Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:27:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201777 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #80 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 01:24:51 am »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Planshet-57”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-300 “Angara” (Head Net A)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”Rif-S”

Đài thủy âm

+ “Pegas-2”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Bizan-4”

+ “Krab-11, - 12”

+ BOKA bảo vệ thủy âm

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Kiparis-57” cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh

+ 2x”Fut-B” (Hawk Screech) cho pháo

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xSVP-42-50 (Egg Cup)

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #81 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:01:50 am »

Đề án 956 “Sarưch” – Lớp “Sovremenny”


Tổng số tàu đã đóng: 18+2

Các biến thể

+ 956 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1980)

+ 956-A – đề án sản xuất hàng loạt với các khí tài vô tuyến điện và đạo hàng mới (1991)

+ 956-E – đề án sản xuất hàng loạt xuất khẩu cho Hải quân Trung Quốc (1989)

+ 956-U – đề án với vũ khí tăng cường (không được đóng)

+ 956-EM – đề án nâng cấp cho Hải quân Trung Quốc với thành phần vũ khí mới (2005).

Các tàu đề án 956 đánh dấu sự khôi phục lớp tàu khu trục ngư lôi sau 20 năm gián đoạn. Đây là các tàu khu trục duy nhất trong toàn bộ lịch sử Hải quân Liên Xô được tính (xếp) một cách chính thức vào các tàu cấp 1. Khi chuẩn bị các nhiệm vụ kỹ chiến thuật được đưa ra trong năm 1970, đề án lúc đầu dự định như tàu pháo – tên lửa có lượng choán nước gần 5000 tấn để đảm bảo đổ bộ cho Hải quân đánh bộ, nhưng sau đó đã làm cho nó trở nên đa năng hơn theo nhiệm vụ để tàu có thể hoạt động không chỉ trong biên chế cụm tàu, mà còn hoạt động độc lập. Đặc biệt, đối với đề án 956 đã bắt đầu chế tạo pháo 130mm.

Việc thiết kế được thực hiện từ năm 1971 ở Leningrad bởi tập thể các giáo sư do V.Yukhin đứng đầu trong Phòng thiết kế thí nghiệm phương Bắc, Tổng công trình sư I.I.Rubis, giám sát viên chính từ Hải quân là thuyền trưởng cấp 1 I.M.Stetsyura, sau đó – thuyền trưởng cấp 2 V.G.Basov. Theo thiết kế thân, tàu có cấu trúc dạng nửa thùng với sự bố trí đối xứng pháo và tổ hợp tên lửa phòng không. Khi có vũ khí tấn công mạnh, tàu khu trục đề án 956 được trang bị các khí tài chống ngầm, chỉ đảm bảo bảo vệ tàu khỏi tàu ngầm. Khi tính toán các điểm này, đã tiếp nhận quyết định về chế tạo hệ thống từ 2 tàu. Tàu tên lửa và phòng không – đề án 956 và tàu chống ngầm chuyên dụng được chế tạo trong sự phát triển tàu chống ngầm lớn đề án  1135 và nhận số hiệu đề án 1155. Theo thực chất, việc chế tạo này nhằm sử dụng hoạt động phối hợp của đề án 956 và tàu chống ngầm lớn đề án 1155 trong biên chế cụm tàu chiến.

Tàu trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu mới nhất “Moskit” với 2 thùng 4 ống phóng tên lửa thay cho tên lửa chống tàu P-15 dự kiến lúc đầu. Hệ thống điều khiển tên lửa chủ - thụ động “Mineral” được bố trí trong nắp chụp trên nóc thượng tầng mũi tàu. Pháo chính đa năng 130mm AK-130 được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu trên biển, trên không và trên bờ, đài MR-184 được sử dụng để điều khiển chúng. Một trong những điểm mới – đài định vị quang học, nằm ở bộ phận mũi giữa đài chỉ huy và thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không, và được kết hợp (tích hợp) trong đó máy đo xa laze và máy định vị để điều khiển bắn pháo và chỉ thị mục tiêu. Hệ thống phòng không ngoài thiết bị pháo đa năng nòng đôi 130mm tốc độ caovaf 2 cụm pháo 5 nòng 30mm thuộc tổ hợp AK-630 đã được tăng cường đáng kể do sự xuất hiện tổ hợp tên lửa phòng không tập thể M-22 “Uragan” với 2 thiết bị phóng dầm đơn (bệ) và hệ thống dẫn bắn đa kênh gồm 6 trạm ăng ten. Hang ga cho việc đỗ tạm thời của trược thăng chống ngầm Ka-27 được bố trí sau cột buồm chính cao hơn đáng kể so với boong chính, được chế tạo trong dạng xếp – mở được do sự thiếu không gian tự do.

