daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2012, 01:19:02 am » |
|
Mỹ đã đặt mua tên lửa mới cho các hệ thống hỏa lực bắn loạt Công ty Lockheed Martin đã nhận được hợp đồng của Bộ quốc phòng Mỹ trị giá 79,4 triệu USD thiết kế tên lửa điều khiển mới (GMLRS) cho các hệ thống hỏa lực bắn loạt. Việc này được thông báo trên site của công ty. Theo các điều khoản của hợp đồng, chương trình thiết kế tên lửa mới dự định trong 3 năm. Sự tập trung chính theo kế hoạch hướng vào chế tạo đầu đạn mới và hoàn thiện các chỉ số kỹ thuật của tên lửa. Theo việc hoàn thành thiết kế, tên lửa mới GMRLS sẽ được lên kế hoạch trang bị cho quân đội và Lính thủy đánh bộ Mỹ. Lần đầu tiên Mỹ bắt đầu trang bị các tên lửa điều khiển GMLRS vào năm 2004. Khối lượng mỗi tên lửa gần 309 kilogam, trong đó, 89 kilogam là đầu đạn. Các tên lửa có khả năng tiêu diệt mục tiêu xa 70 kilomet với độ chính xác 10 mét nhờ hệ thống dẫn đường vệ tinh. Hiện nay, các tên lửa GMRLS được trang bị đầu đạn DPICM (Dual Purpose Improved Conventional Munition). Để phóng các tên lửa này sử dụng hệ thống hỏa lực bắn loạt M270 trên gầm xích và các tổ hợp bánh hơi hiện đại hơn HIMARS. Ngoài Mỹ, hệ thống hỏa lực bắn loạt HIMARS được bố trí 6 tên lửa GMLRS có mặt trong trang bị của Canada, Singgapore, Jordani và Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE). http://lenta.ru/news/2012/04/26/gmlrs/США заказали новую ракету для систем залпового огня Компания Lockheed Martin получила контракт министерства обороны США стоимостью 79,4 миллиона долларов на разработку новых управляемых ракет (GMLRS) для систем залпового огня. Об этом сообщается на сайте компании.
По условиям контракта, программа разработки новой ракеты рассчитана на три года. Основное внимание планируется уделить созданию новой боеголовки и усовершенствованию технических показателей ракеты.
По завершении разработки новыми ракетами GMLRS планируется вооружить Армию США и Морскую пехоту.
Впервые США начали вооружаться управляемыми ракетами GMLRS в 2004 году. Вес каждой ракеты составляет около 309 килограммов, из 89 килограммов приходится на боеголовку. Ракеты способны поражать цели на удаленности до 70 километров с точностью до 10 метров благодаря системе спутниковой навигации.
В настоящее время ракеты GMLRS оснащаются боеголовками DPICM (Dual-Purpose Improved Conventional Munition). Для запуска таких ракет используются гусеничные РСЗО М270 и более современные колесные комплексы HIMARS.
Помимо США РСЗО HIMARS, рассчитанные на шесть ракет GMLRS, стоят на вооружении Канады, Сингапура, Иордании и ОАЭ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2012, 02:15:13 am » |
|
Các tổ hợp “Bal” của Nga lần đầu tiên được bắn ở Caspi Lực lượng tên lửa thuộc phân Hạm đội Caspi vào thứ 5, 26 tháng 4 đã thực hiện các loạt bắt tên lửa đầu tiên với sự sử dụng tổ hợp “Bal-E”. Như “Interfax” thông báo với sự dẫn nguồn từ cơ quan thông tin Quân khu phía Nam, cuộc tập trận diễn ra trên trường bắn “Adanak” ở Dagestan. “Việc bắn tên lửa được thực hiện bởi 2 tên lửa chống tàu có cánh kiểu Kh-35 từ các thiết bị phóng tự hành” – trưởng phòng thông tin Quân khu phía Nam – Đại tá Igor Gorbul. Theo lời người trả lời cơ quan thông tin, trong quá trình tập trận, sự tính toán các xe của trạm chỉ huy điều khiển và thông tin đã phát hiện mục tiêu ở tầm xa 50 kilomet trên bãi tập trong khu vực mặt nước biển Caspi. Sau đó, kíp các xe phóng tự hành đã tiêu diệt mục tiêu thành công. Đối phương mô phỏng theo tàu kéo lá chắn – mục tiêu. Về việc cung cấp tổ hợp “Bal” trong phân Hạm đội Caspi đã trở nên rõ ràng vào tháng 12 năm 2011. Tháng 2 năm 2012, cơ quan thông tin Quân khu phía Nam đã thông báo rằng trong thời gian của năm sẽ có kế hoạch tiến hành không dưới 3 cuộc tập bắn với việc sử dụng “Bal-E”. Tháng 9, Bộ Quốc phòng sẽ sử dụng “Bal” trong cuộc tập trận chiến lược “Kavkaz-2012”. Tổ hợp “Bal” được cung cấp cho Quân khu phía Nam, theo lời Gobul đã có khoảng 10 xe. Mỗi tổ hợp “Bal-E” gồm có trạm chỉ huy, thiết bị phóng và xe vận tải – bốc xếp (đạn). “Bal-E” có khả năng tiêu diệt mục tiêu ở tầm xa 120 kilomet trong thời gian ban ngày cũng như ban đêm, trong đó có cả những điều kiện thời tiết không thuận lợi. http://lenta.ru/news/2012/04/26/bal/Российские комплексы "Бал" впервые отстрелялись на Каспии Ракетчики Каспийской флотилии ВМФ в четверг, 26 апреля, выполнили первые ракетные стрельбы с использованием комплекса "Бал-Э". Как сообщает "Интерфакс" со ссылкой на пресс-службу Южного военного округа, учение прошло на полигоне "Аданак" в Дагестане.
