Tàu tuần tra kiểu “Bditelnưi” – Đề án 1135 “Burevestnik” – Lớp Krivak
Tổng số tàu đã đóng: 21
Các biến thể
+ 1135 (lớp Krivak-I) – đề án cơ sở tàu tuần tra trên đại dương với tuabin khí (1970)
+ 1135-M (lớp Krivak-II) – thay thiết bị AK-726 đã lắp thiết bị pháo 100mm AK-100, đài thủy âm mới “Titan-2T” (1975)
+ 11351 (lớp Krivak-III) – tàu tuần tra biên phòng với thành phần vũ khí mới
+ 11352 (biến thể lớp Krivak-I) – thay RBU bằng tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Uragan”, cải tiến các khí tài các chiến điện tử (những năm 1980)
+ 11353 (biến thể lớp Krivak-I) – tàu tuần tra nâng cấp với tổ hợp thủy âm mới “Zvezda-MG” (1984).
Khi phát triển hàng loạt các tàu ngầm, tàu hoạt động trên đại dương và tàu lớn các đề án 1134-A và 1134-B, lãnh đạo Hải quân đã quyết định bắt đầu thiết kế tàu chống ngầm loại lớn kích thước nhỉ để đảm bảo phòng thủ chống ngầm và phòng không trong cụm tàu và tìm kieemstauf ngầm trên khu vực biển mở (rộng), nơi mà hiệu quả hoạt động của các tàu tuần tra đề án 159 và đề án 35 là không đảm bảo. Năm 1964, nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế tàu chống ngầm lớn cấp II đã được giao cho Phòng thiết kế Phương Bắc – đề án 1135 dưới số hiệu “Burevestnik”. Chế tạo đề án tàu có lượng choán nước tương đối không lớn, có khả năng giải quyết phạm vi rộng các nhiệm vụ dẫn đoàn tàu vận tải trong khu vực xung đột vũ trang cục bộ và bảo vệ lãnh hải đã được giao cho tập thể giáo sư V.Yukhin, Tổng công trình sư là N.P.Sobolev, giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 I.M.Stetsyur. Việc thiết kế tàu đã kết thúc năm 1966.
Khi so sánh lượng choán nước tiêu chuẩn bị hạn chế trong 2800 tấn, tàu có vũ khí chống ngầm đủ mạnh gồm thiết bị phóng 4 ống tên lửa chống ngầm “Metel”, 2 thiết bị ngư lôi 4 ống phóng 533mm và 2 RBU-6000. Tàu chống ngầm lớn có trang bị thủy âm tương tự như tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B: đài thủy âm “Titan-2” trong mũ chụp hình cầu và đài thủy âm lai “Vega”. Ngoài ra, có 2 đài phát hiện tàu ngầm theo vết rẽ nước. Vũ khí phòng không gồm có: 2 tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” (tổng cơ số đạn 40 tên lửa) và 2 thiết bị pháo đa năng nòng đôi 76,2mm AK-726 với 1 đài ra đa định vị điều khiển “Turel”. Trong vai trò đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp, trên tàu sử dụng đài ra đa định vị “Angara”. Tàu đề án 1135 không có vũ khí tên lửa tấn công và chỉ có thể tiêu diệt các mục tiêu nổi bằng pháo (rất yếu) và ngư lôi. Cuối cùng, tầm phát hiện tàu ngầm bằng thủy âm thấp hơn rất nhiều so với tầm bắn của tên lửa chống ngầm. Nếu trên các đề án 1134-A và 1134-B để dò tìm tàu ngầm trên tầm xa lớn có trực thăng Ka-25, thì trên tàu này không có. “Các nhà lý luận” khi đó tính toán việc sử dụng tàu hoạt động theo các cặp: 1 tàu dò tìm, còn tàu thứ hai tấn công và theo cách đó sẽ tận dụng được toàn bộ tầm bắn của ngư lôi chống ngầm. Để chứng minh lý thuyết đặc sắc này cần viết hết một quyển luận văn khoa học. Ý kiến chế tạo chuyên môn hóa theo các nhiệm vụ của tàu trong trường hợp này đã đi tới vô nghĩa, trong kết quả chế tạo tàu chuyên dụng theo chiến thuật tiếp nhận chiến đấu. Rõ ràng khi biết việc này, Tư lệnh Hải quân đã bày tỏ quan điểm rằng các tàu này… “sẽ có nhiệm vụ hoạt động cùng với không quân chống ngầm, cụ thể, với các trực thăng chống ngầm đóng căn cứ trên bờ”. Chỉ sau khi tiếp nhận vào trang bị tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển “Rastrub-B” (thay cho “Metel”), có khả năng tiêu diệt mục tiêu nổi, hệ thống vũ khí trên tàu mới nhận được sự cân bằng hơn.