Vũ khí chống ngầm của tàu khu trục gồm có 2 thiết bị ngư lôi 533mm 2 ống phóng và 2 máy phóng bom phản lực 6 nòng RBU-1000 (đồng thời làm nhiệm vụ chống ngầm). Đài thủy âm định vị không lớn “Platina-S” được bố trí trong bộ phận hình cầu ở mũi, đồng thời có đài chuyên dụng MG-7 để phát hiện tàu ngầm biệt kích.

Trên cột buồm mũi bố trí đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M” và các khí tài kỹ thuật vô tuyến điện khác. Cột buồm chính được chế tạo tinh vi và sử dụng chủ yếu để bố trí khí tài thong tin lien lạc và tác chiến điện tử.

Các tàu khu trục đề án 956 là các tàu thế hệ thứ 3 duy nhất trên thế giới với thiết bị tuabin nồi hơi (ban đầu trong đề án dự kiến lắp thiết bị tuabin khí). Thiết bị năng lượng tuabin nồi hơi của tàu cho phép đạt tốc độ tối đa – hơn 30 hải lý. Các nồi hơi nước áp suất cao có khối lượng riệng thấp (theo so sánh với các mẫu trước) và hệ số hoạt động hiệu quả tăng trong tải trọng hoàn toàn. Tuy nhiên sau đó xuất hiện các nhược điểm: giảm hệ số hoạt động hiệu quả trong tải trọng thấp, trung bình và tuổi thọ thấp, đồng thời khai thác sử dụng phức tạp, yêu cầu nghiệp vụ cao. Sự hạn chế tài chính của Bộ Quốc phòng trong những năm 1990 đã dẫn tới rằng mọt bộ phận tàu cần sửa chữa rõ rang thiết bị năng lượng chính đã bị loại khỏi biên chế Hải quân. Để đảo bảo năng lượng điện, tàu khu trục có 2 máy phát điện tuabin và 4 máy phát điện diesel.

Loạt bài khác về tàu khu trục đề án 956 "Sovremenny"

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,11920.msg303286.html#msg303286
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #82 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:07:37 am »


Phóng tên lửa phòng không điều khiển 9M38 "Uragan" từ tàu khu trục "Besstrasnưi" (hiện nay là "Đô đốc Ushakov")



Vận chuyển tên lửa chống tàu có cánh "Moskit" lên tàu khu trục đề án 956-A



Sự khởi động tên lửa chống tàu có cánh "Moskit" từ tàu khu trục "Besstrasnưi"



Thiết bị phóng ở mũi tàu của tổ hợp tên lửa phòng không M-22 "Uragan" trên tàu khu trục đề án 956-A
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #83 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:09:20 am »


Bố cục vũ khí trên các tàu khu trục đề án 956

1. Thiết bị pháo nòng đôi 130mm AK-130

2. Các thiết bị phóng 1 bệ của tổ hợp tên lửa phòng không M-22 “Uragan”

3. Khí tài nhìn – đo xa DBU-2

4. Các thiết bị phóng 4 ống của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Moskit”

5. Thiết bị pháo 6 nòng 30mm thuộc tổ hợp pháo phòng không AK-630

6. Các trạm ăng ten đài ra đa định vị MR-700 điều khiển bắn cho tổ hợp tên lửa phòng không “Uragan”

7. Các thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm

8. Đài ra đa định vị chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Mineral”

9. Đài ra đa định vị MR-184 “Lev” điều khiển bắn pháo 130mm

10. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi “Volga”

11. Đài ra đa định vị ba tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M”