"Ракетная стрельба выполнена двумя противокорабельными крылатыми ракетами типа Х-35 из самоходных пусковых установок", - рассказал начальник пресс-службы ЮВО полковник Игорь Горбуль.
По словам собеседника агентства, в ходе учения расчет машин командного пункта управления и связи обнаружил цель на удалении 50 километров на полигоне в акватории Каспийского моря. Затем экипаж самоходных пусковых установок успешно поразил цель. Противника имитировал буксируемый корабельный щит-мишень.
О поставке комплекса "Бал" в распоряжение Каспийской флотилии стало известно в декабре 2011 года. В феврале 2012 года пресс-служба ЮВО заявила, что в течение года планируется провести не менее трех учебных стрельб с использованием "Бал-Э". В сентябре Минобороны намеревалось задействовать "Бал" в стратегическом учении "Кавказ-2012".
В комплект поставки "Бал" для ЮВО, по словам Горбуля, вошло около 10 машин. Каждый комплекс "Бал-Э" состоит из командного пункта, пусковой установки и погрузочной машины.
"Бал-Э" способен поражать цели на расстоянии до 120 километров как в светлое, так и в темное время суток, в том числе и при неблагоприятных погодных условиях.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2012, 12:08:07 pm » |
|
Các trực thăng Sea Hawk sẽ nhận được các ra đa mới Công ty Telephonics Corporation đã nhận được từ công ty Lokheed Martin đơn đặt mua trị giá 330 triệu USD để cung cấp 160 ra đa AN/APS-153 cho các trực thăng MH-60 Sea Hawk của Hải quân Mỹ. Việc này được thông báo trên site của Telephonics. Việc cung cấp các ra đa sẽ được thực hiện trong khuôn khổ hợp đồng 5 năm của Hải quân Mỹ và Lockheed Martin với 1,05 tỷ USD để nâng cấp khí tài điện tử mang theo của Sikorsky MH-60. Hợp đồng, cụ thể, dự kiến cung cấp hơn 200 cabin của khi công với các màn hình thông tin kỹ thuật số và máy vi tính mang theo. Như đã thông báo, đối với MH-60R trong các khuôn khổ hợp đồng đã sử dụng 162 tổ hợp điện tử hàng không, thêm 60 tổ hợp - cho MH-60S. MH-60S sẽ nhận các ra đa nào, không được làm rõ. Tổng cộng, trong Không quân Mỹ gồm có 300 trực thăng Sea Hawk MH-60R “Romeo” và MH-60S “Sierra”. Các công việc nâng cấp chúng dự kiến hoàn thành vào năm 2018. Theo thông tin từ site Telephonics Corporatinon, các ra đa AN/APS-153 là phiên bản hiện đại hóa của các ra đa AN/APS-147, trang bị trên các trực thăng Sea Hawk. AN/APS-153 có khả năng phát hiện thậm chí các mục tiêu không lớn trong điều kiện thời tiết bất kỳ trong thời gian cả ngày lẫn đêm. Trong thành phần ra đa đồng thời có đài ra đa định vị với khí tài tổng hợp nghịch đảo (ISA) và hệ thống xác định “bạn – thù”. http://lenta.ru/news/2012/04/26/seahawk/Вертолеты Sea Hawk получат новые радары Компания Telephonics Corporation получила от компании Lockheed Martin заказ стоимостью 330 миллионов долларов на поставку 160 радаров AN/APS-153 для вертолетов MH-60R Sea Hawk ВМС США. Об этом сообщается на сайте Telephonics.
Поставка радаров будет осуществляться в рамках пятилетнего контракта ВМС США и Lockheed Martin стоимостью 1,05 миллиарда долларов на модернизацию бортовой электроники вертолетов Sikorsky MH-60. Соглашение, в частности, предусматривает поставку свыше 200 кабин пилотов с цифровыми информационными экранами и бортовых компьютеров.
Как сообщалось, для MH-60R в рамках контракта предназначалось 162 комплекта авионики, еще 60 комплектов - для MH-60S. Какие радары получат вертолеты MH-60S, не уточняется.
В общей сложности на вооружении ВМС США стоят свыше 300 вертолетов Sea Hawk версий MH-60R "Romeo" и MH-60S "Sierra". Работы по их модернизации должны завершиться к 2018 году.
