuống cái ao. Nhiều đời tích trữ được rất nhiều cối đá, nhà lại khá lên, thì cầu ao xây gạch, còn cối đã được xếp thành giếng.