12. Đài ra đa định vị MR-123 “Vưmpel” điều khiển bắn tổ hợp pháo phòng không 30mm

13. Hang ga di động cho trực thăng chống ngầm Ka-27

14. Bãi cất – hạ cánh trực thăng

15. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000

16. Rãnh dẫn hướng thả mìn

17. Các thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-2.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #84 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:10:17 am »

Các biến thể


Trên các tàu thứ 4 và thứ 5 đã lắp đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M2” với lưới ăng ten mảng pha, đồng thời hiện đại hóa không đáng kể các khí tài khác. Bắt đầu từ tàu thứ 6 được lắp đài ra đa định vị MR-750 “Fregat-MA”. Bắt đầu từ tàu thứ 14, các tàu khu trục được trang bị khí tài vô tuyến điện và đạo hàng mới.

Sau khi ký hợp đồng với Trung Quốc năm 1997, 2 tàu (số hiệu xưởng 878 và 879) đã được đóng tiếp theo đề án xuất khẩu 956-E, thiết kế ở Phòng thiết kế thí nghiệm phương Bắc cho Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Chúng khác biệt chủ yếu so với các tàu trong Hải quân Nga ở sự sử dụng các hệ thống vũ khí: tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit-E”, tổ hợp tên lửa phòng không “Shitl”, đài ra đa định vị “Fregat-M2EM”… Hai tàu này đã gia nhập biên chế Hải quân Trung Quốc trong những năm 1999 và 2000.

Tàu cuối cùng (số hiệu xưởng 880) được đóng theo đề án 956-U với vũ khí được tăng cường (tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Moskit-M” với tầm bắn tăng cường), nhưng việc đóng nó bị dừng vào đầu những năm 1990. Các thí nghiệm tên lửa chống tàu “Moskit-M” vào tháng 7 năm 2004 được thực hiện trên tàu khu trục “Besstrashnưi” (hiện nay là “Đô đốc Ushakov”).

Năm 2002, Nga đã ký hợp đồng mới với Trung Quốc mua them 2 tàu khu trục. Nhưng lần này các tàu được hiện đại hóa một cách đáng kể và nhận tên gọi 956-EM. Trên tàu, thành phần vũ khí được thay đổi (tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Moskit-ME”, tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kashtan”….), kiến trúc thượng tầng được bố cục lại. Hai tàu được khởi công trên ụ xưởng “Phương Bắc” ở Saint Peterburg năm 2002.

Chương trình đóng tàu

Mười chính (19) tàu được đóng ở xưởng đóng tàu số 190 mang tên A.A.Zhdanov (xưởng phương Bắc) tại Leningrad từ năm 1976. Tới thời điểm này ở Sanit Peterburg, trên xưởng này vẫn còn một thân tàu (số 20) không được đóng. Ngoài ra, xưởng còn có các khối thân chưa được khởi công trên ụ của thêm 2 tàu nữa, nhưng vào năm 1994, chúng bị loại khỏi kế hoạch đóng, sau đó trở thành phế liệu. Tàu khu trục “Vnushitelnưi” được khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 200) tại Nikolaev, nhưng nhanh chóng dừng đóng và năm 1997 trở thành kho nổi trong xưởng.

Hai tàu (số 18 – “Ekaterinburg” và 19 “Alecsandr Nevski”) sau thời gian dài trong xưởng đã được đóng tiếp theo đề án xuất khẩu 956-E cho Hải quân Trung Quốc. Hợp đồng bán được ký 19 tháng 11 năm 1997, còn năm 1999, tàu đầu tiên đã được bàn giao cho ủy ban và gia nhập biên chế Hải quân Trung Quốc (cả 2 tàu – Hạm đội Đông Hải). Khi đó, các tàu khu trục đã thực hiện cuộc di chuyển chưa từng có qua 13 biển và 3 đại dương mà không có bất kỳ sự hỗ trợ kỹ thuật nào. Trong thời gian những năm trước đã nghiên cứu đóng thêm cho Trung Quốc thêm 2 tàu vào đầu năm 2002. Cơ quan độc quyền thuộc nhà nước Liên bang “Rosoboronexport” đã ký hợp đồng với Bộ Quốc phòng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đóng 2 tàu khu trục mới đề án 956-EM. Các tàu được khởi công tháng 6 và tháng 11 năm 2002 ở xưởng đóng tàu “phương Bắc”. Theo các đánh giá sơ bộ, các tàu mới sẽ được bàn giao cho đối tác vào giữa năm 2006. Tổng giá trị hợp đồng ký với nước ngoài, theo các đánh giá khác từ 1 đến 1,4 tỷ USD.