По информации с сайта Telephonics Corporation, радары AN/APS-153 являются усовершенствованной версией радаров AN/APS-147, которыми оснащаются вертолеты Sea Hawk. AN/APS-153 способен обнаруживать даже небольшие цели в любых погодных условиях и в любое время суток. В состав радара также входит радиолокационная станция с инверсивной синтезированной апертурой (ИСА) и система опознавания "Свой-чужой".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2012, 12:46:36 am » |
|
Nga đã bán cho Ấn Độ tàu chiến đề án 11356 Xưởng đóng tàu Pribaltic “Yantar” đã chuyển giao (bán) cho Hải quân Ấn Độ tàu chiến đầu tiên thuộc đề án 11356, được đóng theo hợp đồng thứ hai cung cấp 3 tàu này, được nói đến trong thông tin của tập đoàn đóng tàu Liên hiệp. Lễ bàn giao chính thức tàu đã diễn ra ở “Yantar” ngày 27 tháng 4 năm 2012. Trong biên chế Hải quân Ấn Độ, tàu chiến mới nhận tên gọi “Teg”. Hợp đồng cung cấp 3 tàu đầu tiên đề án 11356, Ấn Độ đã ký vào cuối những năm 1990. Hai tàu đầu tiên – “Talvar” và “Trisul” – đã gia nhập biên chế Hải quân Ấn Độ vào tháng 5 và tháng 11 năm 2000, còn tàu cuối cùng – “Tabar” – tháng 5 năm 2001. Hợp đồng cung cấp lô 3 tàu thứ 2 đã được ký năm 2006. Tổng giá trị hợp đồng là 1,5 tỷ USD. Tháng 8 năm 2011, Bộ trưởng quốc phòng Ấn Độ Aracaparambil Curian Antoni đã tuyên bố rằng, công ty Nga “Rosoboronesport” đã báo cho quân đội Ấn Độ về việc chậm trễ trong việc cung cấp các tàu chiến trong lô mới. Ban đầu theo kế hoạch, rằng tàu chiến đầu tiên thuộc đề án 11356 – “Teg” – sẽ được bán cho bên mua vào tháng 4 năm 2011, tàu thứ hai – “Tarcas” – tháng 10 năm 2011, còn tàu thứ ba – “Tricand” – tháng 4 năm 2012. Kế hoạch thay đổi đã dự định bàn giao cho Hải quân Ấn Độ tàu đầu tiên vào tháng 4 năm 2012, tàu thứ hai – tháng 9 năm 2012, còn tàu thứ ba – tháng 6 năm 2013. Tàu đề án 11356 có lượng choán nước 4000 tấn. Chiều dài thân tàu 124,8 mét. Tàu có khả năng đạt tốc độ tối đa 30 hải lý, tầm bơi xa 4500 kilomet. Tàu được trang bị các loại pháo đối hải, các tổ hợp pháo – tên lửa phòng không, các thiết bị ngư lôi và các tên lửa chống tàu Club-N. http://lenta.ru/news/2012/04/27/frigate/Россия передала Индии фрегат проекта 11356 Прибалтийский судостроительный завод "Янтарь" передал ВМС Индии первый фрегат проекта 11356, построенный по контракту на поставку второй тройки таких кораблей, говорится в сообщении Объединенной судостроительной корпорации. Официальная церемония передачи корабля состоялась на "Янтаре" 27 апреля 2012 года. В составе индийских ВМС новый фрегат получит имя "Тег".
Контракт на поставку первых трех фрегатов проекта 11356 Индия подписала в конце 1990-х годов. Первые два корабля - "Тальвар" и "Тришул" - поступили на вооружение индийских ВМС в мае и ноябре 2000 года, а последний - "Табар" - в мае 2001-го. Контракт на поставку второй партии из трех фрегатов был заключен в 2006 году. Сумма сделки составила 1,5 миллиарда долларов.
В августе 2011 года министр обороны Индии Аракапарамбил Куриан Энтони объявил, что госкомпания "Рособоронэкспорт" уведомила индийское военное ведомство о задержках в поставке фрегатов новой партии.
Изначально планировалось, что первый корабль проекта 11356 - "Тег" - будет передан заказчику в апреле 2011 года, второй - "Таркаш" - в октябре 2011 года, а третий - "Триканд" - в апреле 2012 года. Измененный график предусматривал передачу ВМС Индии первого фрегата в апреле 2012 года, второго - в сентябре 2012 года, а третьего - в июне 2013-го.
Корабли проекта 11356 обладают водоизмещением в четыре тысячи тонн. Длина корпуса фрегата составляет 124,8 метра. Корабли способны развивать скорость до 30 узлов, а дальность их хода составляет 4,5 тысячи миль. Фрегаты вооружены артиллерийскими установками, зенитными ракетно-артиллерийскими комплексами, торпедными аппаратами и противокорабельными ракетами Club-N.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2012, 01:08:34 am » |
|
Saab nâng cấp tàu sân bay “Chakri Narubet” của Thái Lan Công ty Thụy Điển Saab đã nhận đơn đặt hàng của Hải quân Thái Lan về nâng cấp hệ thống điều khiển và kiểm tra tàu sân bay “Chakri Narubet”. Như thông báo trên ấn phẩm của công ty, giá trị của hợp đồng là 180 triệu cron Thụy Điển (26,7 triệu USD). Trong các phạm vi nâng cấp, tàu sẽ nhận hệ thống điều khiển mới 9LV Mk4. Ngoài ra, Saab sẽ trang bị cho tàu sân bay các hệ thống truyền tải thông tin mới để đảm bảo sự phối hợp với các máy bay tiêm kích Gripen và các máy bay cánh báo từ xa và điều khiển Saab 340 Erieye, đồng thời đang có trong trang bị của Thái Lan. Việc nâng cấp tàu sân bay sẽ hoàn thành vào năm 2015. “Chakri Narubet” được đóng bởi xưởng đóng tàu “Bazan” (Tây Ban Nha) và tháng 3 năm 1997 gia nhập biên chế Hải quân Thái Lan. Tàu có lượng choán nước 11 400 tấn và chiều dài 182,6 mét. Tàu sân bay có tốc độ tối đa 25,5 hải lý (47,2km/h) và tầm bơi xa 19 000 dặm. Tàu có thủy thủ đoàn 455 người, gồm 62 sỹ quan. Nhóm phi công trên “Chakri Narubet” gồm 146 người. Trên boong tàu có 14 máy bay và trực thăng (các máy bay cường kích Harrier và trực thăng Sikorsky Sea Hawk S-70). Trong trang bị của tàu sân bay, trong số đó, gồm có 2 thiết bị tên lửa phòng không Mistral với 6 tên lửa/thiết bị. Theo các thông tin của Flightglobal MiliCAS, trong trang bị của Thái Lan gồm 2 máy bay tiêm kích một chỗ ngồi Saab JAS 39 Gripen trong phiên bản C và 4 Gripen D hai chỗ ngồi. Ngoài ra, Không quân Thái Lan còn có một máy bay cảnh báo từ xa và điều khiển Saab 340 (AEW). Trong tương lai, dự kiến, (Thái Lan) sẽ được cung cấp thêm 1 Saab 340 và 6 Gripen C. http://lenta.ru/news/2012/04/27/saab/Saab модернизирует тайский авианосец "Чакри Нарубет" Шведская компания Saab получила заказ ВМС Таиланда на модернизацию системы управления и контроля авианосца "Чакри Нарубет". Как сообщается в пресс-релизе компании, стоимость контракта составляет 180 миллионов шведских крон (26,7 миллиона долларов).
