Đề án 956 “Sarưch” – Lớp “Sovremenny”
Tổng số tàu đã đóng: 18+2
Các biến thể
+ 956 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1980)
+ 956-A – đề án sản xuất hàng loạt với các khí tài vô tuyến điện và đạo hàng mới (1991)
+ 956-E – đề án sản xuất hàng loạt xuất khẩu cho Hải quân Trung Quốc (1989)
+ 956-U – đề án với vũ khí tăng cường (không được đóng)
+ 956-EM – đề án nâng cấp cho Hải quân Trung Quốc với thành phần vũ khí mới (2005).
Các tàu đề án 956 đánh dấu sự khôi phục lớp tàu khu trục ngư lôi sau 20 năm gián đoạn. Đây là các tàu khu trục duy nhất trong toàn bộ lịch sử Hải quân Liên Xô được tính (xếp) một cách chính thức vào các tàu cấp 1. Khi chuẩn bị các nhiệm vụ kỹ chiến thuật được đưa ra trong năm 1970, đề án lúc đầu dự định như tàu pháo – tên lửa có lượng choán nước gần 5000 tấn để đảm bảo đổ bộ cho Hải quân đánh bộ, nhưng sau đó đã làm cho nó trở nên đa năng hơn theo nhiệm vụ để tàu có thể hoạt động không chỉ trong biên chế cụm tàu, mà còn hoạt động độc lập. Đặc biệt, đối với đề án 956 đã bắt đầu chế tạo pháo 130mm.
Việc thiết kế được thực hiện từ năm 1971 ở Leningrad bởi tập thể các giáo sư do V.Yukhin đứng đầu trong Phòng thiết kế thí nghiệm phương Bắc, Tổng công trình sư I.I.Rubis, giám sát viên chính từ Hải quân là thuyền trưởng cấp 1 I.M.Stetsyura, sau đó – thuyền trưởng cấp 2 V.G.Basov. Theo thiết kế thân, tàu có cấu trúc dạng nửa thùng với sự bố trí đối xứng pháo và tổ hợp tên lửa phòng không. Khi có vũ khí tấn công mạnh, tàu khu trục đề án 956 được trang bị các khí tài chống ngầm, chỉ đảm bảo bảo vệ tàu khỏi tàu ngầm. Khi tính toán các điểm này, đã tiếp nhận quyết định về chế tạo hệ thống từ 2 tàu. Tàu tên lửa và phòng không – đề án 956 và tàu chống ngầm chuyên dụng được chế tạo trong sự phát triển tàu chống ngầm lớn đề án 1135 và nhận số hiệu đề án 1155. Theo thực chất, việc chế tạo này nhằm sử dụng hoạt động phối hợp của đề án 956 và tàu chống ngầm lớn đề án 1155 trong biên chế cụm tàu chiến.
Tàu trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu mới nhất “Moskit” với 2 thùng 4 ống phóng tên lửa thay cho tên lửa chống tàu P-15 dự kiến lúc đầu. Hệ thống điều khiển tên lửa chủ - thụ động “Mineral” được bố trí trong nắp chụp trên nóc thượng tầng mũi tàu. Pháo chính đa năng 130mm AK-130 được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu trên biển, trên không và trên bờ, đài MR-184 được sử dụng để điều khiển chúng. Một trong những điểm mới – đài định vị quang học, nằm ở bộ phận mũi giữa đài chỉ huy và thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không, và được kết hợp (tích hợp) trong đó máy đo xa laze và máy định vị để điều khiển bắn pháo và chỉ thị mục tiêu. Hệ thống phòng không ngoài thiết bị pháo đa năng nòng đôi 130mm tốc độ caovaf 2 cụm pháo 5 nòng 30mm thuộc tổ hợp AK-630 đã được tăng cường đáng kể do sự xuất hiện tổ hợp tên lửa phòng không tập thể M-22 “Uragan” với 2 thiết bị phóng dầm đơn (bệ) và hệ thống dẫn bắn đa kênh gồm 6 trạm ăng ten. Hang ga cho việc đỗ tạm thời của trược thăng chống ngầm Ka-27 được bố trí sau cột buồm chính cao hơn đáng kể so với boong chính, được chế tạo trong dạng xếp – mở được do sự thiếu không gian tự do.
Vũ khí chống ngầm của tàu khu trục gồm có 2 thiết bị ngư lôi 533mm 2 ống phóng và 2 máy phóng bom phản lực 6 nòng RBU-1000 (đồng thời làm nhiệm vụ chống ngầm). Đài thủy âm định vị không lớn “Platina-S” được bố trí trong bộ phận hình cầu ở mũi, đồng thời có đài chuyên dụng MG-7 để phát hiện tàu ngầm biệt kích.
Trên cột buồm mũi bố trí đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M” và các khí tài kỹ thuật vô tuyến điện khác. Cột buồm chính được chế tạo tinh vi và sử dụng chủ yếu để bố trí khí tài thong tin lien lạc và tác chiến điện tử.
Các tàu khu trục đề án 956 là các tàu thế hệ thứ 3 duy nhất trên thế giới với thiết bị tuabin nồi hơi (ban đầu trong đề án dự kiến lắp thiết bị tuabin khí). Thiết bị năng lượng tuabin nồi hơi của tàu cho phép đạt tốc độ tối đa – hơn 30 hải lý. Các nồi hơi nước áp suất cao có khối lượng riệng thấp (theo so sánh với các mẫu trước) và hệ số hoạt động hiệu quả tăng trong tải trọng hoàn toàn. Tuy nhiên sau đó xuất hiện các nhược điểm: giảm hệ số hoạt động hiệu quả trong tải trọng thấp, trung bình và tuổi thọ thấp, đồng thời khai thác sử dụng phức tạp, yêu cầu nghiệp vụ cao. Sự hạn chế tài chính của Bộ Quốc phòng trong những năm 1990 đã dẫn tới rằng mọt bộ phận tàu cần sửa chữa rõ rang thiết bị năng lượng chính đã bị loại khỏi biên chế Hải quân. Để đảo bảo năng lượng điện, tàu khu trục có 2 máy phát điện tuabin và 4 máy phát điện diesel.
Loạt bài khác về tàu khu trục đề án 956 "Sovremenny"
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,11920.msg303286.html#msg303286