Tình hình năm 2005

Trong biên chế Hải quân Nga còn 11 tàu thuộc đề án này, trong đó 5 – Phương Bắc, 2 – Baltic và 4 – Thái Bình Dương. Các tàu khu trục bị loại khỏi biên chế có thể tiếp tục phục vụ, nhưng do không có tài chính nên kế hoạch sửa chữa đã không được thực hiện và bộ phận vật liệu của các tàu này nhanh chóng xuống cấp và không sử dụng được.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #85 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:10:56 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ
(* - còn trong biên chế)

+ “Sovremennưi” (số hiệu xưởng 861); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 5 năm 1975; khởi công 3 tháng 3 năm 1976 ở xưởng số 190 (“xưởng phương Bắc”); hạ thủy 18 tháng 11 năm 1978; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1980; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 24 tháng 1 năm 1981; 6 tháng 12 năm 1989 mang đi đại tu ở Murmansk, do không đủ tài chính chỉ neo đậu và không sửa chữa trong gần 10 năm và tháng 11 năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Otchayannưi” (số hiệu xưởng 862); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 5 năm 1975; khởi công 4 tháng 3 năm 1977 ở xưởng số 190; hạ thủy 29 tháng 3 năm 1980; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1992; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 24 tháng 11 năm 1982; 2-6 tháng 5 năm 1985 tới thăm Algieri; 26 tháng 6 năm 1992 đưa đi đại tu ở Murmansk nhưng sau đó đưa vào danh sách dự bị và sau đó loại khỏi biên chế Hải quân.

+ “Otlichnưi” (số 863); ghi tên vào danh sách Hải quân 14 tháng 4 năm 1978; khởi công 22 tháng 4 năm 1978 ở xưởng số 190; hạ thủy 21 tháng 3 năm 1981; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1983; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 15 tháng 12 năm 1983; 28 tháng 12 năm 1984 – 2 tháng 1 năm 1985 tới thăm Havana (Cuba); 21-25 tháng 7 năm 1989 – tới Norfolk (Mỹ); cuối những năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân.

+ “Osmotritelnưi” (số hiệu xưởng 864); ghi tên vào danh sách Hải quân 14 tháng 4 năm 1974; khởi công 27 tháng 10 năm 1978 ở xưởng số 190; hạ thủy 24 tháng 4 năm 1982; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1984; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 7 tháng 12 năm 1984; năm 1985 hoàn thành cuộc hành quân từ Baltic tới Vladivostoc, có ghé qua Luanda (Angola), Aden (Nam Yemen) và Cam Ranh (Việt Nam); trong những năm 1990 đưa đi neo đậu, nhưng việc sửa chữa không được thực hiện và sau đó loại khỏi biên chế, giải thể và tháo kim loại.

+ (*) “Bezuprechnưi” (số hiệu xưởng 865); ghi tên vào danh sách Hải quân 21 tháng 2 năm 1979; khởi công năm 1980 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 8 năm 1983; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1985; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 7 tháng 1 năm 1986; 2-5 tháng 6 năm 1984 tới thăm Tripoli (Libia); 9-13 tháng 7 năm 1990 – tới Portmouth (Anh); 20-24 tháng 2 năm 1991 – tới Alecsandria (Ai Cập); 3 tháng 11 năm 1993 neo đậu để đại tu ở vịnh Pala tại xưởng số 190.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #86 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:11:26 am »

+ (*) “Boevoi” (số hiệu xưởng 866); ghi tên vào danh sách Hải quân 21 tháng 2 năm 1979; khởi công 26 tháng 3 năm 1982 ở xưởng số 190; hạ thủy 8 tháng 4 năm 1984; gia nhập biên chế 28 tháng 9 năm 1986; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 5 tháng 11 năm 1986; 18-23 tháng 11 năm 1987 tới thăm Aden (Nam Yemen); 12-16 tháng 5 năm 1988 – tới Wonsan (Hàn Quốc); 31 tháng 7 – 4 tháng 8 năm 1990 – tới San Diego (Mỹ); 25 tháng 11 năm 1993 đưa đi đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc.