В рамках модернизации корабль получит новейшую систему управления 9LV Mk4. Кроме того, Saab оснастит авианосец новыми системами передачи данных для обеспечения взаимодействия с истребителями Gripen и самолетами дальнего радиолокационного обнаружения и управления Saab 340 Erieye, также стоящими на вооружении Таиланда. Модернизация авианосца завершится в 2015 году.
"Чакри Нарубет" был построен испанской верфью Bazan и в марте 1997 года поступил на вооружение ВМС Таиланда. Корабль имеет водоизмещение 11,4 тонны и длину 182,6 метра. Авианосец способен развивать скорость до 25,5 узла (47,2 километра в час) и способен преодолевать до 19 тысяч километров.
Корабль рассчитан на 455 человек экипажа, включая 62 офицеров. Авиагруппа "Чакри Нарубет" состоит из 146 человек. На палубе корабля может размещаться до 14 самолетов и вертолетов (штурмовики Harrier и вертолеты Sikorsky Sea Hawk S-70). На вооружении авианосца, среди прочего, стоят две зенитные ракетные установки Mistral на шесть ракет каждая.
По данным Flightglobal MiliCAS, на вооружении Таиланда стоят два одноместных истребителя Saab JAS 39 Gripen в версии C и четыре двухместных Gripen D. Кроме того, ВВС Таиланда располагают одним самолетом радиолокационного обнаружения и управления Saab 340 (AEW). В будущем ожидается поставка еще одного Saab 340 и шести Gripen C.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2012, 12:50:51 pm » |
|
Máy bay tiêm kích mới nhất T-50 sẽ biểu diễn cho khách nhân ngày lễ của Quân chủng Không quân ở ngoại ô Moskva Moskva, 27 tháng 4 RIA Novosti Mày bay tiêm kích thế hệ thứ năm mới nhất T-50 sẽ được trưng bày trong ngày lễ kỷ niệm 100 năm thành lập Quân chủng Không quân Nga sẽ diễn ra ở thành phố Zhucov ngoại ô Moskva vào tháng 8 năm 2012 – tài liệu tương ứng đã được đăng (bố trí) vào thứ sáu trên cổng thông tin chính thức. Tổng thống Nga Dmitri Medvedev bằng mệnh lệnh của mình từ 26 tháng 4 đã phê duyệt danh sách các mẫu sản phẩm quân sự sẽ được giới thiệu trong ngày lễ hàng không Quốc tế trong các ngày 11 và 12 tháng 8. Trong danh sách này, gồm có T-50 và máy bay mang tên lửa chiến lược Tu-95MS. Tu-95 – máy bay mang tên lửa – ném bom chiến lược động cơ tuabin cánh quạt của Liên Xô, một trong những máy bay cánh quạt nhanh nhất. Được tiếp nhận vào trang bị năm 1956. Hiện nay, biến thể T-95MS trang bị tên lửa có cánh Kh-55 là xương sống của lực lượng Không quân tầm xa Nga. Vật trưng bày triểm lãm thứ hai, T-50 (đề án PAK FA) – máy bay thế hệ thứ năm, trang bị tổ hợp điện tử hàng không mới theo nguyên tắc, chức năng “phi công điện tử” và đài ra đa định vị tương lai với ăng ten lưới mảng pha. Lần cất cánh đầu tiên diễn ra ngày 29 tháng 1 năm 2010 ở Komsomol-na-Amur. Máy bay được công bố lần đầu tiên – 17 tháng 8 năm 2011 ở thành phố Zhucov ngoại ô Moskva trong triển lãm Hàng không vũ trụ quốc tế MAKS-2011. Trước đó, các đại diện của Quân chủng Không quân đã tuyên bố rằng sẽ mở cửa tự do cho mọi khách tham quan. Ở thành phố Zhucov, hàng năm có triển lãm Hàng không vũ trụ MAKS, tuy nhiên, vào cửa theo hình thức trả tiền. http://ria.ru/mosobl/20120427/636681407.htmlНовейший истребитель Т-50 покажут гостям праздника ВВС в Подмосковье МОСКВА, 27 апр - РИА Новости. Новейший истребитель пятого поколения Т-50 будет экспонироваться на празднике, посвященном столетию со дня образования ВВС РФ, который пройдет в подмосковном Жуковском в августе 2012 года - соответствующий документ размещен в пятницу на официальном портале правовой информации.