Tàu tuần tra (như nó được phân loại từ năm 1977) đề án 1135 có cấu trúc nửa thùng với thành nổi tương đối cao, cho phép nó hoạt động (chống chịu) trên biển tốt khi có sóng lớn. Tuy nhiên, sự bố trí pháo và vũ khí không được xem là thành công. Nó ở trong cấp đội gợi lại sự bố trí trên tàu tuần dương tên lửa đề án 58: ở bộ phận mũi bố trí thiết bị phóng dẫn bắn tên lửa chống tàu điều khiển “Metel” (1x4), còn cuối mạn tàu – 2 thiết bị pháo (như đề án 58). Tổ hợp tên lửa phòng không được bố trí thành công hơn – theo 1 tổ hợp ở mũi và mạn tàu.
Trong vai trò thiết bị năng lượng chính đã tiếp nhận thiết bị tuabin khí – khí M-7 tương tự M-5 được lắp trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B, nhưng chỉ với 1 tuabin khí tăng lực trên mỗi trục. Nhờ thiết bị đặc biệt của bộ truyền động đã đảm bảo hoạt động của một động cơ hành trình trên 2 trục. Đồng thời như thiết bị năng lượng chính của đề án 1134-B, các tuabin khí có bộ (sự) đảo chiều khí, cho phép nhận được tầm bơi xa hơn 4000 dặm trong tốc độ tiết kiệm năng lượng.
Trong tổng thể, tàu tuần tra đề án 1135 đã nhận được và có các chất lượng cơ động trên biển tốt. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng, khả năng cơ động trên biển của “Burevesnik” theo sự dụng vũ khí cho phép ở sóng cấp 5, còn đài thủy âm lai có thể sử dụng khi sóng cấp 4. Ở phương Tây, tàu này nhận tên gọi “lớp Krivak-I”.
Nếu so sánh tàu tuần tra đề án 1135 và các biến thể của nó với tàu tương tự của nước ngoài, thì có thể nhấn mạnh rằng chúng nếu thua kém về khả năng chống ngầm thì không nhiều (các tàu chiến Mỹ lớp “Nosk có đài thủy âm tốt hơn, nhưng tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển tầm xa kém hơn), còn khả năng phòng không của các tàu Liên Xô thậm chí còn cao hơn (chỉ có 6 tàu chiến Mỹ lớp “Bruc” mạnh hơn). Tuy nhiên, thiếu vũ khí phòng không và pháo yếu (đặc biệt trên đề án 1135) đã giảm đáng kể khả năng chiến đấu của tàu Liên Xô. Việc nâng cấp được thực hiện trong những năm 1970 và trang bị thêm của nhiều tàu chiến Mỹ và Anh bằng tổ hợp tên lửa phòng không lớp “Sea Sparow”, tên lửa chống tàu có cánh “Harpoon” và “Excocet”, các trực thăng đa năng đã dẫn tới sự thua thiệt rất lớn cho các tàu tuần tra đề án 1135. Cuối cùng, việc đóng ở Mỹ dòng tàu lớn (theo kế hoạch 86 tàu) chiến phòng không đa năng lớp “Oliver H.Perri” đã dẫn tới sự tụt hậu lớn về chất lượng của các tàu tuần tra Liên Xô.