+ “Stoiki” (số hiệu xưởng 867); ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 8 năm 1981; khởi công 28 tháng 9 năm 1982 ở xưởng số 190; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1985; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1986; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 24 tháng 2 năm 1987; 22 tháng 10 năm 1993 đưa đi đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc, nhưng do không đủ tài chính phải đi neo đậu; đầu tháng 4 năm 1999 bị đánh đắm và sau đó giải thể, loại khỏi biên chế vào tháo kim loại.

+ “Okrưlennưi” (số hiệu xưởng 868); ghi tên vào danh sách Hải quân 5 tháng 11 năm 1982; khởi công 16 tháng 4 năm 1983 ở xưởng số 100; hạ thủy 31 tháng 5 năm 1986; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1987; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 19 tháng 12 năm 1988; cuối những năm 1990 đưa đi neo đậu.

+ (*) “Burnưi” (số hiệu xưởng 869); ghi tên vào danh sách Hải quân 11 tháng 4 năm 1983; khởi công năm 1984 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 2 năm 1987; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1988; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 9 tháng 11 năm 1988.

+ (*) “Vedusi” (số hiệu xưởng 870); từ 18 tháng 8 năm 1988 là “Gremyasi”; ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 10 năm 1984; khởi công 23 tháng 11 năm 1984 ở xưởng số 190; hạ thủy 30 tháng 5 năm 1987; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1988; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 1 tháng 5 năm 1989; 25 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1990 tới thăm Havana (Cuba); 25 tháng 5 – 1 tháng 6 năm 1993 tham gia lễ kỷ niệm ở Liverpool (Anh) kỷ niệm 50 năm “trận đánh trên Đại Tây Dương”; từ 18 tháng 8 năm 1988 mang cơ Cận vệ Hải quân, thừa hưởng từ tàu khu trục cùng tên trong đề án số 7 thuộc Hạm đội Phương Bắc và tàu chống ngầm lớn đề án 57-A trong Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #87 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:11:40 am »

+ (*) “Bưstrưi” (số hiệu xưởng 871); ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 10 năm 1984; khởi công 29 tháng 10 năm m1985 ở xưởng số 190; hạ thủy 28 tháng 11 năm 1987; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1989; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 31 tháng 10 năm 1989; 5-8 tháng 6 năm 1990 tới thăm Kil (Cộng hòa Liên bang Đức); 23-30 tháng 8 năm 1993 p tới Thanh Đảo (Trung Quốc); 31 tháng 8 – 4 tháng 9 năm 1993 – tới Pusan (Cộng hòa Triều Tiên).

+ (*) “Rastoropnưi” (số hiệu xưởng 872); ghi tên vào danh sách Hải quân 21 tháng 3 năm 1985; khởi công 15 tháng 8 năm 1986 ở xưởng số 190; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1988; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1989; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 28 tháng 2 năm 1990; 1-15 tháng 10 năm 1993 tới thăm Tulon (Pháp).

+ (*) “Bezboyazennưi” (số hiệu xưởng 873); ghi tên vào danh sách Hải quân 26 tháng 11 năm 1986; khởi công năm 1987 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 3 năm 1989; gia nhập biên chế 28 tháng 11 năm 1990; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 29 tháng 12 năm 1990; 15-19 tháng 6 năm 1991 tới thăm Antwerpen (Bỉ).

+ (*) “Bezuderzhnưi” (số hiệu xưởng 874); ghi tên vào danh sách Hải quân 26 tháng 11 năm 1986; khởi công năm 1987 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 6 năm 1990; gia nhập biên chế 25 tháng 6 năm 1991; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 11 tháng 7 năm 1991; 26-31 tháng 5 năm 1993, tham gia lễ kỷ niệm ở New York (Mỹ) kỷ niệm 50 năm trận đánh trên “Đại Tây Dương”.