Президент РФ Дмитрий Медведев своим распоряжением от 26 апреля утвердил список образцов продукции военного назначения, которая будет представлена на Международном авиационном празднике 11 и 12 августа. В этот список, среди прочих, попали Т-50 и стратегический ракетоносец ТУ-95МС.
Ту-95 - советский турбовинтовой стратегический бомбардировщик-ракетоносец, один из самых быстрых винтовых самолетов. Принят на вооружение в 1956 году. Сейчас модификация Ту-95МС, вооруженная крылатыми ракетами X-55, составляет костяк Дальней авиации России.
Второй экспонат, Т-50 (проект ПАК ФА), - самолет пятого поколения, оснащенный принципиально новым комплексом авионики, функцией "электронного пилота" и перспективной радиолокационной станцией с фазированной антенной решеткой. Первый вылет состоялся 29 января 2010 года в Комсомольске-на-Амуре, первый публичный показ истребителя - 17 августа 2011 года в подмосковном Жуковском на международном авиационно-космическом салоне МАКС-2011.
Ранее представители ВВС РФ заявляли, что на мероприятие будет открыт бесплатный вход для всех желающих. В Жуковском ежегодно проходит авиационно-космический салон МАКС, однако вход на него платный.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2012, 12:27:29 am » |
|
Các S-300V được nâng cấp đang quay trở lại quân đội Nga Moskva 28 tháng 4 – RIA Novosti, Sergei Safronov Quân đội Nga đã khôi phục lại việc đặt mua khối lượng lớn các hệ thống tên lửa phòng không S-300V, thông báo trong bài phỏng vấn của RIA Novosti từ Tổng giám đốc nhà thiết kế các hệ thống này – tập đoàn phòng không “Almaz – Altei” Vladislav Mensicov. Nguyên lãnh đạo hệ thong phòng thiết kế chính “Almaz – Altei” Igor Ashurbeili trước đã cũng thông báo rằng, việc sản xuất các hệ thống S-300 cho quân đội Nga đã chấm dứt. Chỉ có các hợp đồng xuất khẩu được thực hiện. “Trong chương trình vũ khí quốc gia 2020 (GPV-2020) đã khởi công số lượng đặt mua đủ lớn các hệ thống tên lửa phòng không S-300V (cho Bộ Quốc phòng Nga)” – Mensicov nói. Ông đã nhấn mạnh rằng các hệ thống S-300P và S-300V không thể đồng nhất hoàn toàn. “Chúng được chế tạo để giải quyết các nhiệm vụ khác nhau trên cơ sở phần tử khác nhau, với các giải pháp kỹ thuật khác nhau. S-300V được sử dụng cho Phòng không Lục quân, S-300P – cho công trình và nhiệm vụ của một hệ thống tên lửa phòng không, theo các nguyên nhân khác nhau, thực hiện nhiệm vụ khác một cách không hoàn toàn tối ưu” – Tổng giám đốc tập đoàn nói. Theo lời ông, có hàng loạt các phương pháp đầy đủ hiệu chỉnh nâng cấp các hệ thống S-300V đã được chế tạo. “Thì, rằng thời gian dài, các tổ hợp này không được đặt mua, dĩ nhiên, sẽ ảnh hưởng tới tình hình. Nhưng chúng tôi có kinh nghiệm khôi phục sản xuất” – ông bổ sung. Mensicov đã nhấn mạnh, rằng nhiều nước trên thế giới xuất hiện sự quan tâm lới tới việc mua sản phẩm quân sự, được thiết kế và chế tạo bởi các xí nghiệp của tập đoàn “Almaz - Altei”. Bộ trưởng quốc phòng Nga Anatoli Seducov và Tổng giám đốc liên doanh Tập đoàn phòng không “Almaz – Altei” Vladislav Mensicov trong tháng 3 đã ký hợp đồng cung cấp cho Lục quân các hệ thống tên lửa phòng không S-300V4. Tương ứng với hợp đồng, ba tiểu đoàn đầu tiên của các hệ thống này (S-300V4) sẽ được cung cấp và đưa vào khai thác sử dụng ở Quân khu phía Nam. Hệ thống tên lửa phòng không S-300V4 là sự phát triển tiếp theo của hệ thống S-300V và S-300VM. Nó gần với các mẫu vũ khí thuộc Quân chủng phòng không và đảm bảo khả năng tiêu diệt các tên lửa đạn đạo và mục tiêu khí động học trên tầm xa hơn 300 kilomet. Theo một số thông tin, trong trang bị của quân đội Nga gồm có hơn 2000 thiết bị S-300 với các biến thể khác nhau. Chúng là cơ sở của hệ thống phòng không Nga. http://ria.ru/defense_safety/20120428/637121862.htmlМодернизированные С-300В возвращаются в российскую армию МОСКВА, 28 апр - РИА Новости, Сергей Сафронов.
Российская армия возобновила массовую закупку зенитных ракетных систем (ЗРС) С-300В, сообщил в интервью РИА Новости генеральный директор разработчика этих систем концерна ПВО "Алмаз-Антей" Владислав Меньщиков.
Бывший руководитель головного системного конструкторского бюро "Алмаз-Антей" Игорь Ашурбейли ранее сообщил, что производство систем С-300 для российской армии прекращено. Выполняются только экспортные контракты.
"В ГПВ-2020 заложены достаточно большие объемы закупок модернизированных ЗРС С-300В (для Минобороны РФ)", - сказал Меньщиков.
Он подчеркнул, что системы С-300П и С-300В унифицировать, в целом, невозможно.
"Они созданы для решения разных задач на разной элементной базе, с разными техническими решениями. С-300В предназначена для войсковой ПВО, С-300П - для объектовой, и задачу одной ЗРС, по различным соображениям, нецелесообразно выполнять другой", - сказал гендиректор концерна.
По его словам, есть целый ряд предприятий, ориентированных на модернизацию и изготовление системы С-300В. "То, что длительное время данные комплексы не заказывались, безусловно, сказывается на ситуации. Но опыт восстановления производства у нас есть", - добавил собеседник агентства. Меньщиков отметил, что многие страны мира проявляют устойчивый интерес к приобретению продукции военного назначения, разрабатываемой и выпускаемой предприятиями концерна "Алмаз-Антей".
Министр обороны РФ Анатолий Сердюков и гендиректор ОАО "Концерн ПВО "Алмаз-Антей" Владислав Меньщиков в марте подписали контракт на поставку для Сухопутных войск зенитных ракетных систем С-300В4. В соответствии с контрактом, первые три дивизиона этих ЗРС должны быть поставлены и введены в эксплуатацию в Южном военном округе.
Зенитная ракетная система C-300B4 является дальнейшей модернизацией ЗРС С-300В и С-300ВМ. Она относится к приоритетным образцам вооружения ПВО и обеспечивает поражение баллистических ракет и аэродинамических целей на дальностях более 300 километров.
По некоторым данным, на вооружении российской армии находятся более 2 тысяч установок С-300 различных модификаций. Они составляют основу систему противовоздушной обороны России.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2012, 12:39:04 am » |
|
Nhà thiết kế - Các hệ thống S-400 của Nga hiện nay không bán ra nước ngoài Moskva 28 tháng 4 – RIA Novosti, Sergei Safronov Việc xuất khẩu các hệ thống tên lửa phòng không S-400 mới nhất sẽ chỉ trở thành hiện thực sau khi trang bị hoàn toàn đầy đủ cho quân đội Nga, thông báo trong bài phỏng vấn của RIA Novosti với Tổng giám đốc nhà sản xuất hệ thống này – Tập đoàn phòng không “Almaz – Altei” Vladislav Mensicov. Trước đó, Bộ quốc phòng đã tuyên bố rằng đến năm 2015, toàn bộ việc sản xuất S-400 sẽ làm việc trong các yêu cầu của Nga. Thậm chí, các đồng minh của Nga là Belarus và Kazastan sẽ chỉ nhận được các tổ hợp mới nhất sau khi chúng được trang bị hoàn toàn cho hệ thống phòng không – phòng thủ tên lửa của Nga. “Tất nhiên, khả năng xuất khẩu (cung cấp) S-400 ra nước ngoài là có, nhưng, như đã nói không dưới một lần (nhiều lần), đến thời điểm này, hiện tại chúng tôi không đảm bảo yêu cầu của Bộ quốc phòng, việc xuất khẩu chúng sẽ bị hạn chế” – Mensicov nói. Hệ thống phòng không S-400 “Triumf” – hệ thống phòng không tầm trung – xa. Theo các thông số kỹ chiến thuật, S-400 có khả năng tiêu diệt toàn bộ các mục tiêu đường không có người lái và không người lái ở tầm xa 400 kilomet. Hiện nay, trong quân đội Nga đã hình thành hai trung đoàn S-400 - ở các khu vực Dmitrova và Electrostal ngoại ô Moskva theo 2 tiểu đoàn ở mỗi khu vực. Trung đoàn thứ ba được thành lập ở Hạm đội Baltic. Năm 2012 và trong những năm sau, hệ thống S-400 sẽ được bố trí ở các khu vực duyên hải và biên giới của Nga, cụ thể là Viễn Đông. http://ria.ru/defense_safety/20120428/637124222.htmlРоссийские системы ПВО С-400 за рубеж пока не продаются - разработчик МОСКВА, 28 апр - РИА Новости, Сергей Сафронов.
Экспорт новейших зенитных ракетных систем (ЗРС) С-400 станет возможен лишь после полного удовлетворения потребностей российской армии, сообщил в интервью РИА Новости генеральный директор разработчика этих систем концерна ПВО "Алмаз-Антей" Владислав Меньщиков.
Ранее руководство Минобороны заявляло, что до 2015 года все производство С-400 будет работать в интересах России. Даже российские союзники Белоруссия и Казахстан получат эти новейшие комплексы только после того, как ими полностью оснастят российскую систему ПРО-ПВО.
"Безусловно, возможность поставки С-400 за рубеж есть, но, как уже неоднократно говорилось, до тех пор, пока мы не обеспечим нужды нашего министерства обороны, ее экспортные поставки будут ограничены", - сказал Меньщиков.
ЗРС С-400 "Триумф" - система большой и средней дальности. По техническим характеристикам С-400 способна поражать все типы пилотируемых и беспилотных воздушных целей на дальности до 400 километров.
В настоящее время в российской армии сформированы два полка С-400 - в подмосковных Дмитрове и Электростали по два дивизиона в каждом. Третий полк формируется на Балтийском флоте. В 2012 и в последующем году ЗРС С-400 будут размещаться в приморских и приграничных районах России, в частности на Дальнем Востоке
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2012, 01:08:05 am » |
|
Anh từ chối xuất khẩu vũ khí tới Argentina Chính phủ Anh đã thực hiện việc cấm hoàn toàn việc xuất khẩu các sản phẩm quân sự tới Argentina, thông báo từ Jane’s. Trước đó, trong thời gian 14 năm, hoạt động này chỉ cấm một phần, rơi vào các thiết bị, phụ tùng và vật liệu tiêu thụ. Theo lời Bộ trưởng Tài chính Anh Vince Cable, nguyên nhân cho lệnh cấm hoàn toàn xuất khẩu là chính quyền Argentina “có thể gây tổn hại tới lợi ích kinh tế của người dân trên quần đảo Falkland”. Theo lời Cable, từ nay, việc xuất khẩu sẽ chỉ có khả năng ở vũ khí phòng thủ và sản phẩm ý nghĩa kép và “chỉ trong các trường hợp đặc biệt”. “Trường hợp đặc biệt” là gì, Cable không nói rõ. Hiện nay, Bộ Tài chính và thủ công nghiệp Anh (BIS) đóng vai trò nghiên cứu lại việc cấp giấy phép sản xuất sản phẩm quân sự, trước đó được bán cho Argentina. Số lượng lớn trong số chúng có thể sẽ bị hủy bỏ. Theo các thông tin của BIS, năm 2011, lượng bán sản phẩm quân sự Anh cho Argentina là gần 1 tỷ bảng (1,63 tỷ USD). Trong tổng số này, đồng thời bao gồm giấy phép sản xuất các bộ phận khác nhau cho các thiết bị bay vận tải và chiến đấu, động cơ máy bay chiến đáu, tàu chiến và động cơ của chúng, đồng thời khí tài bảo dưỡng máy bay trên mặt đất. Anh đồng thời đã cung cấp các hệ thống thông tin liên lạc, trang bị mã hóa, thước ngắm, đạn cỡ nhỏ và áo giáp chống đạn. Như Jane’s nhấn mạnh với sự dẫn nguồn từ người đại diện BIS, hiện nay, Anh sẽ đồng thời nghiên cứu một cách cẩn thận bất kỳ yêu cầu nào từ phía Argentina trong việc bán giấy phép sản xuất sản phẩm dân sự. Mùng 2 tháng 4 năm 2012 – tròn 30 năm từ thời điểm xung đột của quân đội Argentina trên quần đảo Falkland, khi đó nằm dưới sự kiểm soát của Anh. Chiến tranh đã kéo dài 74 ngày và kết thúc bằng thắng lợi của Anh. Mặc dù vậy, từ thời điểm đó, Falkland được tính là khu vực đang tranh chấp. Giai đoạn tiếp theo của cuộc tranh chấp lãnh thổ được bắt đầu vào tháng 12 năm 2011, khi Argentina đã đóng cửa cảng đối với các tàu đang hoạt động dưới (treo) cờ Falkland. Anh – để đáp trả, đã tăng cường tổng số quân trên các quần đảo Falkland. http://lenta.ru/news/2012/04/28/banned/Великобритания отказалась от экспорта вооружений в Аргентину Правительство Великобритании ввело полный запрет на экспорт продукции военного назначения в Аргентину, сообщает Jane's. Ранее на протяжении 14 лет действовал лишь частичный запрет, под который не попадали инструменты, запчасти и расходные материалы. По словам министра бизнеса Великобритании Винса Кейбла (Vince Cable), поводом для полного запрета экспорта стала политика Аргентины, "которая может повредить экономическим интересам жителей Фолклендских островов".
По словам Кейбла, отныне будет возможен экспорт в Аргентину только лишь оборонительных вооружений и продукции двойного назначения и "лишь в исключительных случаях". Что является "исключительным случаем", Кейбл не уточнил. В настоящее время министерство бизнеса, инноваций и ремесел Великобритании (BIS) занимается пересмотром лицензий на производство военной продукции, ранее переданных Аргентине. Большинство из них может быть отменено.
По данным BIS, в 2011 году продажи британской военной продукции Аргентине составили около миллиарда фунтов стерлингов (1,63 миллиарда долларов). В эту сумму также входят лицензии на производство различных компонентов для боевых и транспортных летательных аппаратов, военных авиадвигателей, кораблей и их двигателей, а также наземного обслуживания самолетов. Великобритания также поставляла системы связи, шифровальное оборудование, прицелы, малокалиберные боеприпасы и бронежилеты.
Как отмечает Jane's со ссылкой на представителя BIS, теперь Великобритания будет также тщательно изучать любой запрос со стороны Аргентины на продажу лицензии на производство гражданской продукции.
2 апреля 2012 года исполнилось 30 лет с момента вторжения аргентинских войск на Фолклендские острова, находившиеся в то время под контролем Великобритании. Война длилась 74 дня и закончилась победой Великобритании. Тем не менее, с тех пор Фолкленды считаются спорной территорией. Очередной этап территориальных споров начался в декабре 2011 года, когда Аргентина закрыла порты для судов, ходящих под фолклендским флагом. Великобритания в ответ усилила военный контингент на Фолклендских островах.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2012, 01:29:41 am » |
|
Máy bay tiêm kích trên boong Tejas đã thực hiện chuyến bay đầu tiên Phiên bản máy bay tiêm kích trên boong huấn luyện hạng nhẹ của Không quân Ấn Độ vào 27 tháng 4 năm 2012 đã hoàn thành chuyến bay đầu tiên, thông báo từ Jane’s. Tổng cộng, máy bay đã bay trên không trong 20 phút. Các thí nghiệm máy bay tiêm kích đã được tiến hành với khung gầm. Trong cơ quan thiết kế thiết bị dẫn đường hàng không (ADA), đóng vai trò chế tạo máy bay, đã thông báo rằng gầm không được tháo vì lý do an toàn. Trung tâm chứng nhận và đánh giá sản phẩm quân sự của Ấn Độ (CEMILAC) tháng 3 năm 2012 đã từ chối sự chứng nhận phiên bản máy bay tiêm kích trên boong hạng nhẹ Tejas. Do đó, máy bay không được phép cất cánh lần đầu tiên. Như Jane’s nhấn mạnh, trên máy bay tiêm kích, gầm vững chắc đã không được hoàn thiện, các hệ thống điều khiển bay, còn bộ phận hãm trong thời gian hạ cánh đã bị quá nhiệt. Ngoài ra, sự hỏng hóc còn xuất hiện với hệ thống nhiên liệu, máy lọc dầu và sự đảm bảo lập trình. Việc khắc phục các nhược điểm này đã được làm hay chưa, hiện tại chưa rõ. Ban đầu theo kế hoạch, chuyến bay đầu tiên của phiên bản Tejas trên boong diễn ra vào năm 2010, tuy nhiên sau đó, các thời hạn được thay đổi một cách thường xuyên. Máy bay tiêm kích trên boong theo kế hoạch được trang bị cho tàu sân bay Ấn Độ “Vicramaditia” (trước đó là “Đô đốc Gorshcov”). Đối với các mục tiêu này, Hải quân Ấn Độ đã đặt của HAL 46 máy bay Tejas trong các phiên bản 2 và 1 chỗ ngồi. Tới thời điểm nay, Bộ quốc phòng Ấn Độ đã đồng ý mua 8 trong số chúng (4 máy bay 2 chỗ ngồi và số lượng tương tự máy bay 1 chỗ ngồi) và tiêu tốn 19 tỷ rupi (gần 380 triệu USD) để mua 2 máy bay. Chuyến bay đã được thực hiện của nguyên mẫu đầu tiên Tejas – NP–1- được chế tạo trên cơ sở Tejas cho Không quân và có nhiều phần chung với nó. Cụ thể, kích thước đèn cabin của phi công thực tế không thay đổi. Như dự kiến, nguyên mẫu thứ hai – NP-2 sẽ là 1 chỗ ngồi, nhưng sẽ nhận được cabin của phi công và đèn lớn hơn. Ngoài ra, sẽ có một số thay đổi trong thiết kế cánh, gầm và hệ thống hạ cánh trên boong. Tám (8 ) máy bay Tejas trên boong đầu tiên sẽ nhận động cơ General Electric F404, nhưn trên toàn bộ các máy bay sau sẽ lắp động cơ F414 mạnh hơn. Việc thiết kế máy bay tiêm kích Tejas được các chuyên gia Ấn Độ thực hiện từ năm 1984. Các công việc cho phiên bản trên boong bắt đầu từ những năm 2000. Ngoài ra, Ấn Độ sẽ chính thức chế tạo phiên bản máy bay tiêm kích hạng nhẹ huấn luyện chiến đấu. http://lenta.ru/news/2012/04/28/first/Палубный истребитель Tejas выполнил первый полет Учебная палубная версия индийского легкого истребителя Tejas 27 апреля 2012 года совершила первый полет, сообщает Jane's. В общей сложности двухместный самолет находился в воздухе 20 минут. Испытания истребителя проводились с выпущенными шасси. В Агентстве аэронавигационных разработок (ADA), занимающемся созданием самолета, пояснили, что шасси не были убраны из соображений безопасности.
Центр сертификации и оценки военной продукции Индии (CEMILAC) в марте 2012 года отказал в сертификации палубной версии легкого индийского истребителя Tejas, из-за чего машина не была допущена к первому полету. Как отмечает Jane's, на истребителе были недоработаны стойки шасси, системы управления полетом, а тормоза во время посадки перегревались. Кроме того, существовали неполадки с топливной системой, масляными фильтрами и программным обеспечением. Были ли исправлены эти недочеты, пока неизвестно.
Изначально планировалось, что первый полет палубной версии Tejas состоится в 2010 году, однако впоследствии сроки регулярно переносились. Палубный истребитель планируется приписать к индийскому авианосцу "Викрамадитья" (бывший "Адмирал Горшков"). Для этих целей ВМС Индии заказали у HAL 46 самолетов Tejas в двухместном и одноместном исполнении.
К настоящему времени министерство обороны Индии одобрило покупку восьми из них (четыре двухместных версии и такое же количество одноместных) и выделило 19 миллиардов рупий (около 380 миллионов долларов) на приобретение двух самолетов.
Выполнивший полет первый прототип палубного Tejas - NP-1 - создан на базе Tejas для ВВС и имеет множество общих с ним деталей. В частности, размер фонаря кабины пилотов практически не изменился. Как ожидается, второй прототип - NP-2 - будет одноместным, но получит увеличенную кабину пилота и фонарь. Кроме того, будет несколько изменена конструкция крыльев, шасси и системы посадки на палубу. Первые восемь палубных Tejas получат двигатели General Electric F404, но на все последующие самолеты будут ставиться более мощные F414.
Разработкой истребителя Tejas индийские специалисты занимаются с 1984 года. Работы над палубной версией начались в 2000-х годах. Кроме того, Индия намерена создать и учебно-боевую версию легкого истребителя для ВВС.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|