+ (*) “Bespokoinưi” (số hiệu xưởng 875); ghi tên vào danh sách Hải quân 26 tháng 11 năm 1986; khởi công năm 1988 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 6 năm 1990; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1991; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 11 tháng 2 năm 1992.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #88 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:12:26 am »

+ (*) “Đoàn viên thanh niên cộng sản Moskva” (số hiệu xưởng 876); từ 15 tháng 2 năm 1992 là “Nastoichivưi”; ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 12 năm 1987; khởi công năm 1989 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 6 năm 1991; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1992; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 5 tháng 2 năm 1993; 19-26 tháng 6 năm 1993 tới thăm Kil và 28 tháng 6 – 2 tháng 7 năm 1993 – tới Wilhemshafen (Cộng hòa liên bang Đức).

+ (*) “Besstrashnưi” (số hiệu xưởng 877); từ mùa hè năm 2004 là “Đô đốc Ushakov”; ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 12 năm 1987; khởi công 6 tháng 5 năm 1988 ở xưởng số 190; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1991; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1993; gia nhập biên chế 21 tháng 1 năm 1994 và 17 tháng 4 năm 1994 kéo cờ Thánh Anderi; 16 tháng 8 năm 1994 hoàn thành cuộc hành quyên xuyên Hạm đội từ Baltic tới biển Bắc; từ 5 tháng 5 năm 1995 đến 10 tháng 5 năm 1995 tới thăm chính thức Oslo (Na Uy); từ 21 tháng 12 anwm 1995 tới 3 tháng 4 năm 1996 làm nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải; 29 tháng 1 năm 1996 ghé vào Tartus (Siry); 17 tháng 2 năm 1996 thăm chính thức La-Waletta (Malta); tháng 10 năm 1997 thăm chính thức Portmourth (Anh); từ tháng 6 năm 2000 đến tháng 7 năm 2003 trải qua sửa chữa ở xưởng “Zvedochka” tại Severmorsk; từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2004 – trực chiến ở đông – bắc Đại Tây Dương.

+ “Vnushitelnưi” (số hiệu xưởng 2211); ghi tên vào danh sách Hải quân 11 tháng 4 năm 1983; khởi công 30 tháng 8 năm 1983 ở xưởng số 200; nhưng nhanh chóng bị dừng đóng; 17 tháng 10 năm 1987 và trở thành kho nổi trong xưởng, sau đó bị tháo kim loại.

+ (*) “Vazhnưi” (số hiệu xưởng 878); sau đó là “Ekaterinburg”; khởi công năm 1998 ở xưởng số 190; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1991, đóng tiếp theo đề án 956-E trong tình trạng nổi; gia nhập biên chế tháng 12 năm 1989 và bán cho Trung Quốc, nhận tên gọi “Hàng Châu” (số hiệu 136) và gia nhập biên chế Hạm đội Đông Hải.

+ (*) “Vdumchivưi” (số hiệu xưởng 879); từ 30 tháng 8 năm 1995 là “Alecsandr Nevski”; khởi công năm 1988 ở xưởng số 190; hạ thủy năm 1992; đóng tiếp theo đề án 956-A trong tình trạng nổi cho Trung Quốc; gia nhập biên chế tháng 12 năm 2000 và bán cho Trung Quốc, nhận tên “Phúc Châu” (số hiệu 137) và gia nhập biên chế Hạm đội Đông Hải.

+ Thân tàu số 20 (số hiệu xưởng 880); khởi công năm 1992 ở xưởng số 190; dừng đóng khi tình trạng sẵn sàng về kỹ thuật là 20%.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #89 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 12:13:26 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 6500

+ hoàn toàn: 7940

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 156,37 (145)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 17,19 (16,8)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 7,79 (5,96)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KVN-98/64-11, 2 tuabin hơi nước tổng công suất, sức ngựa (kW):  99 500 (73 100)

+ các máy phát điện diesel, công suất, (kW): 4x600

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x 1250

2 trục; 2 chân vịt; 2 bánh lái

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 33,4

+ tiết kiệm năng lượng: 18,4

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 2400 (32)

+ 4500 (18,4)

Thời gian hoạt động, ngày (30)

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 344 (31).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM